ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------
TRƯƠNG MỘNG DIỆN
TÍCH HỢP GIÁO DỤC DÂN SỐ - SỨC KHỎE SINH SẢN
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG "SINH SẢN"
(SINH HỌC 11)
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học Sinh học
Mã số: 60.15.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Phúc Chỉnh
THÁI NGUYÊN - 2011
ii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy
Nguyễn Phúc Chỉnh - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành
luận văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sau đại
học, các thầy cô trong khoa Sinh – KTNN trường ĐHSP Thái Nguyên đã tạo
điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian qua. Cảm ơn các bạn đồng nghiệp
đã góp ý, bổ sung cho luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Thái nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả
Trương Mộng Diện
i
MỤC LỤC
TRƯƠNG MỘNG DIỆN...........................................................................................i
Hypothesized Mean Difference (giả thuyết H0).................................................63
ii
BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Đọc là
luôn được Đảng và Chính phủ dành sự quan tâm đặc biệt.
Hiện nay một số học sinh phổ thông do thiếu hiểu biết, chưa được trang
bị đầy đủ những kiến thức và kỹ năng sống cần thiết trong một môi trường xã
hội đang có nhiều thay đổi nên dễ bị xâm hại. Trước đây việc tạo điều kiện
cho lứa tuổi vị thành niên tiếp cận các thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS
vốn là vấn đề nhạy cảm, đôi khi còn là điều “cấm kị”, thì ngày nay, với cái
nhìn cởi mở hơn, vấn đề này được xem là một trong những nội dung mang
tính chiến lược bởi mục đích của nó không gì hơn là sự phát triển con người
toàn diện.
Tại Điều 27 - Mục 2, Luật Giáo dục có ghi: “Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và
các năng lực cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo,
hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân, ….”[27].
1
Giáo dục DS - SKSS (DS - SKSS) là giúp HS có kiến thức về DS, sức
khỏe, SKSS để từ đó các em có thể tự chăm sóc cho bản thân, xây dựng lối
sống lành mạnh, hình thành các kĩ năng sống cơ bản.
Tích hợp giáo dục DS – SKSS trong dạy học là một hướng đi, phù hợp
với mục tiêu giáo dục phổ thông. Vừa đảm bảo kiến thức khoa học bộ môn,
vừa lồng ghép giáo dục DS - SKSS cho HS. Thông qua đó, đem lại niềm tin,
hứng thú học tập cho người học, nâng cao chất lượng giáo dục.
1.2. Xuất phát từ thực trạng công tác giáo dục DS - SKSS trong nhà
trường phổ thông
Vấn đề giáo dục DS - SKSS đã và đang được toàn xã hội quan tâm.
Trong giáo dục, vấn đề giáo dục DS - SKSS cũng đã là nội dung giáo dục
xuyên suốt trong tất cả các cấp học, bậc học. Chúng ta không xây dựng bộ
sách giáo khoa riêng cho nội dung giáo dục này nhưng vấn đề này đã được
tích hợp trong nhiều môn khoa học khác nhau như: Văn học, Địa lí, Sinh học,
Giáo dục công dân,... Tuy nhiên, hiệu quả giáo dục DS - SKSS vẫn chưa cao
một vấn đề thực tiễn thường phải huy động tri thức của nhiều môn học trong
khi dạy từng môn học riêng chỉ đem lại những tri thức hàn lâm có hệ thống
mà khó vận dụng vào thực tiễn. Hơn nữa, nhờ tích hợp nên số đầu sách giáo
khoa được giảm bớt, không cần đào tạo GV giảng dạy chuyên về các môn
phụ trong khi vẫn có thể tích hợp các mặt giáo dục như: Giáo dục DS, giáo
dục SKSS, giáo dục môi trường… trong quá trình giảng dạy các môn học
khoa học cơ bản [13].
Sách giáo khoa phổ thông hiện hành cũng đang được trình bày theo
quan điểm tích hợp các môn học. Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, hầu
hết các hiện tượng, khái niệm, qui luật, quá trình Sinh học đều bắt nguồn từ
thực tiễn do đó, khả năng tích hợp giáo dục là rất lớn; Chúng ta có thể tích
3
hợp giáo dục DS, sức khỏe, SKSS, giáo dục môi trường, giáo dục vệ sinh an
toàn thực phẩm…. trong quá trình dạy học Sinh học.
Chương “Sinh sản” (Sinh học 11) là những kiến thức về sinh sản ở thực
vật và động vật. Khi dạy kiến thức chương này, GV có thể tích hợp giáo dục
DS và giáo dục SKSS cho HS, giúp các em có kiến thức và hiểu biết về sinh
sản, SKSS cũng như xây dựng kĩ năng sống, có niềm tin, sự vững vàng trong
cuộc sống sau này.
Từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục dân
số - sức khoẻ sinh sản trong dạy học chương “ Sinh sản” (Sinh học 11 )”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tích hợp giáo dục DS - SKSS trong dạy học Sinh học 11 nhằm nâng cao
chất lượng dạy - học, đồng thời giúp HS THPT nhận thức đúng đắn về vấn đề
DS và vấn đề SKSS.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tích hợp giáo dục DS – SKSS.
- Tổng quan tình hình giáo dục DS - SKSS trên thế giới và ở Việt Nam.
- Xác định nguyên tắc, đề xuất phương pháp tích hợp giáo dục DS -
SKSS trong dạy học Chương “Sinh sản” (Sinh học 11).
(Sinh học 11).
- Đề xuất một số biện pháp tích hợp giáo dục DS - SKSS trong dạy
học Chương “Sinh sản” (Sinh học 11).
- Thiết kế một số giáo án theo hướng tích hợp giáo dục DS - SKSS
trong dạy học Chương “Sinh sản” (Sinh học 11).
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về giáo dục dân số - sức khỏe sinh sản
1.1.1. Một số vấn đề về dân số
DS học là khoa học nghiên cứu về DS bao gồm quy mô, thành phần,
phân bố, mật độ, sự gia tăng DS và những đặc trưng khác về DS và kinh tế -
xã hội cũng như những nguyên nhân và hậu quả của sự thay đổi những yếu tố
trên [13]. Khái niệm DS đề cập đến cả mặt số lượng (số dân) và chất lượng
của DS (kết cấu DS, sự phân bố, trình độ văn hoá...).
* Các yếu tố cấu thành DS
Các yếu tố cấu thành DS bao gồm: Số sinh, số tử vong, số nhập cư và
số xuất cư (số chuyển cư). Trong đó, số sinh và số nhập cư làm tăng DS
(nguồn thêm), số tử vong và số xuất cư làm giảm DS (nguồn bớt).
* Các quá trình DS
Các quá trình DS chủ yếu bao gồm sinh sản, tử vong và chuyển cư.
Quá trình sinh sản là quá trình tạo nên thế hệ mới góp phần tái sản xuất
dân cư. Trong DS học, quá trình sinh sản được thể hiện cụ thể qua khái niệm
mức sinh sản, là số con sinh ra còn sống của một phụ nữ hay của một DS.
Quá trình tử vong là quá trình chết đi của những người ở các độ tuổi
khác nhau của một DS. Quá trình này thể hiện cụ thể qua khái niệm tỉ lệ tử vong,
là nói đến số người chết của một DS trong một khoảng thời gian nhất định.
Quá trình chuyển cư là quá trình di chuyển dân cư từ vùng này sang
vùng khác với mục đích cư trú vĩnh viễn hoặc cư trú tạm thời.
* Kết cấu DS
đến 7,4 tỷ người [14].
7
Gia tăng DS ở các nước đang phát triển là một sức ép lớn, thậm chí
quá tải đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên mà hậu quả tất yếu là sản xuất
kinh tế bị trì trệ, nạn đói hoành hành. Vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn khi đi
kèm với những hoạt động như chiến tranh, thiên tai...
Đã đến lúc chúng ta phải ý thức được loài người là một thành viên của
hệ sinh thái tòan cầu, và chính sự ổn định DS ở mức độ giới hạn chịu đựng
của hành tinh cùng với việc khai thác sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên là
điều kiện sống còn và tiên quyết cho sự phát triển bền vững.
1.1.2. Sức khỏe sinh sản (SKSS)
1.1.2.1. Khái niệm
“Sức khoẻ sinh sản là tình trạng thoải mái toàn diện về thể chất, tinh
thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay tật về tất cả những vấn đề
liên quan đến hệ sinh sản ở mọi giai đoạn của cuộc đời” (Reproductive health
is a state of physical, mental, and social well-being, not merely the absence of
disease or infirmity, in all matters relating to the reproductive system at all
stages of life) [28].
Theo định nghĩa này, sinh sản ở đây không chỉ là tình trạng bộ máy
sinh sản không có bệnh tật, không bị bất lực mà còn là tiến trình hoạt động
của bộ máy này với đầy đủ các chức năng. Do đó, SKSS cũng có nghĩa là con
người có thể sinh hoạt tình dục tự do và an toàn, tự do quyết định khi nào có
con và khoảng cách giữa các lần sinh.
Điều này cũng có nghĩa là tất cả mọi người, nam cũng như nữ, có
quyền nhận được thông tin về các biện pháp KHHGĐ an toàn và hữu hiệu, có
thể chấp nhận các biện pháp, có quyền tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo đảm cho
người phụ nữ có thai và sinh đẻ an toàn, và cho những cặp vợ chồng cơ hội
tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh với một khởi đầu tốt đẹp cho sự phát
triển tinh thần và thể chất.
8
không phát triển đầy đủ. Có thai và lập gia đình sớm cũng là những rào cản
cho việc học tập xa hơn.
* Phá thai
Cùng với quá trình đô thị hóa, “phương Tây hóa”, các giá trị văn hóa Á
đông có nguy cơ bị lấn át, việc quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng trở
nên phổ biến. Tò mò trước những cảm xúc mới trong khi chưa được giáo dục
giới tính, thiếu những kỹ năng sống, kiến thức và cung cấp dịch vụ về
KHHGĐ là những yếu tố dẫn đến việc nữ HS có thai ngoài ý muốn và tỉ lệ
phá thai ngày càng cao. Phá thai ngay cả khi được thực hiện bởi cơ quan y tế
cũng mang một nguy cơ không nhỏ các biến chứng như: xuất huyết, thủng tử
cung, nhiễm trùng, lâu dài có thể có các biến chứng như: vô sinh, thai ngoài
tử cung, thai khó. Chưa kể do sợ cha mẹ, ngại dư luận xã hội, nhiều em gái
còn đến thực hiện ở những nơi bất hợp pháp với những nguy cơ tử vong,
nhiễm trùng nặng kéo dài.
* Bệnh lây qua đường tình dục và AIDS
Một vấn đề khác trong quan hệ tình dục trước hôn nhân và ngoài hôn
nhân đó là hiện tượng thay đổi bạn tình hoặc quan hệ với mại dâm ở nam giới.
Điều này dẫn đến nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục
(LTQĐTD) trong đó nguy hiểm phải kể đến là AIDS. Thiếu kiến thức, kỹ
năng và kinh nghiệm sống, thiếu các dịch vụ hỗ trợ như giáo dục giới tính,
cung cấp bao cao su là những yếu tố làm tăng nguy cơ bị lây nhiễm
BLTQĐTD và AIDS. Sự di dân đến thành thị của những cô gái nghèo, nông
thôn không có kỹ năng lao động là những hoàn cảnh nguy cơ đưa đẩy các em
đến nghềmại dâm. Khuyng hướng tìm các cô gái ngày càng trẻ của khách làng
chơi với hy vọng không bị lây AIDS càng góp phần vào hiện trạng mại dâm
trẻ em. Nguy cơ lây nhiễm BLTQĐTD và AIDS là khó tránh khỏi trong một
cán cân thiên lệch về quyền lực do sự thiên lệch về kinh tế gây ra.
10
1.1.2.4. Một số biện pháp để nâng cao sức khỏe sinh sản
Giáo dục sức khỏe tính dục và kỹ năng sống.
bất kỳ giải pháp đơn lẻ nào. Sự cần thiết này còn phụ thuộc vào đặc điểm tình
hình DS - SKSS của từng quốc gia, do đó mỗi nước có những yêu cầu khác
nhau và biện pháp giải quyết khác nhau.
Ở Việt Nam, giáo dục DS - SKSS ngày càng giữ vai trò quan trọng, từ
năm 1997 đã được chính thức đưa vào chương trình giáo dục và đã chứng tỏ
sự cần thiết của môn học này đối với người học.
Việt Nam là nước có tốc độ DS tăng nhanh, tính đến năm 2008, DS
Việt Nam là khoảng 86,5 triệu người. Với DS này Việt Nam là nước đông dân
thứ 13 trên thế giới, trong bối cảnh nền kinh tế còn đang phát triển, việc DS
tăng nhanh có tác động xấu đến các vấn đề khác như: Chất lượng cuộc sống,
sự phát triển của văn hoá, y tế, giáo dục, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
xã hội[23],[29].
Trong những năm qua dù có sự cố gắng không ngừng của Đảng, Nhà
nước và nhân dân để cải thiện hơn nữa chất lượng giáo dục DS nhưng vẫn còn
nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề SKSS và SKSS vị thành niên, những đối
tượng trực tiếp của giáo dục DS – SKSS tại nhà trường thể hiện như sau[18]:
- Việt Nam là Quốc gia đông dân thứ 13 trên thế giới và đứng thứ ba ở
các nước Asean nhưng chỉ số phát triển con người và các chỉ số phản ánh chất
lượng DS chỉ xếp thứ 108/177 Quốc gia [18].
- Những năm gần đây, Việt Nam đang đứng vào nhóm các nước có tỷ
lệ nạo phá thai lớn nhất thế giới. Năm 2006 Việt Nam đang đứng thứ ba thế
giới về tỷ lệ nạo phá thai, trong đó 20% ở lứa tuổi vị thành niên, trong số này
có 40% là sinh con ngoài ý muốn[23].
12
- Theo số liệu của Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam trên cả nước có
5% các em gái sinh con trước tuổi 18, 15% sinh con trước tuổi 20[25],[31].
- Theo thông tấn xã Việt Nam tỷ lệ thanh niên Việt Nam có quan hệ
tình dục trước hôn nhân là 7,6% và đang có xu hướng gia tăng [25].
- Năm 2005 tỷ suất chết mẹ (MMR) là 80/100.000, gấp 2 lần Thái Lan,
Singapore, Malaysia; gấp 4 lần Hàn Quốc, tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi là
của châu Á đều đã nhất trí cao trong việc vạch ra các tư tưởng chiến lược để
soạn thảo chương trình, vạch ra nội dung để đưa vào chương trình học ở nhà
trường trong các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Các chuyên gia
tham gia hội nghị cũng đã tích cực đẩy mạnh chương trình GDDS – SKSS ở
các nước mình.
Văn phòng UNESCO tại Santiago (Chilê) đã tổ chức hội nghị cho các
chuyên gia: năm 1970 về GDDS – SKSS, năm 1971 về giáo dục giới tính.
Cũng năm 1971, văn phòng GDDS – SKSS ở Châu Phi (Dakar) đã tổ chức
hội thảo về chủ đề DS, giáo dục và phát triển ở châu Phi.
Tại các nước trong khối Ả Rập, các hoạt động diễn ra một cách chậm
chạp, hội nghị lần thứ nhất về GDDS – SKSS diễn ra năm 1976.
Ở châu Á khi mới bắt đầu, chương trình GDDS – SKSS được coi là
một bộ phận của chương trình kế hoạch hoá gia đình và chỉ có giáo dục giới
tính. Do đó, công chúng còn phản đối đưa GDDS – SKSS vào trong các
trường học. Các nhà chức trách về giáo dục thì cho rằng nếu giáo dục DS chỉ
là điều chỉnh mức sinh thì nội dung của nó phải nói về tái sản xuất DS và các
biện pháp tránh thai.
14
Đến năm 1969, hội thảo quốc gia lần thứ nhất về GDDS – SKSS đã
đánh dấu một bước tiến đáng kể trong việc đưa GDDS vào hệ thống trường
phổ thông ở Ấn Độ. Sau đó GDDS – SKSS đưa ra một chương trình quốc gia
thuộc Bộ Giáo Dục với sự giúp đỡ của UNFPA và UNESCO. Chương trình
này càng mở rộng đối với cả hệ chính quy và không chính quy, giáo dục
người lớn và cả các trường đại học.
Năm 1985 ở Ấn độ, GDDS – SKSS đã được triển khai ở 34 trường đại
học trong chương trình đào tạo cử nhân và 18 trường đại học trong chương
trình đào tạo thạc sĩ.
Năm 1970, một nhóm chuyên gia họp tại Bangkok (Thái Lan) cho rằng
cần phải có một định nghĩa về GDDS – SKSS. Họ đưa ra định nghĩa: GDDS
là chương trình giáo dục về vấn đề DS ở mức độ gia đình, cộng đồng đất nước
cho mọi người ý thức được điều đó và thực hiện nó một cách có trách nhiệm
góp phần xây dựng cuộc sống văn minh cho thời đại.
Quan điểm của Châu Phi được tổng kết trong báo cáo tổng kết hội ghị
các chuyên gia về chủ đề “DS, giáo dục và phát triển vùng nam Sahara” năm
1971 như sau: GDDS chỉ có nghĩa như một thành phần của giáo dục về phát
triển, có nghĩa là giáo dục về các chính sách kinh tế, văn hoá, xã hội mà nó là
một phần của chiến lược phát triển.
Tại Hội nghị DS thế giới năm 1994 được tổ chức tại Cairo (Ai Cập)
chính phủ 179 nước đã cam kết thực hiện chương trình: “Kế hoạch hoá gia
đình và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh”.
Như vậy, trải qua quá trình phát triển của xã hội loài người thì mục
tiêu, nội dung, hình thức GDDS – SKSS cũng biến đổi theo để bắt kịp sự phát
triển đó. Vì vậy, GDDS – SKSS có những nét đặc trưng riêng cho từng giai
16
đoạn lịch sử, từng quốc gia. Tất cả đều nhằm mục đích chung là nâng cao chất
lượng cuộc sống của cộng đồng, quốc gia. Từ những bước đi ban đầu ấy,
GDDS – SKSS ngày càng phát triển và trở thành một bộ phận không thể thiếu
trong sự nghiệp giáo dục nói chung.
1.1.4.2. Tình hình nghiên cứu giáo dục DS – SKSS tại Việt Nam[23],[25],[31]
Giáo dục DS trong nhà trường của hệ thống giáo dục Việt Nam được
quan tâm từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX. Từ năm học 1987 – 1988, đã có
một chương trình mang tính hệ thống để triển khai công tác GDDS – SKSS
trong nhà trường và kế hoạch hoá gia đình đối với đội ngũ GV các bậc học,
ngành học. Một chỉ thị “có ý nghĩa lịch sử” trong công tác này đối với toàn
ngành là chỉ thị liên tịch về công tác GDDS – KHHGĐ số 13/CTLT đã được
lãnh đạo Bộ và Công đoàn giáo dục cùng nhất trí thông qua và phổ biến đến
mọi trường học.
Từ năm 1982 – 1992 được UNFPA (quỹ DS của Liên Hiệp Quốc) tài
trợ, ngành GD- ĐT đã tiến hành ba dự án: Dự án GDDS trong nhà trường phổ
thông; dự án giáo dục giới tính và đời sống gia đình; Dự án giáo dục các bậc
giáo dục DS - SKSS trong dạy học SH ở trường THPT, chúng tôi đã tiến hành
điều tra về nhận thức, mức độ và hiệu quả của các biện pháp tích hợp trong
quá trình giảng dạy của GV một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên và tỉnh Hưng Yên (Nội dung điều tra theo mẫu phiếu điều tra thực
trạng, phụ lục 1). Số phiếu phát ra: 35, số phiếu thu lại: 35. Kết quả khảo sát
thể hiện qua bảng 1.1.
18
Bảng 1.1. Kết quả khảo sát nhận thức của GV về tích hợp giáo dục DS - SKSS
trong quá trình dạy học Sinh học ở trường THPT
Mức độ nhận thức và lí do Số phiếu Tỉ lệ %
A. Mức độ cần thiết
- Rất cần thiết.
- Cần thiết.
- Không cần thiết.
20
10
5
57.14
28.57
14.29
B. Các lí do
- Tri thức nhân loại gia tăng nhanh, thời lượng môn
học có hạn, không đổi
- Vừa cung cấp kiến thức môn học, vừa lồng ghép
giáo dục các nội dung khác.
- Tạo niềm tin, kích thích được hứng thú học tập của
HS.
- Phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của
HS trong quá trình dạy học.
- Đảm bảo kiến thức vững, chắc.