ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nền nông nghiệp Việt Nam đã được hình thành từ lâu đời với 2 ngành
sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi, cả 2 ngành sản xuất chính này luôn
gắn bó mật thiết với nhau, cùng thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển.
Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp, chăn nuôi lợn cũng đã từng
bước khẳng định vị thế của mình trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam.
Theo số liệu niên giám thống kê năm 2010 tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi
chiếm trên 25% trong toàn ngành nông nghiệp, trong đó chăn nuôi lợn chiếm
78% tổng giá trị của ngành chăn nuôi.
Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng là nghề cổ truyền ở
Việt Nam, gắn với nền văn minh lúa nước trong lịch trình tiến hoá của các
cộng đồng dân tộc Việt Nam, thực tế từ vùng thấp đến vùng cao, từ đồng
bằng đến trung du miền núi đâu đâu cũng thấy chăn nuôi lợn. Chăn nuôi lợn
trong nông hộ nhằm tận dụng phế phẩm trong nông nghiệp đã làm giảm chi
phí đầu vào, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho hộ nông
dân. Do vậy chăn nuôi lợn đã có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng như đối với nền kinh tế của cả
nước.
Hiện nay chăn nuôi lợn có một số triển vọng đó là: chăn nuôi lợn là
ngành sản xuất thực phẩm chủ lực của Việt Nam, chiếm 80% lượng thịt trong
bữa ăn của của con người Việt; lượng thịt lợn tiêu thụ trung bình trên thế giới
80 kg/người/năm, trong khi ở Việt Nam chỉ 46 kg/người/năm; Nhà nước sẽ
ngày càng hoàn thiện hành lang pháp lý để kiểm soát đầu vào và đầu ra cho
sản phẩm chăn nuôi; chăn nuôi lợn an toàn, quy mô chăn nuôi hữu cơ được
quan tâm và phát triển; thị trường tiêu thụ rộng lớn với yêu cầu ngày càng cao
1
về số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; tiềm năng xuất khẩu thịt
lợn sang EU, Nhật Bản đang mở rộng …
Bên cạnh những thuận lợi và triển trọng đó thì cũng còn rất nhiều hạn
chế, hạn chế lớn nhất là quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ trong cả nước chiếm 89%,
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn, phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp
phát triển chăn nuôi lợn theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Xuân Lộc,
tỉnh Đồng Nai.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi bền vững.
- Đánh giá thực trạng phát triển và tính bền vững của hoạt động chăn
nuôi lợn trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Xác định các nhân tố chủ yếu có ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi
theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Đề xuất được một số giải pháp để pháp triển chăn nuôi lợn bền vững
trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các nông hộ, các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Xuân Lộc,
tỉnh Đồng Nai.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu kết quả của ngành chăn nuôi trên địa
bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai qua 3 năm 2009 – 2011.
3
- Phạm vi về nội dung:
Các chính sách tác động đến chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Xuân
Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Quá trình sản xuất chăn nuôi lợn ở các hộ gia đình, các trang trại chăn
nuôi trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
4. Nội dung nghiên cứu
- Những lý luận cơ bản về ngành chăn nuôi và sự phát triển nông
nghiệp bền vững, chăn nuôi lợn bền vững.
có hệ thần kinh cao cấp, có những tính quy luật sinh vật nhất định (người sản
xuất cần đảm bảo một lượng thức ăn đủ về chất và lượng để đảm bảo cho vật
nuôi phát triển tốt nhất, cần có sự quan tâm chăm sóc, có biện pháp kỹ thuật
để phòng trừ dịch bệnh ).
- Chăn nuôi co thể phát triển tĩnh, tập trung mang tính chất như sản
xuất công nghiệp hoặc di động phân tán mang tính chất như san xuất nông
nghiệp.
5
- Chăn nuôi là ngành sản xuất đồng thời cho nhiều sản phẩm. Vì vậy
cần căn cứ vào mục đích thu sản phẩm chính để lựa chọn hướng đầu tư và
quy trình kỹ thuật được áp dụng.
Vị trí của ngành chăn nuôi
- Chăn nuôi là một trong 2 ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp
Việt Nam, trong chăn nuôi thì đối tượng là các loại động vật nuôi nhằm cung
cấp các loại sản phẩm: thịt, trứng, sữa đáp ứng nhu cầu của con người, sản
phẩm chăn nuôi có giá trị kinh tế lớn và hàm lượng dinh dưỡng cao. Khi xã
hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng nâng lên thì nhu cầu
thực phẩm cũng tăng theo và sản phẩm cũng phải đáp ứng chất lượng ngày
càng cao.
- Đối với một số ngành công nghiệp chế biến thì chăn nuôi cũng đáp
ứng một phần không nhỏ trong việc cung cấp nguyên liệu đầu vào.
Vai trò của ngành chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như
thịt, trứng, sữa, mật ong nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người.
- Chăn nuôi cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quý giá cho các
ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, dược liệu và công nghiệp chế biến
khác.
- Chăn nuôi là ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung
cấp thực phẩm tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị xuất khẩu.
- Chăn nuôi cung cấp cho trồng trọt nguồn phân bón hữu cơ. Không chỉ
nghiệp chăn nuôi; mở rộng được quy mô, tăng sản lượng và chất lượng sản
phẩm thịt lợn cũng được nâng cao.
+ Nhu cầu tiêu dùng thịt lợn trên thị trường: Mục đích chủ yếu của
chăn nuôi lợn là để bán, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Khi nhu
cầu tiêu thụ thịt lợn tăng lên, đa dạng chủng loại sản phẩm chế biến sẽ tạo
động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển.
7
+ Giá cả thịt lợn trên thị trường: Giá thịt lợn trên thị trường cao và lợi
nhuận thu được lớn sẽ kích thích phát triển chăn nuôi lợn.
- Các nhân tố xã hội:
+ Tập quán sản xuất: Tập quản sản xuất khác nhau sẽ ảnh hưởng khác
nhau đến sự phát triển chăn nuôi lợn.
+ Nguồn lao động: Chăn nuôi lợn có thể tận dụng lao động thừa trong
nông hộ. Do vậy chăn nuôi lợn thường phát triển ở những vùng nông thôn.
1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá chăn nuôi lợn theo hướng bền vững.
1.1.4.1. Kết quả, hiệu quả về mặt kinh tế.
Các chỉ tiêu kinh tế:
- Tổng chi phí: phản ánh toàn bộ chi phí bỏ ra đầu tư vào sản xuất. Chỉ
tiêu này nhiều hay ít phụ thuộc vào qui mô canh tác, trình độ kỹ thuật canh tác
và ngoài ra còn có sự tham gia của các yếu tố khác.
Tổng chi phí sản xuất (chăn nuôi) = Chi phí vật chất + Chi phí lao động
- Doanh thu (DT): Phản ánh kết quả đạt được trong quá trình sản xuất.
Chỉ tiêu này cao hay thấp phụ thuộc vào giá bán và năng xuất.
Doanh thu = Sản lượng * Giá bán
- Lợi nhuận (LN): là chênh lệch giữa khoản thu và chi phí bỏ ra trong
quá trình sản xuất, chỉ tiêu này rất quan trọng đo lường kết quả trực tiếp, do
đó chỉ tiêu càng lớn càng tốt.
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí sản xuất
- Thu nhập (TN): là khoản lợi nhuận cộng với chi phí lao động gia đình
hay thu nhập chính là doanh thu trừ cho chi phí vật chất và chi phí lao động
chất thải (biogas, ao lắng, ao sinh học đảm bảo không phát sinh mùi hôi)
đáp ứng tiêu chuẩn môi trường theo quy định của Luật bảo vệ môi trường.
+ Xử lý khí thải mùi hôi.
1.1.5. Những chính sách của nhà nước về phát triển chăn nuôi nói
chung và chăn nuôi lợn nói riêng tác động đến chăn nuôi lợn trên địa bàn
huyện.
- Pháp lệnh Thú y số 18/2004/PL-UBTVQH ngày 29/4/2004 của ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
9
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
- Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 của Chính phủ về việc
Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y.
- Quyết định số 45/2005/QĐ-BNN ngày 25 tháng 07 năm 2005 về việc
ban hành danh mục đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thuộc
diện phải kiểm dịch.
- Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020.
- Thông tư số 02/2011/TT-BNNPTNT ngày 21/01/2011 về Hướng dẫn
nhiệm vụ quản lý nhà nước về chăn nuôi
- Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính
phủ về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi giai
đoạn 2011 - 2013
- Quyết định 48/2011/QĐ-UBND ngày 27-07-2011 về ban hành Quy
định về chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Quyết định số 3082/QĐ-UBND ngày 22/10/2009 của UBND tỉnh
Đồng Nai về phê duyệt quy hoạch vùng phát triển chăn nuôi, các cơ sở giết
mổ tập trung trên địa bàn huyện Xuân Lộc giai đoạn 2009-2015 và định
hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 1279/QĐ-UBND ngày 27/5/2011 của UBND tỉnh
Đồng Nai về phê duyệt báo cáo quy hoạch phát triển nông nghiệp giai đoạn
Cây cảnh trong chậu 1,091 33,2 1
Cà chua 0,677 23,1 1
Khoai tây 0,346 21,6 1
Hành tây 0,455 14,8 1
11
Trứng gà còn vỏ 0,320 29,4 1
Pho mát khô, sữa đặc 1,717 6,2 1
Thịt lợn 1,117 11,9 2
Bia đại mạch 0,898 19,2 1
Bánh ca cao, dầu ca cao 0,747 37,0 1
Sản phẩm Sôcôla 0,487 6,8 2
Thuốc lá 2,819 17,4 2
Nguồn tài liệu: IPH và Union fleurs: Intertional Statistics, Flower and
Plants, 2002. FAO (trích từ )
Kim ngạch xuất khẩu nông sản tính theo đầu người rất cao: Trong 5
năm 1995-1999, hàng năm kim ngạch xuất khẩu nông sản của Hà Lan bình
quân đạt 37,83 tỉ USD, nếu chia đều cho 26,9 vạn người làm nông nghiệp thì,
hàng năm mỗi người tạo ra giá trị xuất khẩu 140.600 USD, vượt xa các nước
khác (so với Pháp 39200 USD, Australia 35300 USD, Mỹ 19900 USD); Mức
xuất khẩu trên một đơn vị diện tích canh tác đạt 18570 USD/ha (không tính
hàng thuỷ sản), tức là 1m2 đất tạo ra 1,86 USD, cao hơn hẳn các nước khác.
Nền nông nghiệp được đầu tư kết cấu hạ tầng đứng hàng đầu thế giới.
Vì thiếu đất canh tác, Hà Lan thực thi chiến lược “đầu tư cao- sản xuất nhiều”,
là một đặc trưng nổi bật của nền nông nghiệp Hà Lan (Hệ thống thuỷ lợi và
phòng chống lũ có tiêu chuẩn an toàn cao; Diện tích nhà kính lớn nhất thế giới)
Hà lan nổi bật với sản xuất hoa, là vương quốc hoa, khoai tây, hành tây,
cà chua, chăn nuôi bò sữa, chăn nuôi lợn phát triển mạnh với quy mô ngày
càng lớn, quy mô trang trại trên 1.000 con chiếm trên 22% tổng số trang trại
chăn nuôi lợn.
12
chính thế giới từ năm 2007 đã ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế của nhân
loại và có nguy cơ làm gia tăng tỷ lệ đói nghèo trên toàn cầu (FAO).
1.2.2.2. Tình hình chăn nuôi thế giới
Lương thực, thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống
còn của nhân loại. Ngày nay nông nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp
lương thực và các loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất. Ngành
chăn nuôi không chỉ có vai trò cung cấp thịt, trứng, sữa là các thực phẩm cơ
bản cho dân số của cả hành tinh mà còn góp phần đa dạng nguồn giene và đa
dạng sinh học trên trái đất.
Số lượng vật nuôi:
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới – FAO năm
2009 số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: Tổng đàn
trâu là 182,2 triệu con và phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò là
1.164,8 triệu con, dê là 591,7 triệu con, cừu là 847,7 triệu con, lợn là 887,5
triệu con, gà là 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con… Tốc
độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua
thường chỉ đạt trên dưới 1% năm.
Hiện nay các quốc gia có số lượng vật nuôi lớn của thế giới như sau:
- Đàn bò nhiều nhất thế giới là Brazin với 204,5 triệu con, xếp thứ hai
là Ấn Độ với 172,4 triệu con, xếp thứ ba là Hoa kỳ với 94,5 triệu con.
- Đàn trâu nhiều nhất thế giới là Ấn Độ với 106,6 triệu con (chiếm trên
58% tổng số trâu của thế giới), xếp thứ hai là Pakistan với 29,9 triệu con, xếp
14
thứ ba là Trung Quốc với 23,7 triệu con và Việt Nam xếp thứ 7 thế giới với
2,8 triệu con trâu.
Các cường quốc về chăn nuôi lợn của thế giới như sau:
Bảng 1.2. Các nước có số lượng lợn nhiều nhất thế giới.
Đơn vị tính: con
STT Tên nước Đơn vị Số lượng
1 China Con 451.177.581
Các cường quốc về sản lượng thịt năm 2009: Về sản lượng thịt lợn,
đứng đầu thế giới là Trung Quốc với 49,8 triệu tấn, xếp thứ hai là Hoa Kỳ với
10,4 triệu tấn, xếp thứ ba là Đức với 5,2 triệu tấn, xếp thứ tư là Brazin với
4,29 triệu tấn, xếp thứ năm là Tây Ban Nha với 3,29 triệu tấn và Việt Nam
xếp thứ sáu với 2,55 triệu tấn.
Phương thức chăn nuôi:
Phương thức chăn nuôi hiện nay của các nước trên thế giới vẫn có ba
hình thức cơ bản đó là: i) Chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công
nghệ cao; ii) Chăn nuôi trang trại bán thâm canh và iii) Chăn nuôi nông hộ
quy mô nhỏ và quảng canh.
Phương thức chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn thâm canh sản xuất
hàng hóa chất lượng cao chủ yếu ở các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ,
Châu Úc và một số nước ở Châu Á, Phi và Mỹ La Tinh. Chăn nuôi công
nghiệp thâm canh công nghệ cao về cơ giới và tin học được áp dụng trong
chuồng trại, cho ăn, vệ sinh, thu hoạch sản phẩm, xử lý môi trường và quản lý
đàn. Các công nghệ sinh học và công nghệ sinh sản được áp dụng trong chăn
nuôi như nhân giống, lai tạo đã nâng cao khả năng sinh sản và điều khiển giới
tính.
Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh gia súc gia cầm tại phần lớn
các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh và các nước Trung
Đông. Trong chăn nuôi quảng canh, tận dụng, dựa vào thiên nhiên sản phẩm
chăn nuôi năng xuất thấp nhưng được thị trường xem như là một phần của
chăn nuôi hữu cơ.
16
Chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi sạch đang được thực hiện ở một số nước
phát triển, sản phẩm chăn nuôi được người tiêu dùng ưu chuộng. Tuy nhiên
chăn nuôi hữu cơ năng xuất thấp, giá thành sản phẩm chăn nuôi cao thường là
mâu thuẫn với chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn do đó đang là thách thức
của nhân loại trong mở rộng quy mô và phổ cập chăn nuôi hữu cơ.
Xu hướng của thị trường sản phẩm chăn nuôi:
hiệp hội để làm cầu nối liên kết giữa Chính phủ và nông dân, huy động sức
mạnh tập thể để huy động vốn đầu tư, phát triển vùng.
- Nắm bắt nhu cầu của thế giới để sản xuất, chế biến những sản phẩm
phù hợp với như, làm tăng giá trị xuất khẩu.
1.2.4. Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan.
Quá trình thực hiện nghiên cứu này tác giả có tham khảo một số bài
viết được đăng tải trên internet, với các ý kiến của chuyên gia về phát triển
chăn nuôi bền vững và phát triển ngành chăn nuôi trong xu thế hội nhập.
Cụ thể:
- Bài viết của PGS.TS Hoàng Kim Giao công tác tại Cục Chăn nuôi-
chức vụ là Cục Trưởng Cục chăn nuôi với tựa đề “Ngành chăn nuôi Việt
Nam phát triển trong xu thế hội nhập” được đăng trên website
(khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản trường đại
học Nông nghiệp Hà Nội) ngày 02/10/2009. Tác giả phân tích: Hội nhập kinh
tế đòi hỏi ngành chăn nuôi Việt Nam không những phát triển mà còn phải phát
triển hiệu quả và bền vững; đây là một thách thức nhưng cũng là nhiệm vụ đặt ra
cho ngành, bởi vì chăn nuôi nước ta đang có những mâu thuẫn giá đầu vào cao,
giá đầu ra thấp, chăn nuôi phát triển càng nhanh, môi trường ô nhiễm càng nặng,
18
đất sử dụng cho chăn nuôi không thiếu nhưng thiếu sự ổn định và quy hoạch,
thiếu bền vững do dịch bệnh thường xuyên xảy ra và khó kiểm soát. Tác giả đã
phân tích những cơ hội và khó khăn, thách thức phát triển chăn nuôi Việt
Nam, từ đó đưa ra định hướng phát triển chăn nuôi bền vững với quan
điểm: Phát triển ngành chăn nuôi hàng hóa có hiệu quả, có khả năng cạnh
tranh, từng bước đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; tổ chức lại
chăn nuôi theo hướng gắn với thị trường, đảm bảo an toàn dịch bệnh, vệ
sinh thú y, nâng cao năng suất, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo
vệ môi trường, cải thiện an sinh xã hội; phát triển sản phẩm chăn nuôi có
lợi thế và khả năng cạnh tranh như lợn, gia cầm, …; phát triển chăn nuôi
theo hướng trang trại, công nghiệp, sản xuất hàng hóa tập trung; tạo điều
tổng sản lượng làm thức ăn chăn nuôi và hàng năm đều có kế hoạch sản
xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước, kế hoạch nhập khẩu nguyên
liệu nước ngoài … không bỏ ngõ, phó mặc doanh nghiệp tự lo nguyên liệu
như ở Việt Nam hiện nay. Trong phần đánh giá hiện trạng, tác giả đã đánh
giá những khó khăn, hạn chế ngành chế biến thức ăn chăn nuôi tại Việt
Nam như: Thiếu nguyên liệu, hàng năm giá trị nhập khẩu trên dưới 2 tỷ
USD nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gồm mỳ mạch, cám chích ly, dầu thực
vật, mỡ động vật, khô dầu đậu tương, bột cá, bột xương thịt, chất khoáng,
các chất phụ gia bổ sung thức ăn, các loại vi khoáng, vitamine …; thiếu
công nghệ sản xuất, tại Việt Nam chưa có chuổi nghiên cứu công nghệ ứng
dụng đại trà vào chế biến thức ăn chăn nuôi, công nghệ sản xuất premix các
doanh nghiệp phải nhập khẩu từ nước ngoài về để sử dụng, công thức phối
chế thức ăn lợn con, các probiotic, synbiotic để sử dụng thay thế kháng
sinh; nhu cầu thiết bị nhà máy có công suất 20-40 tấn/giờ phải nhập khẩu từ
Châu Âu và Trung Quốc với chi phí đắt đỏ, các doanh nghiệp Việt Nam
20
không đủ sức cạnh tranh với công ty nước ngoài vì vốn ít …; về quản lý,
hiện nay có nhiều văn bản hướng dẫn chung của nhiều ngành, nhiều cấp
quản lý nên gây sự chồng chéo và có nhiều người, nhiều ngành quản lý
nhưng thực sự không có chuyên môn, ít hiểu biết, gây nhiều khó khăn cho
doanh nghiệp; về hệ thống chế biến thức ăn gia súc, có 225 nhà máy và
xưởng sản xuất, chế biến thức ăn gia súc, với sản lượng 12.317 ngàn
tấn/năm, tuy nhiên thị phần của các công ty 100% vốn nước ngoài chiếm
65-70% nên họ nắm thị phần và khống chế giá cả. Đồng thời tác giả đã đưa
ra định hướng phát triển chế biến thức ăn gia súc Việt Nam đến năm 2020
như sau: Dự kiến tổng sản lượng thịt xẻ đến năm 2015 đạt 4.300 ngàn tấn,
đến năm 2020 đạt 5.500 ngàn tấn, trong đó năm 2015 tổng sản lượng thịt
lợn xẻ chiếm 65% (2.795 ngàn tấn), năm 2020 chiếm 63% (3.465 ngàn tấn);
bình quân sản phẩm thịt xẻ năm 2015 đạt 46 kg/người/năm, năm 2020 đạt
56 kg/người/năm; dự ước nhu cầu thức ăn tinh cho gia súc, gia cầm năm
- Luận văn Thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp,
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội của tác giả Nguyễn Văn Kha được
TS.Phạm Văn Hùng hướng dẫn năm 2009 với tựa đề “Nguyên cứu giải pháp
phát triển chăn nuôi lợn tập trung tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên”. Tác
giả đã nhận định huyện Yên Mỹ- tỉnh Hưng Yên có nhiều tiềm năng phát
triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn theo hướng sản xuất hàng hóa, tuy
nhiên phần lớn hộ chăn nuôi theo tính chất lấy công làm lãi, tận dụng phụ
phẩm nông nghiệp … do đó hiệu quả chưa cao, chưa có tính chất chuyên
môn hóa, sản phẩm chưa có tính cạnh tranh cao, việc áp dụng khoa học kỹ
thuật còn hạn chế, chưa có quy hoạch khu chăn nuôi tập trung, không kiểm
soát được dịch bệnh và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Mục tiêu cụ
thể trong nghiên cứu của tác giả là: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về
chăn nuôi lợn và hình thức chăn nuôi lợn tập trung; đánh giá thực trạng
22
hiệu quả kinh tế của các loại hình chăn nuôi lợn ở huyện Yên Mỹ; phân tích
các nguyên nhân và tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
của các loại hình chăn nuôi lợn; định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi lợn trong việc phát triển
khu vực chăn nuôi tập trung ở huyện Yên Mỹ. Về phương pháp nghiên cứu,
tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu (150 mẫu trên địa bàn
05/17 xã, thị trấn) và phương pháp thống kê kinh tế. Về kết quả nghiên cứu,
tác giả đã đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi lợn huyện Yên Mỹ trong
giai đoạn 2006-2008 có tốc độ tăng bình quân về số đầu lợn là 9,24%, về sản
lượng là 9,43%; về đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình chăn nuôi lợn,
tác giả đã phân tích tỷ suất lợi nhuận để nhận biết một đồng chi phí bỏ ra
trong quá trình sản xuất sẽ cho bao nhiêu đồng lợi nhuận (tỷ suất lợi nhuận
bằng lợi nhuận trên chi phí) và kết quả loại hình chăn nuôi lợn sinh sản có tỷ suất
lợi nhuận cao nhất là 0,23 lần, kế đến là loại hình chăn nuôi hỗn hợp và chăn
nuôi lợn thịt đều có tỷ suất lợi nhuận bằng 0,16 lần; về phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả chăn nuôi lợn, tác giả đã phân tích hiệu quả theo quy
hóa thủ tục vay vốn; thứ năm, phát triển chăn nuôi gắn với khu vực giết mổ,
chế biến; thứ sáu, giải pháp về môi trường chăn nuôi như khuyến khích
phát triển chăn nuôi theo mô hình VAC, dùng hố phân Biogas, xây dựng
chuồng trại theo hướng sản xuất công nghiệp, thường xuyên vệ sinh chuồng
trại; thứ bảy, giải pháp về thị trường như phải xây dựng thương hiệu, nhà
nước cần có chính sách hỗ trợ thông tin, mở rộng thị trường, xúc tiến
thương mại, dự báo ngắn và dài hạn về xu thế thị trường trong và ngoài
nước. thứ tám, nhóm giải pháp về khoa học kỹ thuật công nghệ đối với các
khâu con giống, thức ăn, chuồng trại, đào tạo tập huấn, vệ sinh thú y và an
toàn thực phẩm. Tác giả kết luận, các chủ hộ chăn nuôi lợn hoặc thành
phần khác chưa được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ quản lý
24
kinh tế chủ hộ; loại hình chăn nuôi lợn sinh sản cho hiệu quả cao nhất vì đòi
hỏi kỹ thuật cao, chi phí đầu tư ban đầu lớn; quy mô chăn nuôi bình quân
của một chủ hộ trên địa bàn huyện là nhỏ và hiệu quả kinh tế tỷ lệ thuận
với quy mô số đầu lợn; ngoài hiệu quả kinh tế, chủ hộ chăn nuôi lợn còn
mang lại hiệu quả về mặt xã hội và môi trường; chăn nuôi lợn đem lại hiệu
quả tốt hơn so với trồng trọt và chăn nuôi gia cầm; để nâng cao kết quả và
hiệu quả kinh tế chủ hộ chăn nuôi lợn cần áp dụng đồng bộ các giải pháp
như quy hoạch đất đai, giải pháp về vốn, thị trường, tổ chức sản xuất, ứng
dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ, phát triển chăn nuôi gắn với giết mổ
và chế biến.
- Luận văn tốt nghiệp đại học, chuyên ngành kinh tế nông nghiệp,
khoa kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội,
năm 2009 của tác giả Trần Thị Thoa, được TS. Vũ Thị Phương Thụy hướng
dẫn với tựa đề “thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế chăn nuôi lợn ở hộ nông dân tại xã Xuân Nôn- Đông Anh- Hà
Nội”. Tác giả đã đặt vấn đề phát triển chăn nuôi lợn ở xã Xuân Nôn- Đông
Anh- Hà Nội đã và đang nâng cao được thu nhập cho dân và phát triển kinh
tế- xã hội địa phương. Tuy nhiên việc chăn nuôi lợn vẫn còn mang tính chất