Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu cùng sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ
của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên, tôi đã hoàn thành đề tài của mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa Sinh –
KTNN, tới các bạn sinh viên đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo
Th.S Nguyễn Thị Việt Nga, người hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp đỡ tôi hoàn
thành đề tài này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến người thân, gia đình đã động viên,
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng đây là bước đầu làm quen với việc nghiên
cứu khoa học nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự
góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, cùng các bạn đọc để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn!
Xuân Hòa, ngày 15 tháng 4 năm 2013
Sinh viên
Đỗ Thị Hiền
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
LỜI CAM ĐOAN
PHT
Phiếu học tập
PPDH
Phương pháp dạy học
SGK
Sách giáo khoa
SV
Sinh viên
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TNKQ
Trắc nghiệm khách quan
TW
1.1.2. Tình hình sử dụng PISA ở Việt Nam ........................................................ 7
1.2. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 9
1.2.1. Chương trình đánh giá PISA..................................................................... 9
1.2.1.1. Khái niệm PISA..................................................................................... 9
1.2.1.2. Đặc điểm của PISA ............................................................................. 10
1.2.1.3. Mục tiêu của PISA............................................................................... 11
1.2.1.4. Các lĩnh vực đánh giá trong PISA........................................................ 12
1.2.2. Năng lực khoa học của học sinh ............................................................. 13
1.2.2.1. Năng lực .............................................................................................. 13
1.2.2.2. Năng lực phổ thông ............................................................................. 15
1.2.2.3. Năng lực khoa học ............................................................................... 15
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
1.3. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 16
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG PHẦN 3 SINH HỌC 10 NHẰM ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
KHOA HỌC CỦA HS THEO QUAN ĐIỂM PISA...................................... 19
2.1. Mục tiêu kiến thức và kĩ năng trong phần 3 - Sinh học 10.................... 19
2.1.1. Kiến thức ................................................................................................ 19
2.1.2. Kĩ năng ................................................................................................... 19
2.2. Năng lực khoa học của HS cần đạt được trong phần 3 Sinh học 10 ..... 20
2.3. Quy trình xây dựng ................................................................................. 20
2.3.1. Các nguyên tắc xây dựng câu hỏi PISA .................................................. 20
2.3.2. Qui trình xây dựng câu hỏi PISA ............................................................ 21
2.4. Kết quả xây dựng .................................................................................... 25
2.5. Một số giáo án tổ chức dạy học nhằm đánh giá năng lực của HS ......... 48
2.5.1. Bài 27: Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật................ 48
lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho
học sinh”.
Trong đổi mới giáo dục, khâu kiểm tra, đánh giá cũng được chú trọng
nhưng phương pháp và nội dung kiểm tra vẫn chưa có đổi mới đáng kể ngoài
việc sử dụng thêm phương pháp trắc nghiệm khách quan, tổ chức trò chơi. Qua
quan sát và tìm hiểu cho thấy đa số tiết học, phần kiểm tra, đánh giá chưa được
GV thực sự quan tâm. Thể hiện: Bằng việc GV chỉ cho học sinh đọc lại kiến
thức trong phần in nghiêng SGK, hoặc yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức,
những phương pháp tích cực phát huy tính tích cực, khả năng sáng tạo của học
sinh ít được tiến hành… Ngoài ra, thực tiễn giáo dục phổ thông cho thấy, công
tác đánh giá kết quả học tập của học sinh vẫn còn nặng về đánh giá kết quả học
tập theo các môn học riêng biệt mà chưa có sự đánh giá năng lực chung, năng
lực hiểu biết và giải quyết vấn đề thực tiễn. Như vậy, vấn đề đặt ra là làm thế
SV thực hiện: Đỗ Thị Hiền
1
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
nào để có thể thay đổi nhận thức về vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, áp
dụng các phương pháp với quy trình, kĩ thuật kiểm tra, đánh giá như thế nào để
đạt hiệu quả cao nhất.
PISA là viết tắt của từ: “Programe for International Student Asesment –
Khoa Sinh ˗ KTNN
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi theo quan điểm của
PISA.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về năng lực khoa học của học sinh.
- Nghiên cứu phương pháp đánh giá PISA.
- Tìm hiểu thực trạng của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh phổ thông.
- Đề xuất quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi kiểm tra, đánh giá trong
chương trình Sinh học 10 theo quan điểm PISA.
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống câu hỏi trong kiểm tra, đánh giá theo quan điểm PISA trong
phần 3 chương trình Sinh học 10 – THPT.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Học sinh khối 10 THPT.
5. Giả thuyết khoa học
- Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi cho phần 3 Sinh học 10 theo quan
điểm PISA một cách có hiệu quả sẽ góp phần đánh giá được năng lực khoa học
của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học Sinh học 10.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của việc dạy học phần kiểm tra, đánh giá
trong chương trình Sinh học THPT.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan làm cơ sở lý thuyết cho đề tài.
- Nghiên cứu nội dung trong phần 3 chương trình Sinh học 10 để xây
dựng câu hỏi theo quan điểm PISA.
4
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
Phần hai: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về PISA
1.1.1. Tình hình sử dụng PISA trên thế giới
Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International
Student Assessment – PISA) do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) khởi
xướng, triển khai từ năm 1997. Tham gia vào dự án này là các chuyên gia giáo
dục quốc tế hàng đầu, phối hợp với chính phủ các nước OECD, hội đồng nghiên
cứu giáo dục của Úc (Australian Council for Educationnal Research – ACRE)
hỗ trợ quá trình này thông qua việc xây dựng phương pháp, quy trình điều tra,
thiết kế phiếu điều tra theo chuẩn thống nhất, xây dựng chương trình kiểm tra
trên máy tính, xây dựng và phát triển những phần lưu giữ và phân tích những dữ
liệu.
Mục tiêu của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem khi đến độ tuổi kết
thúc phần giáo dục bắt buộc (hầu hết ở các nước OEDC là 15 tuổi), học sinh đã
được chuẩn bị những gì để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức
độ nào.
Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến
thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung chương
Năm 2003, Phần Lan có 5796 học sinh đến từ 198 trường khác nhau từ
khắp cả nước. Phần Lan đứng đầu tuyệt đối về đọc hiểu và toán; cùng Nhật
đứng đầu về khoa học tự nhiên; đứng thứ 2 sau Hàn Quốc về giải quyết tình
huống.
Ngoài thành tích đứng đầu bảng xếp hạng trong cả hai đợt điều tra, có một
số đánh giá trong báo cáo của OECD đã gây được sự chú ý đặc biệt của các
chuyên gia giáo dục thế giới và là những tiêu chí rất khó vượt qua đối với các
nước. Thứ nhất, trong tất cả các môn thi sự chênh lệch trình độ giữa các sinh
viên Phần Lan – giữa học sinh kém nhất và học sinh giỏi nhất – là nhỏ nhất so
với các nước OECD. Nói cách khác, trình độ học sinh Phần Lan đồng đều nhất.
Thứ hai, sự khác biệt về trình độ học sinh giữa các trường dự thi là rất nhỏ –
trình độ giữa trường giỏi nhất và trường kém nhất là 5%, chỉ đứng sau Iceland
(4%). Thứ ba, đối với các nước khác, địa vị xã hội của trường ảnh hưởng lớn tới
kết quả thi. Nói cách khác, học sinh ở các trường có tiếng, trường chuyên,
trường ở các thành phố lớn thì kết quả thi của học sinh ở trường đó cao hơn các
trường ít danh tiếng và trường ở tỉnh, huyện. Riêng ở Phần Lan và Iceland, địa
vị xã hội của trường không ảnh hưởng tới kết quả thi của học sinh và chênh lệch
trình độ giữa các trường là thấp nhất. Thứ tư, hoàn cảnh gia đình (địa vị xã hội,
SV thực hiện: Đỗ Thị Hiền
6
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
7
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
dục chủ trì phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, vụ Hợp tác quốc tế
nghiên cứu đầy đủ hoạt động đánh giá này.
Ngày 11/11/2009, OEDC có thư chính thức gửi Phó thủ tướng, Bộ trưởng
Nguyễn Thiện Nhân về việc đồng ý để Việt Nam tham gia PISA 2012.
Ngày 13/3/2010, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã ra quyết định số
69/QĐ- VKHGDVN thành lập Văn phòng PISA Việt Nam.
Từ khi thành lập Văn phòng PISA Việt Nam đến nay, Văn phòng đã tiến
hành các thủ tục cần thiết để có thể triển khai hoạt động Văn phòng PISA Việt
Nam, lên kế hoạch triển khai, khảo sát thử nghiệm tháng 5/2011 tại 40 trường
thuộc 9 tỉnh, thành phố trên toàn quốc và đã thu được kết quả khả quan. Để kỳ
khảo sát chính thức PISA năm 2012 triển khai thành công, Bộ Giáo dục và Đào
tạo tổ chức các đoàn công tác trực tiếp giới thiệu PISA tại các Sở Giáo Dục và
Đào tạo.
Ngày 31 tháng 10 năm 2011, Văn phòng PISA tại Việt Nam cùng với Sở
Giáo dục và Đào tạo Cà Mau tổ chức Hội thảo về chương trình đánh giá học
sinh quốc tế (PISA) tại hội trường Sở Giáo dục và Đào tạo tại Cà Mau với nội
dung công việc:
+ Giới thiệu chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA.
+ Giới thiệu và tập huấn kỹ thuật đánh giá của PISA: Cấu trúc đề thi và
phiếu hỏi, các dạng câu hỏi thi PISA.
- Nguyễn Thúy Hồng với bài báo “Tác động của đánh giá PISA tới phát
triển chương trình giáo dục phổ thông ở một số nước” trên tạp chí Khoa học
giáo dục số 81, tháng 6/2012.
...vv...
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Chương trình đánh giá PISA
1.2.1.1. Khái niệm PISA
Vào năm 1997, các nước công nghiệp phát triển (OECD) nhất trí tham gia
vào một dự án xây dựng các tiêu chí, phương pháp, cách thức kiểm tra và so
sánh học sinh giữa các nước OECD và các nước khác trên thế giới, được biết
đến dưới tên gọi “Chương trình đánh giá học sinh quốc tế”.
PISA là viết tắt của từ: “Programme for International Student Asesment –
PISA” nghĩa là “Chương trình đánh giá khoa học quốc tế” do OECD khởi xướng
và chỉ đạo, nhằm tìm kiếm các chỉ số đánh giá tính hiệu quả – chất lượng của hệ
thống giáo dục của mỗi nước tham gia, qua đó rút ra các bài học về chính sách
đối với giáo dục phổ thông. PISA được thực hiện theo chu kì 3 năm một lần (bắt
đầu từ năm 2000). Đối tượng đánh giá là học sinh trong độ tuổi 15, độ tuổi kết
SV thực hiện: Đỗ Thị Hiền
9
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia (15 năm 3 tháng đến 16
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
- PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:
+ Chính sách công (Public policy) các chính phủ, các nhà trường, giáo
viên và phụ huynh đều muốn có câu trả lời cho tất cả các câu hỏi như “Nhà
trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những
thách thức của cuộc sống của người trưởng thành chưa?”, “Phải chăng một số
loại hình giảng dạy và học tập của những nơi này hiệu quả hơn những nơi
khác?” và “ Nhà trường có thể góp phần cải thiện tương lai của học sinh có gốc
nhập cư hay có hoàn cảnh khó khăn không?”...
+ Hiểu biết phổ thông (Literacy) thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các
chương trình giáo dục cụ thể PISA chú trọng việc xem xét đánh giá về các năng
lực của học sinh trong việc ứng dụng các kiến thức và kĩ năng phổ thông cơ bản
vào các tình huống thực tiễn. Ngoài ra còn xem xét đánh giá khả năng phân tích
lí giải và truyền đạt một cách có hiệu quả các kiến thức và kĩ năng đó thông qua
cách học sinh xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề.
+ Học tập suốt đời (Lifelong learning) học sinh không thể học tất cả mọi
thứ cần biết trong nhà trường. Để trở thành những người có thể học tập suốt đời
có hiệu quả, ngoài việc thanh niên phải có những kiến thức và kĩ năng phổ thông
cơ bản họ còn phải có cả ý thức về động cơ học tập và cách học. Do vậy PISA sẽ
tiến hành đo cả năng lực thực hiện của học sinh về các lĩnh vực Đọc hiểu, làm
Toán và Khoa học, đồng thời còn tìm hiểu cả về động cơ, niềm tin vào bản thân
cũng như các chiến lược học tập của học sinh.
1.2.1.3. Mục tiêu của PISA
các bài viết một cách khác nhau, để phát triển kiến thức tiềm năng của một
người và để tham gia vào xã hội.
- Lĩnh vực khoa học: Hiểu biết khoa học là năng lực để sử dụng kiến thức
khoa học, để xác định các câu hỏi và rút ra những kết luận dựa trên chứng cứ để
hiểu và giúp đưa ra những quyết định về thế giới tự nhiên và những thay đổi
được thực hiện thông qua các hoạt động của con người. Đánh giá năng lực khoa
học trong PISA không phải là đánh giá ngữ cảnh mà đánh giá về kiến thức, năng
lực (bao gồm các kĩ năng suy nghĩ có tính lập luận để đưa ra kết luận) và thái độ
đối với những gì được mô tả trong ngữ cảnh hoặc có liên quan đến ngữ cảnh đó.
Trong PISA khi lựa chọn các tình huống, ngữ cảnh, người ta phải quan tâm đến
mục đích là đánh giá khả năng hiểu biết về khoa học và thái độ của học sinh khi
kết thúc độ tuổi giáo dục bắt buộc.
- Lĩnh vực Toán học: Là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức
toán học trong cuộc sống, vận dụng và phát triển tư duy toán học để giải quyết
các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một
cách linh hoạt. Là khả năng phân tích, suy luận, lập luận, khái quát hóa, trao đổi
SV thực hiện: Đỗ Thị Hiền
12
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
thông tin qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình
huống, hoàn cảnh khác nhau, trong đó chú trọng quy trình, kiến thức và hoạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
Theo P.A Ruđich: “Năng lực là tính chất tâm lí của con người chi phối
quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một
hoạt động nhất định”.
Theo Dekelete: “Năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt
động) tác động lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải
quyết vấn đề do tình huống này đặt ra”.
Xavier Roegiers cũng có quan điểm gần gũi với khái niệm trên và đã tổng
hợp thành một khái niệm năng lực mang tính tích hợp: “Năng lực là sự tích hợp
các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình
huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra”.
Theo John Erpenbeck: “Năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng
như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và
được hiện thực hóa qua chủ định”.
Weinert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học
được sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự
sẵn sàng về động cơ xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề
một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”.
Ngoài ra năng lực cũng được hiểu là một thuộc tính nhân cách phức hợp,
nó bao gồm kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, được định hình trên cơ sở kiến thức, được
gắn bó đa dạng với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho con người có thể
đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong công việc.
Như vậy năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của
nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động
việc ứng dụng các kiến thức và kĩ năng phổ thông cơ bản vào các tình huống
thực tiễn và khả năng phân tích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu quả các kiến
thức, kĩ năng đó thông qua cách học sinh xem xét, diễn giải và giải quyết vấn đề.
1.2.2.3. Năng lực khoa học
Năng lực khoa học được thể hiện qua việc học sinh có kiến thức khoa học
và sử dụng kiến thức để nhận ra được các vấn đề khoa học.
Năng lực khoa học phổ thông là năng lực của một cá nhân biết sử dụng
kiến thức khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ
để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên thông qua hoạt động của con
người, thực hiện việc thay đổi thế giới tự nhiên. Cụ thể là: Có kiến thức khoa
học và sử dụng kiến thức để xác định câu hỏi, chiếm lĩnh kiến thức mới, giải
thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận trên cơ sở chứng cứ về các vấn đề
liên quan đến khoa học. Hiểu được những đặc tính của khoa học như một dạng
tri thức của loài người và một hoạt động tìm tòi khám phá của con người. Nhận
thức được vai trò của khoa học và công nghệ đối với việc hình thành môi trường
SV thực hiện: Đỗ Thị Hiền
15
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
văn hóa tinh thần, vật chất, sẵn sàng tham gia như một công dân tích cực, vận
dụng hiểu biết khoa học vào giải quyết các vấn đề liên quan đến khoa học.
Năng lực khoa học trong PISA được thể hiện:
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
- Kết quả khảo sát:
+ Về phương pháp kiểm tra, đánh giá: Việc đánh giá kết quả học
tập của HS chủ yếu thông qua hình thức thi và kiểm tra. Hình thức thi và kiểm
tra chưa phong phú, chủ yếu vẫn là thi và kiểm tra viết. Kiểm tra, đánh giá vẫn
còn là độc quyền của giáo viên, học sinh chỉ tồn tại với tư cách là đối tượng của
đánh giá. Trong khi đó, hiệu quả dạy học chỉ được nâng cao khi học sinh có khả
năng tự đánh giá được mức độ chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng của mình so với yêu
cầu của từng môn học. Kiểm tra, đánh giá hiện nay mới chỉ thiên về đánh giá kĩ
năng tái hiện tri thức (ghi nhớ, tái hiện…) mà chưa chú trọng đúng mức đến yêu
cầu phát triển tư duy sáng tạo. Cả thầy và trò rất ngại khi phải đối diện với các
đề kiểm tra đòi hỏi người học phải thực hiện các thao tác tư duy (phân tích, tổng
hợp, so sánh…). Việc kiểm tra, đánh giá còn tự phát, ai thích hình thức nào thì
tự thực hiện, ít có sự thống nhất chung trong tổ bộ môn. Một bộ phận giáo viên
còn coi nhẹ kiểm tra, đánh giá do vậy trong các kì kiểm tra như bài cũ, 15 phút,
45 phút, việc ra đề kiểm tra còn qua loa, nhiều giáo viên ra đề thi với mục đích
làm sao để chấm dễ, chấm nhanh nên kết quả đánh giá chưa khách quan. Việc
kết hợp giữa các phương pháp kiểm tra truyền thống và phương pháp kiểm tra
hiện đại còn ít nên việc kiểm tra còn nặng nề, kết quả đánh giá chưa đảm bảo
tính khách quan, chính xác. Phương pháp đánh giá học sinh chưa thực sự động
viên học sinh phấn đấu vươn lên trong học tập. Việc đánh giá học sinh của mỗi
giáo viên chưa thực sự đồng nhất, còn nhiều khác biệt giữa các giáo viên trong
tổ bộ môn. Gần đây, xu thế kiểm tra trắc nghiệm phát triển mạnh, phương pháp
kiểm tra này được giáo viên và học sinh hưởng ứng và sử dụng khá tích cực.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập nên hiệu quả của
kiểm tra, đánh giá và quá trình điều chỉnh việc học tập, giảng dạy chưa cao. Việc
tượng tiêu cực, gian lận trong kiểm tra, thi và đánh giá HS vẫn còn tồn tại trong
nhà trường.
SV thực hiện: Đỗ Thị Hiền
18
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh ˗ KTNN
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG PHẦN 3 SINH HỌC 10 NHẰM ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
KHOA HỌC CỦA HS THEO QUAN ĐIỂM PISA
2.1. Mục tiêu kiến thức và kĩ năng trong phần 3 - Sinh học 10
2.1.1. Kiến thức
- Trình bày được các kiểu dinh dưỡng của VSV dựa theo nguồn cacbon và
năng lượng.
- Trình bày được sơ đồ tổng hợp và phân giải các chất ở VSV.
- Nêu được 4 pha cơ bản nuôi cấy vi khuẩn không liên tục và ý nghĩa của
từng pha.
- Phân biệt được các hình thức sinh sản chủ yếu ở VSV nhân sơ và nhân
chuẩn.
- Phân tích được ảnh hưởng tích cực hay ức chế của chất hoá học, yếu tố
vật lí đến sự sinh trưởng của VSV.
- Mô tả được đặc điểm hình thái và cấu tạo chung của virut.
- Kể tên và nêu được sự kiện chính ở 5 giai đoạn trong chu trình nhân lên
của virut.
+ Trong nông nghiệp: cải tạo giống cây trồng, tạo chế phẩm thuốc trừ sâu
có nguồn gốc từ VSV, phân bón cho cây trồng, chế phẩm VSV…
+ Vận dụng kiến thức về VSV trong sản xuất thực phẩm: sản xuất rượu,
bia, các chế phẩm từ sữa…
+ Đánh giá được mức độ quan trọng của vấn đề năng lượng phục vụ con
người, vấn đề lương thực thực phẩm, bảo vệ môi trường, tạo cân bằng sinh thái.
- Năng lực về thực hành:
+ Biết làm thí nghiệm lên men rượu, quan sát hiện tượng lên men.
+ Thực hành được các bước làm sữa chua và muối chua rau quả.
+ Quan sát được hình ảnh của một số vi sinh vật.
+ Phát hiện và vẽ được hình dạng của một số loại vi khuẩn trong khoang
miệng và nấm trong váng dưa.
+ Liên hệ được thực tế để làm được những sản phẩm ngon và đảm bảo kĩ
thuật.
2.3. Quy trình xây dựng
2.3.1. Các nguyên tắc xây dựng câu hỏi PISA
Câu hỏi PISA phải đảm bảo các nguyên tắc chung sau:
- Căn cứ vào mục tiêu dạy học.
- Đảm bảo tính chính xác, khoa học.
- Đảm bảo tính hệ thống.
- Phát huy được tính tích cực học tập của HS.
SV thực hiện: Đỗ Thị Hiền
20
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Việt Nga