Thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi lợn theo hướng VietGAHP tại xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên - Pdf 28

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cám ơn và
các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả khóa luận
Đỗ Quang Hào
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn; Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS. Nguyễn Viết Đăng
là người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Đình Dù, ban thú y xã Đình Dù
Trạm thú y huyện Văn Lâm và các hộ chăn nuôi trên địa bàn xã Đình Dù đã
giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè,
những người đã khích lệ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội ngày… tháng … năm 2014
Ký tên
Đỗ Quang Hào
ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Ngày 28-1-2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tiêu
chuẩn VietGAHP (Vietnamese Good Animal Husbandry Practices) là tên gọi
tắt của Thực hành chăn nuôi tốt ở Việt Nam. Là những nguyên tắc, trình tự,

chăn nuôi lợn áp dụng quy trình VietGAHP đến năm 2020.
Trong đề tài cúng tôi có tìm hiểu một số khái niệm liên quan đên hộ
nông dân, phát triển, tiêu chuẩn VietGAHP, đặc điểm của chăn nươi lợn theo
hướng VietGAHP. Đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm chăn nuôi của một số mô
hình chăn nuôi an toàn khác của một sô nước trên thế giới và tìm hiểu tình
hình chăn nuôi áp dụng VietGAHP ở một số tỉnh thành lớn của nước ta như
Thanh Hóa, Đồng Nai, từ đó rút ra kinh nghiệm để áp dụng vào thực tiện phát
triển chăn nuôi lợn theo hướng VietGAHP tại xã Đình Dù.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu là phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập
thông tin, số liệu, phương pháp phân tích thông tin số liệu, chọn mẫu điều tra.
Qua quá trình điều tra nghiên cứu chúng tôi thu được kết quả như sau:
Qua quá trình tìm hiểu thực tế cho thấy tình hình chăn nuôi theo hướng
VietGAHP trên địa bàn xã đã được triển khai rộng rãi có tới 100 hộ tham gia
trên tổng số 230 hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn xã.
Chăn nuôi lợn theo hướng VietGAHP vừa phát huy được lợi thế chăn
nuôi của xã Đình Dù vừa giúp hộ nông dân chăn nuôi lợn hiệu quả kinh tế cao
hơn, vừa đáp ứng thị trường tiêu thụ thịt lợn an toàn và chất lượng cho người
tiêu dùng vừa đảm bảo sức khỏe cho người chăn nuôi và đảm bảo an sinh xã
hội môi trường.
iv
Đa số việc thực hiện các tiêu chí về chuồng trại thiết bị chăn nuôi, môi
trường, vệ sinh chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP các hộ nông dân đều
thực hiện khá tốt.
Tuy nhiên những việc liên quan đến ghi chép trong chăn nuôi hầu như
tất cả các hộ đều không thực hiện mặc dù không tốn kém về chi phí.
Sản xuất chưa gắn chặt với chế biến, giết mổ. Người tiêu dùng vẫn trên
toàn xã vẫn chưa biết đến thịt lợn an toàn vệ sinh thực phẩm. Thương hiệu thịt
lợn chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP là chưa phổ biến ở Việt Nam nói
chung và xã Đình Dù nói riêng. Trình độ các chủ hộ chăn nuôi chưa được

Bảng 4.6 Tình hình sử dụng chuồng trại của hộ điều tra Error: Reference
source not found
Bảng 4.7 Tình hình đầu tư vốn cho chăn nuôi của hộ điều tra Error:
Reference source not found
Bảng 4.8 Nguồn cung cấp con giống của hộ điều tra Error: Reference
source not found
Bảng 4.9 Chi phí sử dụng thức ăn các hộ điều tra ( tính cho 1 kg lợn hơi)
Error: Reference source not found
Bản 4.10 Lịch trình tiêm phòng cho lợn tại xã Đình Dù Error: Reference
source not found
Bảng 4.11 Tình hình dịch bệnh trong hộ điều tra năm 2014.Error: Reference
source not found
vii
Bảng 4.12 Tình hình thực hiện tiêu chuẩn địa điểm, chuồng trại, kho và
thiết bị chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP Error: Reference
source not found
Bảng 4.13 Tình hình thực hiện tiêu chuẩn quản lý con giống, đàn lợn, thức
ăn nước uống và vệ sinh chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP
Error: Reference source not found
Bảng 4.14 Tình hình thực hiện tiêu chuẩn quản lý dịch bệnh, bảo quản và sử
dụng thuốc thú y, phòng trị bệnh theo tiêu chuẩn VietGAHP
Error: Reference source not found
Bảng 4.15 Tình hình thực hiện tiêu chuẩn quản lý chất thải bảo vệ môi
trường và kiểm soát côn trùng theo tiêu chuẩn VietGAHP. .Error:
Reference source not found
Bảng 4.16 Tình hình thực hiện tiêu chuẩn quản lý nhân sự, truy nguyên
nguồn gốc sản phẩm, kiểm tra nội bộ và khiếu nại, giải quyết
khiếu nại Error: Reference source not found
Bảng 4.17 Kết quả kiểm tra đánh giá tình thực hiện VietGAHP của hộ
điều tra Error: Reference source not found

DANH MỤC VIẾT TẮT
BQ Bình quân
GAP Good Agricultural Practic
VietGAP Viet Namese Good Agricultural Practic
GAHP Good Animal Husbandry Practice
VietGAHP Vietnamese Good Animal Husbandry Practices
KT Kinh tế
XH Xã hội
ĐVT Đơn vị tính
HND Hộ nông dân
KTHND Kinh tế hộ nông dân
SL Số lượng
CC Cơ cấu
QML Quy mô lớn
QMV Quy mô vừa
QMN Quy mô nhỏ
UBND Ủy ban nhân dân

x
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 28-1-2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tiêu
chuẩn VIETGAP, VietGAP được dựa trên cơ sở ASEAN GAP, EUREPGAP/
GLOBALGAP và FRESHCARE, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nông sản
Việt Nam tham gia thị trường khu vực ASEAN và thế giới, hướng tới sản xuất
nông nghiệp bền vững.
VIETGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices) có nghĩa là Thực
hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam dựa trên 4 tiêu chí như:
- Tiêu chuẩn về kỹ thuật sản xuất.

an toàn sinh học và áp dụng VietGAHP đang được áp dụng trên địa bàn xã
cho một trăm hộ nông dân chăn nuôi lợn và được chia làm chia làm 4 nhóm,
điều này là một tín hiệu rất mừng cho ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn xã có
thể giúp người chăn nuôi nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm.
Chương trình có được áp dụng và phát triển ra toàn địa bàn toàn xã hay không
là do sự chỉ đạo các ngành các cấp, cán bộ kĩ thuật và sự hưởng ứng tin tưởng
của người dân.
Chính vì những vẫn đề thực tiễn trên chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi lợn theo hướng
VietGAHP tại xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
2
Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi lợn theo hướng VietGAHP trên địa
bàn xã Đình Dù, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi
lợn theo hướng VietGAHP tại xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn
nuôi lợn theo hướng VietGAHP;
- Đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn theo hướng VietGAHP tại xã Đình
Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi lợn áp dụng quy trình
VietGAHP tại xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Đề xuất giải pháp phát triển chăn nuôi lợn theo hướng VietGAHP trên
địa bàn xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên trong những năm tới.
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển chăn nuôi lợn theo
hướng VietGAHP tại xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Thông

Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “HND là những hộ chủ yếu hoạt động
theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông
nghiệp ở nông thôn”.
HND có những đặc điểm sau:
Một là, HND là đơn vị kinh tế, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng.
4
Hai là, quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất được biểu hiện ở trình độ
phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hoàn toàn. Trình độ này
quyết định quan hệ giữa HND và thị trường.
Ba là, các HND ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia hoạt động
phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
Từ khái niệm và đặc điểm của HND cho thấy, HND là những hộ sống ở
nông thôn, hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp. HND là đơn
vị kinh tế cơ sở, đơn vị sản xuất và là đơn vị tiêu dùng.
Kinh tế hộ nông dân
Theo Tchayanov (1920): “Kinh tế hộ nông dân (KTHND) được hiểu là
một hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia
đình, nhằm thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của hộ gia đình như một tổng thể
mà không dựa trên chế độ trả công theo lao động với mỗi thành viên của nó”.
Có quan điểm cho rằng: KTHND bao gồm toàn bộ các khâu của quá
trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng;kinh tế hộ
thể hiện được các hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ
nông – lâm – ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp.
Có ý kiến lại cho rằng: KTHND là một hình thức kinh tế phức tạp xét
từ góc độ quan hệ kinh tế tổ chức, là sự kết hợp những ngành, những công
việc khác nhau trong quy mô gia đình nông dân.
Theo Frank Ellis (1993): “KTHND là kinh tế của những hộ gia đình có
quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu lao động của gia
đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham
gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường”.

Tuy nhiên, kinh tế nông hộ cũng có giới hạn nhất định, đặc biệt trong
sản xuất đòi hỏi các hộ phải có sự hợp tác, đoàn kết thì mới làm được. Một số
HND riêng lẻ khó có thể giải quyết các vấn đề về thủy lợi, phòng trừ sâu bệnh
6
– dịch hại, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và sản xuất, tiêu thụ nông sản
hàng hóa, phòng trừ thiên tai và rủi ro trong sản xuất kinh doanh. Ở đây lại
cần sự có mặt của kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân cũng
như nhiều tổ chức khác trong quan hệ hướng dẫn và hỗ trợ kinh tế nông
hộ phát triển.
Từ các khái niệm trên nhận thấy: KTHND là hình thức tổ chức kinh tế
cơ sở của xã hội, trong đó có các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và
tư liệu sản xuất.
2.1.1.2 Khái niệm phát triển
Tăng trưởng là tăng lên về số lượng; phát triển không những là tăng về
số lượng mà còn phong phú hơn về chủng loại, chất lượng và phù hợp hơn về
cơ cấu, phân bố của cải.
Phát triển về nghĩa hẹp đó là sự mở rộng, mở mang của sự vật, hiện tượng
trong đời sống một cách tương đối hoàn chỉnh trong một giai đoạn nhất định.
Phát triển bền vững là phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải
đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai. Phát triển bền vững đang là
mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia. Ngày nay khái niệm bền vững nhằm
hướng tới bền vững về kinh tế, bền vững về chính trị, xã hội và bền vững về
môi trường.
Phát triển bền vững là sự phát triển liên tục trên cơ sở khai thác và sử
dụng hợp lý các nguồn lực đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho thế
hệ tương lai (Oxford University Press,1987).
2.1.2 Tiêu chuẩn VietGAHP
VietGAHP (Vietnamese Good Animal Husbandry Practices) là tên gọi
tắt của Thực hành chăn nuôi tốt ở Việt Nam. Là những nguyên tắc, trình tự,
thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất áp dụng trong chăn nuôi nhằm

8
Khoảng cách giữa các khu chuồng, dãy chuồng phải được bố trí xây
dựng hợp lý.
Thiết kế chuồng nuôi cho các đối tượng lợn khác nhau phải tuân thủ
theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Thiết kế hệ thống vệ sinh sát trùng: Tùy thuộc vào hệ thống chăn nuôi
hiện có của trại để thiết kế một hệ thống vệ sinh sát trùng thích hợp nhằm làm
giảm thiểu tối đa sự lây lan của mầm bệnh.
- Thiết kế kho
Kho chứa thức ăn và nguyên liệu phải đảm bảo thông thoáng, có hệ
thống thông gió tốt, không bị dột, tạt nước khi mưa gió để đảm bảo không bị
ẩm mốc. Kho phải có các bệ kê để thức ăn và nguyên liệu không tiếp xúc
xuống sàn nhà. Thức ăn/nguyên liệu được chất thành từng cột, chiều cao cột
vừa phải để thuận tiện trong việc phòng cháy chữa cháy và bốc dỡ.
Kho chứa thuốc thú y, thuốc sát trùng phải đảm bảo thông thoáng, có
hệ thống thông gió tốt, không bị dột, tạt nước khi mưa gió. Có kho lạnh, tủ
lạnh để bảo quản vắc xin và một số loại kháng sinh yêu cầu được bảo quản
lạnh. Phải có sơ đồ vị trí các loại thuốc trong kho và ghi chép theo dõi xuất
nhập thuốc để tránh tình trạng có lô thuốc để quá hạn sử dụng.
Các loại hóa chất như dầu máy, thuốc diệt chuột, thuốc sát trùng …
không được để lẫn trong kho chứa thức ăn.
Kho chứa các vật dụng khác và xưởng cơ khí: Các dụng cụ chăn nuôi
chưa được sử dụng cần được bảo quản trong kho sạch s•, tránh lây nhiễm
trước khi sử dụng. Tùy theo quy mô trại nên có một xưởng cơ khí để sửa
chữa, lắp đặt chuồng trại và các trang thiết bị.
- Thiết bị chăn nuôi
Nhóm thiết bị, dụng cụ chứa thức ăn, nước uống: Máng chứa thức ăn, nước
uống phải được làm bằng xi măng; nhựa trơ không độc; kim loại hay hợp kim
ít bị ăn mòn, không chứa chì, arsen.
9

và hệ thống cung cấp nước uống. Sửa chữa kịp thời các hỏng hóc, thường
xuyên xử lý phân (làm trống hầm chứa).
Thường xuyên quan tâm chương trình vệ sinh sát trùng chuồng trại bao
gồm: Quét rác, dọn phân. Làm vệ sinh hệ thống thông gió, quạt máy. Vệ sinh,
sát trùng chuồng lợn khi trống chuồng.
Nếu sử dụng chất độn chuồng, khi thấy bẩn phải dọn sạch. Sau mỗi đợt
nuôi phải thay chất độn chuồng.
- Vệ sinh sát trùng bên ngoài khu chuồng trại
Thường xuyên thay thuốc sát trùng hố khử trùng ở cổng ra vào ít nhất
ngày một lần.
Tất cả các loại xe khi vào cổng đều phải phun thuốc sát trùng.
Định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh các dãy chuồng và khu chăn
nuôi, ít nhất 2 tuần một lần.
- Vệ sinh sát trùng bên trong chuồng trại
Thay nước sát trùng hoặc vôi sát trùng của hố sát trùng mỗi ngày vào
mỗi buổi sáng trước khi thực hiện các công việc khác.
Sát trùng chuồng trại vào các thời điểm: trước khi nuôi 5 ngày; sau mỗi
đợt nuôi; khi chuyển đàn …
Phun thuốc sát trùng ở các lối đi và khu vực xung quanh chuồng một
lần/tuần (nếu không có dịch bệnh) và mỗi ngày (nếu có dịch bệnh).
Trong trường hợp có dịch, phun thuốc sát trùng trên lợn 1 tuần/lần bằng
các dung dịch thuốc sát trùng thích hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Thu gom chất thải rắn hàng ngày vào hệ thống chứa, có nắp hay mái
che bảo đảm không rò rỉ, không lưu giữ chất thải trên 24 giờ mà không có
biện pháp xử lý.
- Vệ sinh sát trùng các dụng cụ chăn nuôi và phương tiện vận chuyển.
11
Trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận chuyển trong chăn nuôi phải
được tiêu độc khử trùng thường xuyên.
Hạn chế di chuyển đến mức tối đa những trang thiết bị phục vụ chăn

Ghi vào sổ nhật ký sản xuất và lưu trữ hồ sơ tất cả các khẩu phần trộn,
trình tự trộn và nhân viên phụ trách trộn.
Trang thiết bị trộn thức ăn và dụng cụ cân đo cần được hiệu chỉnh và
kiểm tra định kỳ.
Sử dụng kháng sinh, hóa chất theo hướng dẫn của nhà sản xuất và phải
tuân thủ thời gian ngưng thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Không
được sử dụng kháng sinh, hóa chất trong danh mục cấm của Nhà nước và Bộ
Nông nghiệp & PTNT.
Thường xuyên hoặc đột xuất kiểm tra phân tích các chất cấm, kháng
sinh trong thức ăn mua để tránh tồn dư hóa chất độc hại trong sản phẩm chăn
nuôi.
Thường xuyên kiểm tra và vệ sinh khu vực sản xuất thức ăn, kho chứa
thức ăn và nguyên liệu thức ăn để tránh gây ô nhiễm
Sử dụng thức ăn phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của lợn theo
hướng dẫn của nhà sản xuất. Chất lượng thức ăn cho lợn ở các lứa tuổi phải
đáp ứng yêu cầu sinh trưởng và phát triển.
Trong trường hợp phải trộn thuốc vào thức ăn nhằm mục đích phòng
bệnh, trị bệnh hoặc kích thích tăng trưởng, cần phải ghi chép và lưu trữ hồ sơ
việc sử dụng thức ăn, loại thuốc trộn, liều lượng, thời gian sử dụng thức ăn có
trộn thuốc, thời gian ngừng cho ăn thức ăn có trộn thuốc.
Nguyên liệu và thức ăn phải được lưu mẫu cho đến khi sản phẩm được
sử dụng mà không có sự cố nào.
- Nước uống
13
Nguồn nước và nước uống (kể cả nước dùng để pha thuốc cho lợn uống
khi bị bệnh) phải đạt được các tiêu chuẩn đã được quy định trong tiêu chuẩn
Việt Nam
Kiểm tra thường xuyên hệ thống cấp nước gồm bồn chứa nước, ống
dẫn, máng uống, núm uống để đảm bảo hệ thống không bị hở, không bị rò rỉ,
không bị ô nhiễm do bụi bặm, chất bẩn … Bồn chứa nước nên có mái che để

- Giám sát dịch bệnh: Áp dụng phương thức “cùng vào – cùng ra” theo
thứ tự ưu tiên là: cả khu => từng dãy => từng chuồng => từng ô lợn (tùy theo
điều kiện chăn nuôi cụ thể để lựa chọn) nhằm hạn chế sự lây lan bệnh tật.
- Trong trường hợp điều trị bệnh, cần ghi chép thông tin đầy đủ về dịch
bệnh, tên thuốc, liều lượng, lý do dùng, thời gian dùng, trọng lượng lợn, người
tiêm, thời điểm ngưng thuốc. Không bán lợn trong thời gian cách ly thuốc.
- Khi phát hiện lợn chết phải báo với cán bộ kỹ thuật để có biện pháp
xử lý.
*Bảo quản và sử dụng thuốc thú y
- Vắc xin và một số kháng sinh phải được bảo quản lạnh theo hướng
dẫn, chỉ lấy ra khi sử dụng.
- Mỗi loại thuốc để riêng một khu vực và không để lẫn vào nhau, đặc
biệt là đối với các loại thuốc có tính đối kháng nhau.
- Ghi chép việc xuất nhập kho từng loại thuốc, chủng loại thuốc, thời
hạn sử dụng để sử dụng đúng hạn, tránh lãng phí.
- Cần phải có kế hoạch cụ thể về việc sử dụng vắc xin và thuốc thú y
cho trại và phải lập bảng kế hoạch sử dụng thuốc.
*Phòng trị bệnh
- Phòng bệnh: Có lịch tiêm phòng các bệnh chính theo quy định hiện
hành (dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn, tiêu chảy …), các bệnh khác tùy
theo tình hình dịch tễ của vùng để có yêu cầu cụ thể về quy trình phòng bệnh.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status