Nghiên cứu việc kết hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong chương trình sinh học lớp 8 ở trường THCS số 2 xã thái niên bảo thắng lào cai - Pdf 31

Tr­êng ®¹i häc s­ ph¹m hµ néi 2
Khoa Sinh - KTNN

===== o0o =====

TRẦN PHƯƠNG QUY

NGHIÊN CỨU VIỆC KẾT HỢP GIÁO DỤC
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC
LỚP 8 Ở TRƯỜNG THCS SỐ 2
XÃ THÁI NIÊN - BẢO THẮNG - LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý người và động vật

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S NGUYỄN THỊ LAN

Hà Nội - 2011


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới cô
giáo Nguyễn Thị Lan, người đã giúp đỡ tôi, hướng dẫn tận tâm trong suốt
thời gian tôi thực hiện đề tài này.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong

Trần Phương Quy

iii


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG ,BIỂU
PHẦN I. MỞ ĐẦU

1

I. Lí do chọn đề tài

1

II. Ý nghĩa của đề tài

3

PHẦN II. NỘI DUNG



1.1.3.3. Các hình thức giáo dục và chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên

13

1.2. Các khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

14

1.2.1. Khái niệm giới tính, giáo dục giới tính và vai trò của giáo dục giới tính

14

1.2.1.1. Giới tính và sự hình thành giới tính ở con người

14

1.2.1.2. Giáo dục giới tính

17

1.2.1.3. Vai trò của giáo dục giới tính

18

1.2.2. Khái niệm tuổi dậy thì, đặc điểm tâm sinh lý tuổi dậy thì

20

1.2.2.1. Khái niệm tuổi dậy thì


1.2.5. Những bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS

27

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

30

2.1. Đối tượng nghiên cứu

30

2.2. Phương pháp nghiên cứu

30

2.3. Thời gian hoàn thành

31

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

32

3.1. Vài nét sơ lược về trường THCS số 2 xã Thái Niên

32

3.2. Kết quả nghiên cứu lí luận

3.3.2. Kết quả điều tra nhận thức của học sinh lớp 8 của trường THCS số 2

63

xã Thái Niên - huyện Bảo Thắng - tỉnh Lào Cai sau khi học chương trình
sinh học lớp 8.
v


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

68

1. Kết luận

68

2. Đề nghị

69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

71

PHỤ LỤC


QHTD:

Quan hệ tình dục

KHHGĐ:

Kế hoạch hóa gia đình

THCS:

Trung học cơ sở

TB:

Tế bào

Bộ GD – ĐT:

Bộ Giáo dục – đào tạo

THPT:

Trung học phổ thông

UNFPA:

Quỹ dân số Liên hợp quốc

vii

Đông - Tây, bên cạnh những yếu tố tích cực, còn góp phần không nhỏ làm
thay đổi quan điểm tình yêu - tình dục trong giới trẻ. Chính vì vậy, trong
những năm gần đây việc coi trọng chất lượng cuộc sống của con người Việt
Nam nói chung, việc tuyên truyền, tư vấn giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên cho học sinh nói riêng đã và đang được các ban ngành, đoàn thể quan
tâm.
Ở nước ta trẻ vị thành niên (dưới 18 tuổi) chiếm khoảng 21,2% dân số
[13]. Tuy nhiên, thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách
thức: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây lan qua đường tình dục, nhiễm
HIV… Theo thống kê của hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một
trong 3 nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó khoảng 20%
thuộc lứa tuổi vị thành niên. Chính vì vậy, các em cần được quan tâm và giáo
dục sức khỏe sinh sản ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường để tạo nền
tảng vững chắc về mọi mặt giúp các em có đủ hành trang bước vào cuộc sống
tương lai.
Trẻ vị thành niên ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới
có tuổi dậy thì ngày càng đến sớm hơn so với một vài thập kỉ trước đây. Tuổi
dậy thì ở trẻ là giai đoạn đánh dấu một bước ngoặt quan trọng về sự phát triển
của cơ thể. Giai đoạn này có những biến đổi sâu sắc về cấu tạo cơ thể và tâm
sinh lý.
1


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

Hiện nay, các em học sinh được học về giới tính từ chương trình học ở
trường rất ít ỏi. Môn sinh học 10 có chương về sinh sản, lớp 11 có phần về di
truyền và liên kết giới tính, lớp 12 càng ít ỏi hơn với phần di truyền học ở


II. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1. Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh lớp 8, đồng thời định
hướng cho các em trong quan hệ với bạn bè khác giới. Nhờ đó cải thiện việc
xây dựng và đảm bảo hạnh phúc gia đình.
- Nâng cao sự hiểu biết của học sinh về tuổi dậy thì, sinh hoạt tình dục, các
bệnh lây truyền qua đường tình dục, định hướng cho các em về sinh đẻ an
toàn, đảm bảo con cái khỏe mạnh.
2. Ý nghĩa lý luận
- Những hiểu biết về sức khỏe sinh sản của học sinh có tác động định
hướng cho các em trong việc hiểu biết, ủng hộ và hành động theo tinh thần,
nội dung của chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình của Đảng và Nhà
nước ta.
3. Ý nghĩa khoa học
- Công tác giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên đã được quan tâm
nhưng chưa có hệ thống, chưa được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên
và rộng khắp. Nếu đề xuất được một số biện pháp mang tính khoa học và
thích hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục sức khỏe sinh
sản cho trẻ vị thành niên nói chung và cho học sinh lớp 8 xã Thái Niên - Bảo
Thắng - Lào Cai nói riêng.

3


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

PHẦN II. NỘI DUNG

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

sự của ông nghiên cứu một cách khá toàn diện và khoa học trên quy mô rộng
về các định hướng tâm lí tính dục và hành vi của con người.
Nối tiếp công trình của H.Kingsey là công trình của W.Masters và
V.Johnson vào năm 1954. Các tác giả này đã tập trung vào việc phát hiện các
chuẩn mực trong giáo dục giới tính. Công trình này đã được công bố năm
1966 (sau 11 năm nghiên cứu) đã cung cấp những tham số sinh lí đáng tin cậy
về đời sống tính dục của con người [9].
Nhiều nhà lãnh đạo hoạt động xã hội, hoạt động chính trị nổi tiếng của
Liên Xô (V.I. Lê nin, Marxim Gorki, Maiacovxki, đặc biệt là A.X.
Makarenko và V.A. Sukhomlinxki) đưa ra nhiều quan điểm khoa học về đời
sống giới tính, tình yêu hôn nhân gia đình… đã quan tâm đến việc giáo dục
giới tính cho con người và coi đó là một nội dung quan trọng cần phải giáo
dục cho học sinh.
Ngay từ những năm 20 của thế là XX, V.I. Lê nin đã nói: “Cùng với
việc xây dựng chủ nghĩa xã hội vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia
đình cũng được coi là cấp bách”.
Các nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học về y học, giáo dục học,
tâm lí học, sinh lí học đã cố gắng xây dựng nền móng vững chắc cho nền
khoa học giới tính và giáo dục giới tính theo quan điểm Mác–xít. Họ đã đưa
ra nhiều phương hướng quan trọng trong việc giáo dục giới tính của Liên Xô.
A.X. Makarenko viết: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới
tính cho thanh thiếu niên. Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật
thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ
giữa nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người và
việc giáo dục con cái. Khi giáo dục một con người không thể quên giáo dục
loại tình cảm đặc biệt đó”. Ông đã đưa ra nhiều ý kiến rất cụ thể về nội dung
phương pháp giáo dục giới tính. Ông nói: “Các nhà giáo dục học Xô viết coi
5

Từ năm 1968, hầu hết các địa phương của Liên Xô bắt đầu chú ý tổ
chức việc hướng dẫn và tổ chức giáo dục, điều trị, hướng dẫn các vấn đề về
giới tính, nhất là đời sống tình dục và quan hệ hôn nhân. Việc nghiên cứu và
6


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

điều trị những bệnh về tình dục đã được tiến hành. Tầm quan trọng của việc
“cần phải phát triển và hoàn thiện nội dung phương pháp giáo dục giới tính
phù hợp với đạo lý” đã được thừa nhận tại kì họp liên tịch giữa Viện hàn lâm
khoa học y học và Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô 1971 và tại cuộc
“Hội thảo quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa về kế hoạch hoá gia đình,
giáo dục giới tính, về vợ chồng và gia đình tại Varsava” năm 1977 [9].
Gần đây nhiều công trình lớn có tính khoa học về giới tính đã được
nghiên cứu góp phần quan trọng vào việc giáo dục giới tính cho thanh niên,
với nhiều tác phẩm rất có giá trị: Bách khoa toàn thư Y học phổ thông, trò
chuyện về giáo dục giới tính của Tiến sĩ y học D.V. Kolexev, vệ sinh tinh
thần trong sinh hoạt tình dục của Tiến sĩ y học I. Mielinxki.
Ngay từ những năm 70, việc giáo dục giới tính cho học sinh đã được đề
xuất, giảng dạy ở một số nơi. Năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã ra
chỉ thị cho tất cả các trường học trong cả nước thực hiện chương trình giáo
dục vệ sinh và giáo dục giới tính cho học sinh các trường phổ thông. Một
chương trình giáo dục giới tính được biên soạn rất tỉ mỉ và cụ thể cho học sinh
từ cấp 1 đến cấp 3. Đặc biệt, trong chương trình giáo dục từ năm học 1983 –
1984 có thêm một môn học cho học sinh lớp 9 và lớp 10 (tương đương lớp 11,
12 của nước ta) gọi tên là “Đạo đức học và tâm lí học đời sống gia đình” với
34 tiết chính khoá [9].

Ngay các nước Đông Nam Á như: Thailand, Malaysia, Indonesia,
Singapore, Philipppines… cũng đã thực hiện nội dung giáo dục này. Ở
Philippines, giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình nội khoá của
trường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông và là một bộ phận của
giáo dục dân số và kế hoạch hoá gia đình. Nội dung giáo dục giới tính đã
được lồng ghép một cách hợp lý vào nhiều bộ môn văn hoá khác, chủ yếu là
môn kế hoạch hoá gia đình qua các giờ chính khoá và qua các hoạt động
ngoại khoá, theo mức độ khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau. Ở nước này,
việc nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, những phương pháp, phương
tiện dạy học về giới tính rất được quan tâm và cuốn hút học sinh, làm cho quá
trình giáo dục đạt hiệu quả cao. Việc giáo dục nội dung này cũng đã được mở
8


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

rộng ra ngoài nhà trường, đến các tầng lớp nhân dân khác nhau qua rất nhiều
hình thức giáo dục phong phú, qua các trung tâm tư vấn và đã được xã hội
ủng hộ.
1.1.2. Tại Việt Nam
Trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, giáo dục giới tính
đã bắt dầu được quan tâm rộng rãi.
Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây
dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh
những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con
cái”. Bộ Giáo dục đã đưa ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới

Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia,
nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính
và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khoẻ sinh sản, giáo dục về
tình yêu trong thanh niên, học sinh, giáo dục đời sống gia đình, giáo dục giới
tính cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được
sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà
khoa học và các bậc phụ huynh.
Việc tìm các thông tin về giáo dục giới tính trên mạng cũng không phải
là khó khăn. Chỉ cần bấm các chữ như ‘giáo dục giới tính’ hay ‘tình dục’’ là
người ta có thể thấy vô vàn các trang thông tin, diễn đàn về chủ đề này. Thêm
vào đó các sách y học trong và ngoài nước dạy về vấn đề này cũng có thể tìm
thấy rất nhiều ở các hiệu sách trên phố.
Ngoài ra ở Việt Nam hiện cũng có các tổng đài chuyên tư vấn về sức
khoẻ, giới tính cho mọi người, nổi tiếng nhất là tổng đài 1080 của Tổng công
ty Bưu chính viễn thông.
Một nguồn thông tin nữa mà các bạn trẻ, nhất là các bạn gái có thể sử
dụng để tìm hiểu thêm là từ bạn bè và cha mẹ. Nhưng không phải ai cũng sẵn
sàng nói chuyện này với mẹ mình và không phải bà mẹ nào cũng cảm thấy dễ
dàng khi đề cập đến vấn đề này với con gái.
10


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

1.1.3. Giáo dục và chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên
1.1.3.1. Những khó khăn trong việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe sinh
sản [8]
- Có nhiều biểu hiện phức tạp trong việc nghiên cứu về giới tính: Sự lẫn

- Những vấn đề của đời sống giới tính thường kích thích tính tò mò của
con người, nhất là đối với thanh niên. Họ thường rất quan tâm đến những vấn
đề của giới tính, thường xuyên trải nghiệm, thể nghiệm những biểu hiện của
giới tính trong đời sống hàng ngày nhưng không tự giải thích được. Chính vì
vậy, nhu cầu tìm hiểu về giới tính rất cao. Họ thường tự tìm hiểu chúng trong
mọi điều kiện có thể có trong mọi tài liệu sách báo có đề cập đến những vấn
đề giới tính mà không có khả năng phân biệt những tài liệu khoa học hay phản
khoa học.
- Việc dịch thuật các tài liệu nước ngoài sang tiếng Việt cũng chưa được
chuẩn hoá, hiệu đính một cách nhất quán bởi các nhà chuyên môn. Chẳng
hạn, từ “sex” trong tiếng Anh có thể dịch thành nhiều nghĩa như: giới tính”,
“tình dục, tính dục”, “khoả thân”… Vì thế nhiều tài liệu dịch từ tiếng nước
ngoài, dù là của các tác giả có uy tín khoa học cũng không được chính xác và
toàn diện [8].
- Vấn đề giáo dục giới tính còn nhiều quan niệm phức tạp, mâu thuẫn.
Nhiều ý kiến không thống nhất về nội dung, chương trình, về phương thức
giáo dục giới tính trong nhà trường. Thậm chí, có ý kiến cho rằng, không nên
tiến hành giáo dục giới tính trong chương trình nội khoá, hoặc ngay cả trong
ngoại khoá vì cần phải dành thời gian cho các môn khoa học cơ bản hoặc các
môn học quan trọng hơn. Ngay cả khi đã có quyết định đưa một số nội dung
của đời sống giới tính vào chương trình giáo dục trong nhà trường của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, nhiều địa phương, nhiều trường học vẫn không nghiêm
tức thực hiện, hoặc chỉ thực hiện một cách cầm chừng, một cách hình thức để
đối phó với những đợt kiểm tra của Bộ.

12


Khóa luận tốt nghiệp




Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

- Giáo dục trong gia đình, cha mẹ phải nhận thức rõ trách nhiệm và vai trò
tham vấn của mình với con cái, cha mẹ phải biết lắng nghe con cái nói nói lên
nguyện vọng tâm tư của các em, thường xuyên trò truyện gần gũi quan tâm
đến những thay đổi của con cái. Cha mẹ phải tôn trọng kiên trì và mềm dẻo
giúp con cái vượt qua khó khăn ở lứa tuổi VTN [7].
1.2. Các khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm giới tính, giáo dục giới tính và vai trò của giáo dục giới
tính
1.2.1.1. Giới tính và sự hình thành giới tính ở con người
– Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử dụng
lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh
dục…Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc
với tính dục. Đó là quan niệm chưa thực sự đầy đủ chỉ hiểu một cách đơn giản
hoặc hiểu về một mặt nào đó của giới tính [8].
– Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn:
+ Trước hết, theo từ ngữ: giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm của
giới. Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng. Vì giới vừa bao
gồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lý xã hội nên
giới tính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lý cơ thể và tâm lý xã hội.
+ Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng
của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia.
* Những đặc điểm giới tính có thể là những đặc điểm sinh lý cơ thể như: cấu
trúc và chức năng của các bộ phận cơ thể, đặc biệt là hệ cơ quan sinh dục con
người, sự phát triển (biến đổi về kích thước, hoàn thiện dần về chức năng…)

thể nam hoặc nữ trong quá trình phát triển của nó [6].
- Khi ra đời, đứa trẻ chỉ có một dấu hiệu giới tính bề ngoài, đó là cấu tạo
cơ quan sinh dục bên ngoài. Đây là yếu tố chủ yếu và quan trọng, để xã hội
xác nhận giới tính của em là trai hay gái và từ đó đánh giá em theo những
phẩm chất giới tính tương ứng. Đặc điểm này cũng là cơ sở cho sự giáo dục
và hình thành ý thức về giới tính của đứa trẻ cho đến khi em bé bước vào tuổi
dậy thì.
15


Khóa luận tốt nghiệp

Trần Phương Quy - K33A Sinh - KTNN

– Theo nhiều tác giả: từ tuổi lên 3 lên 4, trẻ em đã bước đầu ý thức được
giới tính của mình, biết được mình thuộc giới nào và phân biệt được giới tính
của những người xung quanh mặc dù mới chỉ dựa vào những thuộc tính bên
ngoài. Từ khoảng 6, 7 tuổi, giới tính bắt đầu rõ rệt, biểu hiện ở sự phân hoá
các hoạt động và định hướng giá trị. Các em trai và các em gái chơi trò chơi
khác nhau theo góc độ giới tính… Sự khác biệt giới tính này càng ngày càng
rõ rệt hơn. “Đứa trẻ bắt đầu biết xử sự theo những dấu hiệu mà nó nhận thấy
là nó thuộc về giới nào, đồng thời ngược lại nó thấy thẹn thùng trước các dấu
hiệu mà theo nó thuộc về giới kia”. Đứa trẻ sẽ lựa chọn những dạng nào đó
trong số các khuôn mẫu hành vi được chấp nhận ở môi trường xung quanh nó.
- Từ tuổi dậy thì trở đi, ở trẻ em có sự biến đổi rất quan trọng và rõ rệt
về giới tính, với những sự thay đổi lớn về cơ thể và bắt đầu có sự định hướng
giới tính. Nhiều người cho rằng từ tuổi này, cơ thể người bước sang giai đoạn
thứ hai của quá trình hình thành giới tính… Dậy thì ở nữ thường bắt đầu từ 13
đến 15 tuổi, ở nam từ 15 đến 17 tuổi. Trong thời kì này, các tuyến sinh dục
bắt đầu hoạt động tích cực làm con người phát triển rõ rệt theo giới: họ dần

ấu”.
Theo A.G.Khrivcova, D.V.Kolexev, “Giáo dục giới tính là một quá trình
hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng
như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết
của con người đối với người khác”.
Theo A.V. Petrovxki, giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp y khoa
và sư phạm nhằm giáo dục cho thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên có thái độ
đúng đắn đối với các vấn đề giới tính.
Giáo sư Trần Trọng Thuỷ, Giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dục
giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức con
người, “là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh
vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức
lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự
“kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm
của các em” [4].
17


Trích đoạn CHƯƠNG XI SINH SẢN Nhận thức của học sinh về cỏc bệnh lõy truyền qua đường tỡnh dục Nhận thức của học sinh về cỏc biện phỏp trỏnh tha Kết quả điều tra nhận thức của học sinh lớp 8 của trường THCS số 2 xó Thỏi Niờn – Huyện Bảo Thắng – Tỉnh Lào Cai sau khi học chương KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.Kết luận:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status