Khóa luận tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi lợn thịt tại địa bàn xã Minh Phú, Sóc Sơn, Hà Nội - Pdf 28

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
UBND Thành phố vừa phê duyệt Quy hoạch phát triển chăn nuôi đến năm 2020, định hướng
2030. Quy hoạch thể hiện phát triển chăn nuôi sẽ tập trung vào phát triển đàn lợn, bò thịt chất
lượng cao, bò sữa và gia cầm theo hướng tăng dần sản lượng con giống; từng bước đưa sản xuất
con giống là sản phẩm chủ lực của ngành chăn nuôi, đem lại giá trị gia tăng cao cho ngành [9].
Thảnh phố đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi giai đoạn
2012 - 2020 đạt khoảng 1,6%/ năm, giai đoạn 2021 - 2030 đạt 1,4%/ năm. Tỷ trọng giá trị sản xuất
ngành chăn nuôi trong toàn ngành nông nghiệp chiếm khoảng 54% (năm 2020) và 58% (năm
2030). Ngay trong nội bộ ngành, giá trị sản xuất nhóm chăn nuôi gia súc vẫn chiếm tỷ trọng lớn
nhất nhưng giảm dần (61% vào năm 2020 và 50% vào năm 2030). Nhóm ngành chăn nuôi gia cầm
có tỷ trọng tăng dần (20% năm 2020 lên 25% năm 2030). Cơ cấu nhóm sản phẩm không qua giết
thịt có mức tăng tỷ trọng lớn nhất (từ 18% năm 2020 đến 24% vào năm 2030) [9].
Sản xuất chăn nuôi được quy hoạch theo 3 tiểu vùng: Vùng gò đồi (Mỹ Đức, Chương Mỹ,
Sóc Sơn, Sơn Tây, Quốc Oai) định hướng phát triển tập trung các sản phẩm chăn nuôi chủ lực là bò
thịt, bò sữa, lợn thịt, các loại con nuôi đặc sản. Vùng đồng bằng đối với vùng vàn cao (Chương Mỹ,
Gia Lâm, Quốc Oai, Mê Linh, Thanh Oai, Đông Anh) tập trung phát triển chăn nuôi gà, lợn; các
vùng thấp trũng (ứng Hòa, Phú Xuyên, một phần Mỹ Đức) tập trung nuôi thủy cầm theo hướng
trang trại chăn nuôi kết họp với thủy sản. Vùng bãi ven sông (sông Hồng, sông Đáy, sông Đuống,
sông Đà, sông Tích) phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang trại gắn với việc bảo vệ vành
đai xanh của Hà Nội, các loại con nuôi chủ yếu là bò thịt, bò sữa, lợn, gà [9].
Sóc Sơn là một trong ba tiểu vùng (vùng gò đồi) được thành phố định hướng phát triển tập
trung các sản phẩm chăn nuôi chủ lực bò thịt, bò sữa, lợn thịt Mặc dù vậy, những chủ trương và
chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi vẫn chưa phát huy hiệu quả thật sự. Muốn đạt được
các chỉ tiêu đã đề ra, các cơ quan chuyên môn thành phố cần phải tích cực hơn nữa để tư vấn hỗ trợ
nông dân về kỹ thuật chăn nuôi bao gồm từ khâu giống, nguồn thức ăn, quy trình nuôi dưỡng đến
vệ sinh phòng dịch bệnh .đến các vấn đề liên quan đến vốn, đất đai và thị trường tiêu thụ.
Xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội là một xã có nhiều lợi thế để phát triển chăn nuôi
bò thịt, lợn thịt. Minh Phú cũng đã xác định phát triển chăn nuôi là hướng đột phá quan trọng để
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao thu nhập thực tế của nông dân, giảm
nghèo và phát triển bền vững. Tuy vậy, nhiều năm qua tăng trưởng chăn nuôi còn thấp, hiệu quả

công nghiệp chế biến thịt xông khói, thịt hộp, thịt lợn xay, các món ăn truyền thống cuả người Việt
Nam như giò nạc, giò mỡ
- Cung cấp phân bón cho cây trồng, phân lợn là một trong những nguồn phân hữu cơ tốt, có thể cải
tạo và nâng cao độ phì của đất, đặc biệt là đất nông nghiệp.
- Chăn nuôi lợn có thể tạo ra nguồn nguyên liệu cho y học trong công nghệ sinh học y học, lợn đã
2
được nhân bản gen để phục vụ cho mục đích nâng cao sức khỏe cho con người.
- Chăn nuôi lợn làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình nông dân tăng khả năng chi tiêu trong gia
đình. Đồng thời thông qua chăn nuôi lợn, người nông dân có thể an tâm đầu tư cho con cái học
hành và các chi tiêu khác như cúng giỗ, cưới hỏi, ma chay
1.1.2. Đăc điểm sinh hoc của lon và đăc tính kỹ thuât chăn nuôi lon [51
• • • • | /
• L J
- Lợn là động vật phàm ăn, có khả năng chịu đựng kham khổ cao. Lợn có bộ máy tiêu hóa tốt, có khả
năng tiêu hóa thức ăn cao, do đó lợn có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như tinh bột, thô
xanh, rau bèo, củ quả. Nguồn thức ăn chăn nuôi lợn rất phong phú, có thể tận dụng các phụ phế
phẩm của ngành trồng trọt, của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Khả năng tiêu hóa thức ăn
của lợn cao nên tiêu tốn ít thức ăn cho lkg tăng trọng. Do vậy, lợn rất phù họp cho chăn nuôi hộ gia
đình. Lợn có khả năng sinh sản cao, tái sản xuất đàn nhanh nên lợn hơn hẳn các gia súc khác về
mặt sản xuất. Lợn là loại động vật đa thai, bình quân lợn đẻ 1.5 - 2.5 lứa/năm, 8-12 con/lứa.
- Lợn dễ bị dịch bệnh, độ rủi ro cao do khí hậu, thời tiết thất thường, thiên tai bão lụt, hạn hán ảnh
hưởng đến khả năng sản xuất của lợn.
- Với lợn thịt, chuồng trại cần thoáng mát, có mật độ nuôi thích họp, lợn phải được tiêm phòng đầy
đủ trước khi đưa vào nuôi thịt, nếu không phải tiêm bổ sung để bảo vệ đàn lợn an toàn dịch bệnh.
Lợn thịt có sự thay đổi khá nhanh về trọng lượng cho nên nhu cầu dinh dưỡng, thức ăn phù hợp,
cân đối từng giai đoạn.
- Cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác lợn thịt còn khó khăn trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm đầu
ra. Giá cả đầu vào, đầu ra luôn biến động do cạnh tranh và cung cầu thị trường. Muốn phát triển
ngành nghề nuôi lợn cần phát triển đồng bộ hệ thống thu mua, bảo quản, chế biến xuất khẩu
- Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế, đòi hỏi những nhà chăn nuôi cần có sự lựa chọn các giống

nhiều nạc phải đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng, protein, khoáng đa, vi lượng và các vitamin. Nguồn
thức ăn chăn nuôi có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng thịt (tỷ lệ nạc), mà chất lượng thịt lại quyết
định giá bán sản phẩm. Vì vậy, cần phải nuôi theo nhu cầu sinh lý sinh trưởng phát triển lợn để có
được hiệu quả cao trong chăn nuôi.
• Chăm sóc nuôi dưỡng
Khi đã có con giống tốt thì việc chăm sóc nuôi dưỡng nó lại cần thiết. Phải biết đặc tính sinh
lý của từng loại lợn, từng thời kỳ và lứa tuổi để chăm sóc cho tốt và họp lý. Thực hiện tốt các khoa
học chăm sóc nuôi dưỡng, không chỉ là điều kiện tốt cho việc sinh trưởng và phát triển của đàn lợn
mà quan trọng hơn là giảm được chi phí và nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi.
• Công tác thú ý, vệ sinh chuồng trại
Bệnh dịch là nguyên nhân quan trọng làm cho chăn nuôi không có lãi, lợn chết hoặc lợn mắc
một bệnh nào đó thì tính phàm ăn, sự tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng sinh sản, cho
sữa của lợn đều bị ảnh hưởng. Do đó, chìa khoá để duy trì một đàn lợn khoẻ mạnh là quản lý tốt.
1.1.3.2. Các nhân tổ kinh tế - xã hội
• Thị trường
Đối với người sản xuất thì vấn đề thị trường đầu ra cũng là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Sản
4
phẩm của chăn nuôi lợn thuộc loại tươi sống, bởi vậy nó không có khả năng dự trữ lâu dài nếu
không qua chế biến. Mặt khác, do chu kỳ chăn nuôi rất ngắn nên không xuất chuồng đúng kỳ hạn sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả chăn nuôi (tăng chi phí, giảm chất lượng thịt ). Bởi vậy,
thị trường là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả, tốc độ tính bền vững trong
phát triển chăn nuôi. Sự ổn định về thị trường tiêu thụ là động lực giúp cho ngành chăn nuôi lợn
phát triển, đặc biệt đối với hộ chăn nuôi hàng hoá quy mô lớn thì điều này càng quan trọng.
• Vốn cho chăn nuôi lợn
Dù sản xuất kinh doanh bất kỳ một hàng nào thì vốn đầu tư ban đầu cũng quan trọng. Trong
chăn nuôi lợn, nếu chỉ nuôi theo phướng thức truyền thống, tận dụng từ 3 - 4 con thì vốn đầu tư ban
đầu không phải là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tình hình phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, khi chăn
nuôi ngày càng phát triển, đặc biệt đối với hộ chăn nuôi hàng hoá, tập trung quy mô lớn thì vốn lại
là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với công việc chăn nuôi hay phát triển đàn lợn. Nhu
cầu về vốn cho chăn nuôi lợn bao gồm: vốn để xây dựng chuồng trại, mua con giống tốt, mua thức

lợn thịt gồm các trang trại nhà nước, tư nhân và trang trại thuộc các doanh nghiệp nước ngoài.
Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu cung cấp con giống. Các công ty nước ngoài hoạt động chăn nuôi
lợn tại Việt Nam dưới hình thức gia công (CGF Pig), liên kết sản xuất với bà con nông dân (cung
cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y, có nhân viên giám sát kỹ thuật và quản lý), bao tiêu sản phẩm.
Lợn xuất chuồng, công ty bán ra thị trường, tự hạch toán lỗ lãi và dựa vào năng suất chăn nuôi của
từng chuồng trại để trả công cho người nuôi gia công. Việt Nam hiện có hai công ty lớn đang hoạt
động trong lĩnh vực chăn nuôi gia công là Charoen Pokphand (Thái Lan) và Japfa Comíeed
(Inđônêxia) [13].
Một trong những thành phần đang dần chiếm giữ vị thế quan trọng trong ngành chăn nuôi
lợn là các trang trại tư nhân. Nếu 10 năm trước, nước ta chưa có trang trại tư nhân quy mô vài trăm
con, thì hiện đã có hàng trăm trang trại với quy mô 50 con lợn nái và 500 đầu lợn thương phẩm trở
lên.
Trong 10 năm qua, ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng vượt bậc, sản
lượng lợn thương phẩm tăng cao, tỷ trọng thịt siêu nạc ngày càng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của xã hội. Chăn nuôi lợn đang chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá [13].
Theo số liệu thống kê sơ bộ, hiện nay cả nước có khoảng 3.500 trại chăn nuôi lợn nái ngoại
từ 20 con trở lên. Trong đó có 1.127 trang trại với quy mô hơn 100 nái, chiếm tỷ lệ 23,66%; 501
trang trại có quy mô 51-100 nái, chiếm 10,52%; số còn lại là các trang trại có quy mô từ 21-50 con
và dưới 20 con, chiếm hơn 65%. Do điều kiện đất đai, khí hậu và khả năng đầu tư, nên sự phân bố
các trang trại chăn nuôi tại tám vùng sinh thái cũng khác nhau cả về số lượng và quy mô. Ba vùng
có số lượng trang trại chăn nuôi lợn lớn nhất cả nước là Đông Nam Bộ (ĐNB), đồng bằng sông
Hồng (ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), với tỷ lệ tương ứng là 47,60%; 26,32% và
15,70%. Vùng Đông Nam Bộ không những có số lượng trang trại nhiều nhất, mà quy mô chăn nuôi
cũng lớn nhất. Tại đây, số lượng trang trại có quy mô từ 50 đến 100 con, chiếm tỷ lệ tương ứng là
60% và 38%; còn số trang trại nuôi 20 nái trở xuống chỉ chiếm 0,62%. ĐBSCL là khu vực thứ hai
6
sau Đông Nam Bộ có số lượng trang trại với quy mô lớn. số trang trại có quy mô hơn 100 nái chiếm
27,27% tổng số trang trại của cả khu vực này. Vùng ĐBSH mặc dù có số lượng trang trại tương đối
lớn, song quy mô nuôi phổ biến dưới 20 nái, chiếm 71,32% số trang trại; 23,52% số trại có quy mô
từ 20-50 nái; một số ít (khoảng 5,20%) có quy mô từ 5 đến 100 nái trở lên. Các khu vực còn lại như

chăn nuôi, giúp hộ chăn nuôi trong quá trình tiêu thụ sản phẩm và giá cả canh tranh.
- Hiện nay nước ta có rất nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản phẩm thức ăn chăn nuôi này
có thể giúp người chăn nuôi tiết kiệm thời gian nuôi, vốn đầu tư cho chăn nuôi thu hồi nhanh do
chăn nuôi bằng thức ăn công nghiệp, lợn nhanh được xuất chuồng, hiệu quả kinh tế cao, tăng lợi
nhuận cho người sản xuất.
I.2.2.2. Khó khăn
Mặc dầu trong những năm qua, chăn nuôi lợn nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể
nhưng đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn đang phải đứng trước nhiều
thách thức:
- Quy mô chăn nuôi manh mún, nhỏ lẻ, chăn nuôi theo hướng tận dụng, chưa hạnh toán kinh tế nên
hiệu quả kinh tế còn thấp.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý về mặt thú y tuy được cải thiện nhưng còn yếu kém, lại không
đồng bộ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi chưa triệt để.
- Nông dân thiếu vốn để đầu tư và mở rộng sản xuất, không vay được tiền do lợi suất ngân hàng hiện
nay quá cao.
- Hệ thống nhà máy chế biến sản phẩm từ thịt lợn vẫn chưa nhiều, công nghệ thô sơ.
- Nguồn cung thị trường thịt lợn hiện nay tuy khan hiếm nhưng giá cả không ổn định gây không ít rủi
ro cho người chăn nuôi. Đặc biệt trong vài năm qua giá đầu ra không ổn định, thị trường biến động
khá mạnh, nhiều thời điểm giá xuống quá thấp làm người chăn nuôi không yên tâm đầu tư phát
triển sản xuất.
- Giá thành thức ăn gia súc quá cao, bấp bênh, chất lượng chưa được kiểm soát làm nản lòng không ít
hộ chăn nuôi lợn.
- Thị trường xuất khẩu thịt lợn hạn chế bạn hàng.
1.2.3. Một số chính sách về phát triển chăn nuôi [ 13], [14]
- Quyết định số 394 /2006/QĐ-TTg Ngày 13 tháng 3 năm 2006 của Thủ Tướng chính phủ đã ký về
việc khuyến khích đầu tư xây dựng mới, mở rộng cơ sở giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm
và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp.
- Quyết định Số: 719/QĐ-TTg ngày 05 tháng 6 năm 2008 về chính sách hỗ trợ phòng, chống dịch
bệnh gia súc, gia cầm.
- Quyết định số: 166/2001/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về một số biện pháp phát triển chăn

3.1. ĐIỀU KIỆN Tự NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI XÃ MINH PHÚ
3.1.1. Vị trí địa lý của xã Minh Phú [14].[15]
Minh Phú là một xã thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, nằm cách sân bay Nội Bài
2km, dưới chân núi Vành.
. Phía Bắc giáp 2 xã Minh Trí và Nam Sơn;
. Phía Nam giáp 2 xã Hiền Ninh và Tân Dân;
9
• Phía Đông giáp 2 xã Hiền Ninh và Nam Sơn;
. Phía Tây giáp xã Minh Trí.
- Minh Phú thuộc vùng bán sơn địa có những đặc trưng của vùng gò đồi và phù sa cổ kết. Diện tích
tự nhiên là 3768,5 ha.
- Chạy qua địa bàn xã Minh Phú có đường nối QL2 với QL3, một huyết mạch giao thông quan trọng.
3.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội illỊ
- Minh Phú có dân số 11.075 người, với 2470 hộ dân cư sinh sống ở 8 thôn: Thanh Trí, Thanh Sơn,
Phú Hạ, Phú Thịnh, Phú Minh, Phú Hữu, Phú Nghĩa và thôn Lâm Trường.
- Với lợi thế địa lý, Minh Phú rất chú trọng việc trồng rừng và phát triển cây ăn quả. Từ năm 2005
đến nay, cả xã đã trồng mới hơn 110 ha rừng, bảo vệ an toàn hơn 140 ha rừng và vận động nhân
dân chuyển đổi gần 40 ha cây ăn quả. Hầu hết các hộ đều phát triển kinh tế theo mô hình trang trại
trồng cây ăn quả, và phát triển chăn nuôi, đặc biệt chăn nuôi bò thịt, lợn thịt. Xã có 200 trang trại -
nhiều nhất ở huyện Sóc Sơn - đang mang lại nguồn thu gấp 9 lần so với thu nhập thuần nông.
“Minh Phú xoá được đói, giảm được nghèo là nhờ trang trại” [11].
- Nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế của xã luôn duy trì 7-10%, sản xuất bình quân đạt 45 triệu
đồng/ha. Xã có gần 40% hộ giàu; tỷ lệ hộ nghèo rất thấp (2,5%) [11].
- về y tế, giáo dục, Minh Phú có trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia, 12 phòng học phổ thông cơ sở
kiên cố, 4 nhà trẻ mẫu giáo đủ quy cách, trạm y tế có bác sỹ.
Mặc dù vậy, vấn đề nổi cộm về mất đất rừng mấy năm gần đây đã ít nhiều ảnh hưởng không
tốt đến đời sống kinh tế, xã hội của Minh Phú: công ty TNHH Đầu tư và Phát triển nông - lâm
nghiệp Sóc Sơn (Công ty Lâm nghiệp Sóc Sơn), tiền thân là Lâm trường Sóc Sơn (chuyển đổi tháng
7.2010), đóng trên địa bàn xã, có chức năng quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng trên
diện tích 2.095,5ha, trong đó đất công ty đang tổ chức sử dụng là 2.064,28ha. Nhưng diện tích đất

T
201
0
201
1
2012 2012/2010
+/- %
1. Số hộ nuôi Hộ 590 550 525 -65 89,0
2. Tổng số đầu con Con 5.81
2
6.362 7.989 217
7
137,
5
- Lợn thịt Con 5.40
0
6.000 7.500 110
0
132,
4
- Lợn nái Con 412 362 489 77 118,
7
3. Bq con/hộ Con/h

9,9 11,6 15,2 5,3 153,
5
4. Số lượng xuất chuồng Con 5.40
0
6.000 7.500 2.10
0

canh cao độ; 67,7% là trang trại kết hợp: trồng trọt, nuôi lợn, nuôi cá;
- Cũng có 5 trên 21 cơ sở chăn nuôi quy mô gia trại áp dụng phương thức nuôi công nghiệp, số còn
1
Bảng 3.2. Hình thức chăn nuôi
Phương thức chăn nuôi N (%)
1 Chăn nuôi trang trại 15 21,1
- Công nghiệp 5 33,3
- Kết hợp (VAC ) 10 66,7
2. Chăn nuôi gia trại 21 29,6
- Công nghiệp 5 23,8
- Kêt hợp ( VAC) 16 76,2
3 Chăn nuôi nhỏ lẻ 35 49,3
- Bán công nghiệp 35 100
- Tận dụng 0 0
Tông cộng 71 100,0
lại áp dụng mô hình YAC phù họp với điều kiện thực tế của hộ gia đình;
- Đối với hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, mỗi hộ gia đình nuôi một vài đầu lợn để tận dụng sức lao động
dôi dư, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và để có thêm nguồn thu nhập, tuy nhiên không có hộ
chăn nuôi nào nuôi lợn theo phương thức quảng canh, tận dụng hoàn toàn, các hộ chăn nuôi vẫn
sử dụng thức ăn công nghiệp ở từng giai đoạn sinh trưởng của lợn hoặc trong cả chu kì nuôi với
tỷ lệ nhất định.
3.2.2.2. Thông tin chung về chủ hộ chăn nuôi
Đặc điểm về tuổi, giới tính, trình độ học vấn, quá trình đào tạo nghề nghiệp của người chăn
nuôi cũng như tư liệu về đất đai, sức lao động của chủ hộ có ảnh hưởng lớn đến kết quả và hiệu
quả của quá trình chăn nuôi. Thông tin chung về các hộ chăn nuôi như sau:
+ 100% các hộ và trang trại có chủ hộ là Nam giới. Mặc dù phụ nữ tham gia vào hầu hết các
công đoạn của quy trình chăn nuôi nhưng quyết định quan trọng lại do người đàn ông trong gia
đình.
1
Bảng 3.3. Thông tín chung về các hộ chăn nuôi lợn thịt xã Minh Phú

7
4. NK BQ/ hộ (người) 4,1 4,7
4,
7
5. LĐ/ hộ (Lao động) 2,1 2,8
2,
9
6. DT đất BQ (m2) 1350,0 480,0
370
,0
7. Đã qua đào tạo 15 100 17
81,
0
15
42,
9
8.Thuê mướn LĐ 2 13,3
- -
9. Số năm kinh
nghiệm
5,5 7,5 9,
0

\
- - - -9- -1 7 s
(Nguôn: Tông hợp từ sô liệu điêu tra)
+ Chủ trang trại có tuổi trung bình khá thấp. Điều này cho thấy tiềm năng về nhân lực trong
việc phát triển chăn nuôi hàng hóa khi mà những người trẻ tuổi đang ngày một cố gắng làm giàu
ngay trên địa phương mình. Chủ hộ trẻ tuổi, rất thuận lợi cho việc học hỏi cũng như tiếp thu các
tiến bộ kỹ thuật mới và việc đưa ra các quyết định để phát triển chăn nuôi.

thuận lợi cho việc chăm sóc. Có tường xây bao quanh cao khoảng lm với rào chắn ở trên chuồng
1
Trang trại
( N= 15)
Gia trại
( N=21)
Nhỏ lẻ
( N=
35)
Chung
(N=71)
l.Kỉểu chuồng
- Hiện đại, khép kín 1 6,7 0
-
0
-
1 2,4
- Công nghiệp 9 60,
0
5 23,
8
0
-
1
4
19,
7
- Xây bán kiên cố 5 33,
3
16 76,

5 23,
8
7
20
,0
1
6
22,5
- Có hầm Biogas 6 40,
0
6 28,
6
3 8,
6
1
5
21,1
3.CÓ máy bơm
nước
1
5
10
0
21 10
0
2
7
77
,1
6

ứng được yêu cầu.
3.2.2.4. Con giống
“ Giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở”, trong chăn nuôi, chọn được con giống tốt là vấn đề vô
cùng quan trọng. Trong chăn nuôi lợn thịt cũng vậy, việc chọn con giống tốt có quyết định rất lớn
đến kết quả chăn nuôi. Con giống khỏe tăng trọng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn mà giá bán lại cao sẽ
đem lại kết quả cao trong chăn nuôi.
Bằng công tác giống và thức ăn người ta đã tạo ra được những con lợn “siêu nạc”, những
giống này đã được nhập vào nước ta hoặc lai tạo từ những giống “siêu nạc” nhập ngoại. Đó là các
giống Yorshire, Landrace, Duroc, Pietrain, PiDu (lai giữa Pietrain và Duroc)
Người nuôi lợn ở Minh Phú đã lựa chọn những cơ sở cung cấp con giống có uy tín như
Trung tâm giống lợn chất lượng cao ( ĐH Nông nghiệp Hà Nội ), Công ty TNHH giống lợn
Dabaco, Công ty giống gia súc Hà Nội
Khảo sát 71 hộ nuôi lợn thịt, cơ cấu con giống như sau:
1
+ Khu vực chăn nuôi trang trại, con giống hầu hết là lai 3 máu, 4 máu- Đây là con giống
không chỉ có năng suất cao mà tỷ lệ nạc cũng cao, phẩm chất thịt tốt. Tỷ lệ nạc có thể lên tới: 60 -
62%; Đạt khối lượng xuất chuồng 100kg lúc 150 - 160 ngày tuổi.
+ Khu vực chăn nuôi gia trại, con giống cũng rất được chú trọng, tỷ lệ lợn lai 3 máu, 4 máu
cũng khá cao, trên 2/3 số cơ sở chăn nuôi. Ngoài ra có trên 14% gia trại nuôi con lai F1 (2 máu)
và hơn 20% gia trại sử dụng con giống từ các nguồn khác (mua của các hộ chăn nuôi lợn nái
trong khu vực )
Một số công thức lai do các cơ sở cung ứng con giống giới thiệu với người chăn nuôi.
Công thức 1. ( Con lai 2 máu và 3 máu )(Được sản xuất ngay tại các cơ sở chăn nuôi lọn nái
trong xã hoặc lân cận )
Đực YORKSHIRE X NÁI MÓNG CÁI
F1 ( y2 MÁU NGOẠI) X Đực LANDRACE
*
F2 (
3
/4 MÁU NGOẠI)

3.2.2.5. Dịch bệnh và công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn lợn
Với sự chủ động phòng chống dịch bệnh của cơ quan chức năng, chính quyền cũng như của
người dân, từ năm 2010 dến 2012 trên địa bàn xã Minh Phú không xảy ra các ổ dịch lớn, tuy nhiên
bệnh lở mồm long móng, tai xanh có xuất hiện ở 1 số điểm, đã được phát hiện và dập tắt kịp thời.
Công tác thú y được quan tâm đầu tư, tổ chức tốt các đợt tiêm phòng định kỳ, cơ bản khống chế
được các bệnh truyền nhiễm.
Qua điều tra chúng tôi được biết người chăn nuôi đã thực hiện khá tốt các biện pháp chăn
nuôi an toàn như:
1
Công thức 3 ( Trung tâm Giống lọn chất lượng cao
-
Cái
X
Đưc Piétrain X
Lợn thịt 3
+ Mua giống nuôi tại các trại giống uy tín, đảm bảo con giống đã được kiểm dịch, sạch bệnh.
Đó là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để phòng dịch bệnh cho đàn lợn.
+ Vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi thường xuyên: mùa hè hàng
ngày cọ rửa chuồng, máng ăn, máng uống.
+ Sau khi xuất bán lợn, tổng tẩy uế, phun khử trùng tiêu độc chuồng trại, môi trường và để
trống chuồng từ 5-7 ngày.
+ Lợn mới mua về nhốt riêng ít nhất 7 ngày để theo dõi lâm sàng cho đến khi chắc chắn lợn
không có bệnh mới được nhập nuôi chung với đàn lợn cũ đang có.
+ Chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Người chăn nuôi cũng hiểu rõ, lợn thương phẩm nuôi để lấy thịt đặc biệt nuôi qui mô lớn bị
đe dọa bởi rất nhiều bệnh dịch truyền nhiễm nguy hiểm. Có nhiều loại bệnh phòng là chính, chi phí
điều trị bệnh rất tốn kém, hiệu quả lại thấp. Cách phòng bệnh tốt nhất cho lợn đối với tiêm vac xin,
vì vậy mà các hộ chăn nuôi đều thực hiện khá tốt lịch tiêm chủng cho đàn lợn.
về phía các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương: để chủ động đối phó với dịch
bệnh, UBND huyện Sóc Sơn đã chỉ đạo phòng Nông nghiệp- phát triển nông thôn huyện, trạm thú

Hình thức chăn nuôi
Trang trại Gia trại Nhỏ lẻ
Số đầu lợn xuất chuồng bình
quân/năm
con 244,0 42,0 6,5
KL xuất chuồng bình quân kg/c
on
90,3 95,3 98,5
KL giống bình quân kg/c
on
14,8 14,4 11,0
Thời gian nuôi/lứa ngày 82,0 98,2 109,0
Số lứa nuôi/năm lứa 3,3 2,9 2,5
Mức tăng trọng bình quân/tháng kg/c
on
24,6 22,5 22,7
Nguổn: Sổ liệu điều tra hộ nông dân
3.2.2.6. Chỉ tiêu chung đạt được trong chăn nuôi lợn thịt ở Minh Phú
2
Một số khái niệm thường xuyên được nhắc đến khi hạch toán lợi nhuận:
Giá trị sản xuất của chăn nuôi lợn thịt gồm giá trị sản lượng thịt và giá trị sản
phẩm phụ (phân bón).
Chi phí cho chăn nuôi lợn thịt gồm chi phí cho : giống, thức ăn, thú y, điện
nước, khấu hao chuồng trại, thiết bị và công lao động.
Thu nhập hỗn hợp là khoản thu nhập còn lại sau khi trừ mọi chi phí vật chất
dịch vụ và khấu hao (khấu hao chuồng trại theo phương pháp khấu hao đều),
Lợi nhuận kinh tể. Trừ đi mọi chi phí bao gồm chi phí vật chất, dịch vụ, khấu
hao thì lợi nhuận thu được bình quân chung là 203 ngàn đồng/con sau xuất chuồng.
Đối với nhóm hộ vùng 1 là 259 ngàn đồng/con. Đây là mức lợi nhuận tương đối cao,
thể hiện về mặt hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi phương thức chăn nuôi.

thu hẹp, giá lợn hơi giảm nhanh xuống dưới giá thành chăn nuôi, hàng loạt người
chăn nuôi thua lỗ, thậm chí phá sản. Tại Minh Phú, với lợi thế đất đai, hầu hết trang
trại chăn nuôi đều nằm trong hệ thống nông lâm kết họp, thêm vào đó là các mô
hình nuôi an toàn ( với sự họp tác của Viện Chăn nuôi Quốc gia, trường ĐH Nông
nghiệp ) nên sản phẩm vẫn có thị trường tiêu thụ và giữ được giá. Lợi nhuận thu
được năm 2012 dao động từ 150 đến 180 nghìn đồng/100 kg lợn hơi tùy thuộc mô
hình chăn nuôi.
Mặc dù vậy, năm 2012 nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã bỏ nuôi lợn chuyển sang
đầu tư cho các hoạt động sản xuất khác.
3.2.2.8. Quyết định của chủ hộ đổi với phát triển chăn nuôi lợn năm 2013 Cùng
chung tình hình chăn nuôi cả nước các hộ, trang trại chăn nuôi đã trải qua những
biến cố rất lớn. Giá thức ăn tăng nhanh, giá thịt hơi xuất chuồng giảm mạnh đã làm
cho thu nhập của các hộ chăn nuôi giảm đi đáng kể. Đã có hộ đã trở thành những
người vay nợ, dẫn đến họ phải cân nhắc để đi đến quyết định tiếp tục phát triển
chăn nuôi.
Ở Minh Phú, tình trạng hộ chăn nuôi thua lỗ nặng chưa xảy ra, song có tiếp
tục phát triển chăn nuôi lợn thịt nữa hay không cũng là vấn đề mà nhiều chủ hộ tàn
trở.
Bảng 3.8. Quyết định của chủ hộ đối vói phát triển chăn nuôi lợn năm 2013
3.2.2.6. Chỉ tiêu chung đạt được trong chăn nuôi lợn thịt ở Minh Phú
2
Qua bảng trên ta thấy rằng các trang trại và các hộ chăn nuôi đã có những phản
ứng khác nhau qua năm 2012 là năm có những biến đổi lớn bất lợi cho chăn nuôi.
+ 100% trang trại vẫn tiếp tục nuôi, dù có những trang trại hạch toán chi tiết
không có lãi trong vài năm vừa qua . Lí do cơ bản ở đây là họ đã đầu tư lớn vào khu
trang trại, các trang trại theo mô hình YAC đã trở thành hệ thống liên hoàn, không thể
xóa bỏ một khâu nò của cả hệ thống. Lí do tiếp theo là họ có niềm tin vào chăn nuôi
lợn thịt, nếu tháo gỡ được khó khăn về giá thức ăn, về thị trường tiêu thụ thì đây là
lĩnh vực có thể phát triển tốt.
+ Ở khu vực gia trại, gần 10% cơ sở chăn nuôi quyết định bỏ nuôi lợn để

90,
5
2
9
82,
9
6
3
88,
7
Bỏ nuôi 0 2 9,5 6 17,
1
8 11,
3
Giữ nguyên quy mô 1
2
80,
0
1
5
78,
9
2
9
10
0,0
5
4
85,
7

thị trường tiêu thụ lại thu hẹp. Chính vì vậy mà thị trường tiêu thụ là một vấn đề rất
quan trọng.
- Hoạt động chăn nuôi còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả kinh tế chưa cao. Tỷ
lệ hộ chăn nuôi theo hướng thâm canh chưa nhiều, nên phát triển chăn nuôi ở xã vẫn
chưa đồng đều.
- Mức độ đầu tư trong chăn nuôi còn thấp. Hầu hết các hộ đều không hạch toán kinh tế,
do đó chưa nhìn nhận đầy đủ về những kết quả đạt được và những hạn chế do hoạt
động sản xuất chăn nuôi mang lại.
- Diễn biến thời tiết không ổn định, thất thường, mặt khác các hộ chăn nuôi với quy mô
nhỏ thực sự chưa chú trọng tới công tác thú y, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh
trên đàn gia súc
3.2.2.6. Chỉ tiêu chung đạt được trong chăn nuôi lợn thịt ở Minh Phú
2

Trích đoạn về phía người nông dân:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status