Bài tiểu luận: Thất bại thị trường trong cung cấp hàng hóa và dịch vụ y tế công - Pdf 32

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

KHOA: KINH TẾ

MÔN: KINH TẾ CÔNG CỘNG

ĐỀ TÀI: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG TRONG CUNG CẤP HÀNG
HÓA VÀ DỊCH VỤ Y TẾ CÔNG

Giảng viên hướng dẫn : Th.S TRẦN THU VÂN
Sinh viên thực hiện (nhóm 10) : NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN-DT03
: PHAN THỊ PHƯƠNG UYÊN-DT03
: PHAN MINH NGHỊ-DT01
: DƯƠNG THỊ QUYÊN –DT01
: TRẪN THỊ MỸ UYÊN-DT02
: H JI BUÔN KRÔNG-DT03
: LÊ HOÀNG HẢO-DT03

I.

:


2


3


Là những hàng hoá công không thể hoặc rất khó định suất được. Hàng hoá công thuần túy
chia làm 2 loại:
+ Không bị ảnh hưởng khi sử dụng: nghĩa là khi người này sử dụng không gây ảnh hưởng
hoặc gây ảnh hưởng không đáng kể đến người khác.
Ví dụ: ngọn hải đăng, việc con tàu của bạn có sử dụng hay không sử dụng sự chiếu sáng
ngọn hải đăng thì cũng không ảnh hưởng tới những con tàu khác.


4

+ Bị ảnh hưởng khi sử dụng: nghĩa là lượng sử dụng của người này sẽ gây ảnh hưởng đến
người sử dụng khác.
Ví dụ: không khí trong căn phòng, giao thông trên đường vào giờ cao điểm…
ii) Hàng hoá công không thuần túy:
Là hàng hoá công có thể định suất được nhưng phải tốn chi phí.
Ví dụ: chi phí khám bệnh, giáo dục vẫn có thể tính được, ai sử dụng thì người nấy trả tiền
nhưng giá cả có sự quản lý của nhà nước để không dẫn đến quá cao.
2.Hàng hóa dịch vụ y tế
a.Khái niệm:
Hàng hóa dịch vụ y tế là “hàng hóa công cộng” vì nó mang tính không cạnh tranh,
mọi người ai cũng có thể đến các cơ sở y tế để khám chữa bệnh không phân biệt bất kì ai
Nó cũng mang tính không loại trừ vì mọi người đều được hưởng dịch vụ mà không phải
tiền (việc tiêm phòng) nhưng đối với dịch vu y tế điều này chỉ mang tính tương đối. Mang
tính chất “ngoại lai”. Khái niệm “ngoại lai” ở đây là lợi ích không chỉ giới hạn ở những
người trả tiền để hưởng dich vụ mà kể cả những người không trả tiền cũng được hưởng
những lợi ích này.
Ví dụ : Các dịch vu y tế dự phòng , giáo dục sức khỏe có lợi cho mọi người dân trong
khi họ không phải trả tiền để mua các loại dich vụ này. Chính điều này không tạo ra được
động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất.không khuyến khích được việc cung ứng các dịch vụ
này. Do vậy, để đảm bảo đủ cung đáp ứng đủ cho cầu cần có sự can thiệp của nhà nước

dịch vụ y tế cũng như cách chữa bệnh thì bác sĩ không có nhiều cơ hội để bóc lột bệnh
nhân. Tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng giống nhau. Như khi bệnh thì bệnh nhân
giao toàn tính mạng cho bác sĩ nên bệnh nhân cũng không mấy quan tâm đến các dịch vụ
mà bác sĩ cung cấp có giá cả bao nhiêu. Dẫn đến tình trạng chữa bệnh bị bốc lột và mua
thuốc cũng bị nâng giá. Đó là tình trạng bất cập trong cơ chế quản lý dược phẩm. và do
bênh nhân thiếu thông tin thị trường. ngoài ra là do sự yếu kém của công nghệ sản xuất
thuốc trong nước làm người dân thích dùng thuốc tây hơn là dùng thuốc nam để chửa
bệnh.
Thị trường y tế công không phải là thị trường tự do. Trong thị trường tự do, giá của một
mặt hàng dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa người mua và người bán. Trong thị trường
dịch vụ y tế công không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết định
Dịch vụ y tế công là một ngành “dịch vụ có điều kiện”, tức là có sự hạn chế đối với sự
gia nhập thị trường của nhà cung ứng dịch vụ y tế. Muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được
cấp phép hành nghề và cần đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một
cách khác trong thị trường y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo.


6

So sánh giữa thị trường cạnh tranh và thị trường y tế công
Thị trường cạnh tranh

Thị trường y tế công

Có nhiều người bán

Chỉ có một số ít bệnh viện (trừ các
thành phố lớn)

Các hãng tăng tối đa hoa lợi nhuận

chữa bệnh tốt nhưng chi phí rẻ hơn. Vậy trong trường hợp đó bạn sẽ chọn chữa bệnh từ
bác sĩ nào, bệnh viện nào?. Và phần lớn trong trường hợp này, phương pháp thử và sai có
lẽ một một giải pháp tốt cho bạn nếu phân vân không biết chọn bệnh viện nào.
Trong những trường hợp cấp cứu, mọi người ít khi lựa chọn được đến bệnh viện nào.
Và ngay cả khi có thời gian để lựa chọn thì sự lựa chọn đó không phải do họ, mà là do bác
sĩ.


7

ii) thông tin bất cân xứng đối với người mua bảo hiểm y tế
Trong đầu năm 2015 có khoảng 61 triệu người đang tham gia bảo hiểm y tế , đạt
khoảng 69% dân số. Trong số đó có khoảng 14,3 triệu người nghèo và dân tộc thiểu số,
gần 2 triệu người cận nghèo có thẻ bảo hiểm y tế.
Người mua bảo hiểm phần lớn là những người có khả năng mắc bệnh cao, như vậy
công ty bảo hiểm phải chi trả một số tiền lớn cho những người này để bù đắp chi phí họ sẽ
tăng mức phí bảo hiểm cao hơn. Chính vì điều này dẫn đến những người khỏe mạnh sẽ
không tham gia bảo hiểm vì họ cho rằng lúc này, nếu tham gia thì độ hữu dụng của họ rất
thấp mà chi phí lại cao. Cuối cùng chỉ còn lại những người có khả năng mắc bệnh cao mới
đóng bảo hiểm và công ty bảo hiểm sẽ thua lỗ
Tâm lý hành xử tắc trách xuất hiện đối với những người mua bảo hiểm y tế. chẳng hạn
như bạn có bảo hiểm y tế ,bạn sẽ đến bệnh viện khám bệnh thường xuyên hơn so với lúc
bạn chưa mua bảo hiểm
2.Ngoại tác
a.Khái niệm
Ngoại tác được hiểu như là những hoạt động của một chủ thể nhất định nào đó gây
tác động đến các đối tượng này không được đền bù hoặc không phải bị đền bù.
Các chủ thể và đối tượng tác động ở đây có thể là cá nhân hoặc đơn vị hoạt động
sản xuất kinh doanh. Sự tác động của các chủ thể này là sự tác độn tốt hoặc xấu. Các chủ
thể này không chịu bất cứ một trách nhiệm kinh tế nào về sự tắc động của họ, cũng như họ

Hàng hóa y tế công đã mang lại một lợi ích biên MEB, khi đó lợi ích biên của xã hội
MSB = MEB + MB
Chi phí biên thị trường là MC, cũng là chi phí biên của xã hội: MSC = MC
Hiệu quả của thị trường đạt được khi: MB = MC, ta có điểm cân bằng tại E với QE (sản
lượng thị trường) và PE (giá cả thị trường).
Hiệu quả của xã hội đạt được khi: MSB = MSC, ta có điểm cân bằng mới tại E’ với QE’
(sản lượng xã hội) và PE’ (giá cả xã hội).
Tổn thất xã hội là diện tích tam giác BEE’
D (MB)
MEB
MC (MSC)
MSB=MB+MEB
E
E’
QE’
QE
PE
PE’
B
Q
P


10

ii) Ngoại tác tiêu cực:
Tính công bằng chưa phát huy hết công dụng, một số hàng hóa công chưa tay người
nghèo, vùng sâu vùng xa.
Còn tồn tại tình trạng trục lợi, tham nhũng trong đội ngũ y tế.
Đối xử phân biệt giữa những người được hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước và những

IV. Thực trạng cung cấp hàng hóa y tế công ở VN
1.Hệ thống y tế, bệnh viện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật:
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt trong giai đoạn công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng
tăng đi đôi với chất lượng của hệ thống y tế, bệnh viện, cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ
thuật. Hiện nay mạng lưới y tế đã trải rộng khắp nơi từ Trung ương tới các tỉnh, quận
huyện, xã phường, hải đảo các xí nghiệp, trường học để đảm bảo phục vụ chăm sóc sức
khỏe nhân dân kịp thời, hiệu quả và công bằng.
Số
O lượng các cơ sở bao gồm


12

2013
NĂM
TỔNG SỐ
Bệnh viện
Phòng khám đa khoa khu vực
Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi
chức năng
Trạm y tế xã, phường
Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp
Cơ sở khác

13.562
1.069
636
60
11.055



13

người nghèo là hình thức phổ biến nhất. Với hình thức này, cơ quan bảo hiểm y tế cấp thẻ
Bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi… miễn phí
thông qua ngân sách của Nhà nước. Khi có bảo hiểm y tế người dân sẽ được khám chữa
bệnh, phát thuốc miễn phí. Tuy nhiên số lần đến khám bằng bảo hiểm y tế và số lượng
thuốc được cấp bị hạn chế. Ngoài ra còn có các hình thức cấp thẻ khám chữa bệnh miễn
phí, giấy chứng nhận khám chữa bệnh miễn phí, cấp sổ hộ nghèo cũng được áp dụng rộng
rãi ở một số địa phương. Do ngân sách Nhà nước hạn hẹp nên thực tế số lượng người dân
được cấp thẻ khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế vẫn còn ít và khác nhau giữa các tỉnh, huyện.
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh tuyến trên như các bệnh viện tỉnh hay ở bệnh viện
chuyên môn ở các thành phố lớn, mặc dù được miễn giảm viện phí hay phí khám chữa
bệnh tuy nhiên người dân đặc biệt là người nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn do các chi phí
phát sinh như chi phí đi lại, ăn ở…Do tình trạng quá tải xảy ra thường xuyên ở các bệnh
viện tuyến trên nên công tác chăm khám chữa bệnh chưa được đảm bảo. Nhiều bệnh nhân
lên các bệnh viện chuyên môn lớn ở các thành phố bị rất nhiều khó khăn trong các thủ tục
giấy tờ, mất thời gian chờ đợi, tỷ lệ được bảo hiểm y tế thanh toán còn thấp, bệnh nhân đi
khám chữa bệnh nội trú hay ngoại trú được hỗ trợ thông qua hình thức miễn giảm là chính.
Hiện nay các bệnh viện lớn đã xuất hiện hình thức khám chữa bệnh theo dịch vụ tức là bỏ
tiền thêm để không phải mất thời gian, thủ tục sẽ làm nhanh hơn. Cho nên tuyến y tế cơ sở
là nơi đem lại lợi ích nhiều hơn cho người nghèo. Một hiện trạng còn xảy ra ở hầu hết các
bệnh viện trên cả nước là chất lượng chăm sóc y tế cho người dân được miễn phí kém hơn
so với các bệnh nhân trả tiền. Chi phí khám chữa bệnh cho những bệnh nhân này thấp nhất
ở các địa phương, trong đó có các chi phí thuốc men. Do đó, những bệnh nhân này có thể
đã được chữa bệnh với số lượng thuốc ít hơn và rẻ hơn so với các bệnh nhân trả tiền, điều
này không thể đảm bảo chất lượng chữa bệnh cho người dân. Một loại phí rất phổ biến
hiện nay khi đến các cơ sở khám chữa bệnh hiện nay là viện phí. Viện phí được xem như
món tiền của người bệnh tự chi trả trực tiếp cho các cơ sở y tế sau khi “mua” các dịch vụ y

quá dễ dãi sẽ dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm trọng, năng suất phục vụ thấp, y đức sa
sút…Bên cạnh đó, vẫn tồn tại sự mất cân đối trong phân bổ cán bộ y tế giữa các tuyến.
Việc đưa bác sĩ về xã để người nghèo, vùng nông thôn tăng khả năng tiếp cận với kỹ thuật
cao hơn vẫn đang trong quá trình giải quyết. Tình trạng nhiều bệnh viện thiếu cán bộ, thậm
chí ở một số nơi số lượng bệnh nhân rất nhiều nhưng chỉ có một vài bác sĩ làm việc. Điều
này gây ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng khám chữa bệnh cho người dân, dễ xảy ra tình
trạng khám qua loa, đội ngũ y bác sĩ nếu không có đủ y đức sẽ nhanh nản lòng và làm việc
không hết sức mình, phục vụ bệnh nhân không tận tình.
Một hiện trạng cũng hết sức cấp bách hiện nay đó là về ngành dược và các thiết bị y
tế. Hiện nay trên thị trường nổi cộm lên vấn đề cho thuê bằng dược sĩ để mở tiệm thuốc
tây. Theo quy định của Pháp lệnh về hành nghề y dược tư nhân, thì những dược sĩ đứng
tên xin giấy phép phải có mặt nơi kinh doanh. Người đang làm việc trong các cơ sở y,
dược Nhà nước chỉ được hành nghề ngoài giờ khi có sự đồng ý bằng văn bản của thủ
trưởng cơ quan. Thế nhưng Nhà nước đưa ra pháp lệnh nhưng không có người giám sát
chặt chẽ, thường xuyên kiểm tra nên hiện nay hàng loạt các nhà thuốc tư nhân mà người
bán thuốc không phải là người có tên trong giấy phép đang kí kinh doanh. Việc cho thuê
bằng trái phép và để người không có trình độ bán thuốc có thể dẫn tới những hệ lụy tiêu
cực đối với người tiêu dùng. Đó là bán thuốc không theo toa chỉ định, bán không đúng giá
thị trường theo quy định của Bộ y tế, thậm chí nguy hiểm hơn là bán nhầm thuốc. Người
dân luôn tin tưởng vào đội ngũ y bác sĩ dược sĩ thế nên những tình trạng trên cần được
chấm dứt và có biện pháp khắc phục sớm.


15

4.Quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc:
Thuốc đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe
người dân, là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm đảm bảo mục tiêu sức khỏe cho mọi
người.
Theo Bộ Y tế, tính đến tháng 11-2014, có 133 dây chuyền sản xuất thuốc đạt tiêu

y tế đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cách đây sáu năm, vào năm 2008


16

ngân sách nhà nước chi cho y tế chỉ chiếm 4,92% tổng chi thì đến những năm gần đây, tỷ
lệ này là 8,28%.Theo Báo cáo về thực trạng hệ thống y tế Việt Nam, mức tăng chi của
ngân sách nhà nước chủ yếu để dành cho y tế dự phòng, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng y tế
bằng các dự án như: nâng cấp hệ thống y tế cấp huyện, tỉnh và trung ương. Ngoài ra, mức
tăng chi này còn do tăng chi bảo hiểm y tế (BHYT). Cùng với việc tăng chi từ ngân sách
nhà nước, tỷ lệ chi trả từ tiền túi của người dân cho các dịch vụ y tế vẫn đang "cao ngất
ngưởng" so với nhiều nước trong khu vực. Cụ thể, theo số liệu từ Tài khoản y tế quốc gia,
nếu năm 2004, tính trung bình mỗi hộ gia đình phải chi 126,4 nghìn đồng mỗi tháng cho y
tế thì đến năm 2010 số tiền này đã tăng lên gần gấp đôi là 243 nghìn đồng và theo xu
hướng tiếp tục tăng trong những năm gần đây. So với nhiều nước có cùng điều kiện kinh tế
trong khu vực thì hệ thống y tế nước ta đang kém ưu thế hơn. Thí dụ như tỷ lệ chi từ tiền
túi các hộ gia đình ở Thái Lan chi phí cho y tế khoảng 13,1%, In-đô-nê-xi-a khoảng 45%,
Ma-lai-xi-a khoảng 35% và trung bình chung của toàn thế giới khoảng xấp xỉ 20%. WHO
đã từng khuyến cáo, để bảo đảm cho sự an toàn đối với chi tiêu gia đình thì tỷ lệ chi cho
các dịch vụ y tế chỉ nên chiếm khoảng 20% đến 30% tổng chi. Trong cơ cấu ngân sách cho
khu vực chữa bệnh có sự mất cân đối khá rõ ràng. Cho dù Nhà nước ưu tiên đầu tư theo
đầu người cao hơn cho vùng núi, vùng nghèo, song khả năng đóng góp của cộng đồng qua
viện phí và bảo hiểm y tế lại rất hạn chế dẫn tới mức chi y tế bình quân đầu người chênh
lệch giữa các vùng khá lớn. Vùng càng nghèo mức chi y tế bình quân càng thấp. Điều này
làm tính công bằng của hệ thống y tế càng thấp, người dân tiếp cận được với các dịch vụ y
tế xuất phát chủ yếu từ khả năng chi trả hơn là nhu cầu chăm sóc sức khỏe, người nghèo
càng khó tiếp cận với các dịch vụ y tế. Xu hướng người dân sử dụng trạm y tế xã và bệnh
viện huyện đang tăng dần, tỷ lệ đến y tế tư nhân giảm đi cho thấy các dịch vụ y tế công
hiện nay đang dần phục hồi và có sức hút nhiều hơn. Tuy nhiên sự thiếu công bằng vẫn
xảy ra khá rõ giữa nhóm người trả tiền sử dụng hình thức khám dịch vụ và nhóm người sử

mọi người vì một người. Chính phủ cũng cần cấp Bảo hiểm y tế miễn phí cho người
nghèo. Với hình thức này, cơ quan bảo hiểm y tế cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho người nghèo,
người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi… miễn phí thông qua ngân sách của Nhà nước.
Đề hạn chế tâm lý hành xử tắc trách cuả người mua bảo hiểm thì có thể hạn chế số
lần khám chữa bệnh đối với một thẻ y tế. ví dụ như một thẻ bảo hiểm y tế một năm có thể
khám và chữa bệnh tối đa 10 lần (Nếu quá 10 lần thì sẽ có giải pháp khác như: phải đóng
70% tiền khám, chữa bệnh, hoặc đóng thêm tiền để gia hạn số lần chữa bệnh cho thẻ bảo
hiểm….)


18

2.Đề xuất giải pháp về vấn đề ngoại tác trong y tế công
a.Giải pháp cho ngoại tác tích cực trong y tế công
Chính phủ đã thực hiện hình thức trợ giá hoặc bù lỗ, sử dụng hình
thức trợ cấp bằng hiện vật : dược phẩm, dụng cụ y tế, cơ sở hạ tầng- vật chất để tăng sản
lượng hàng hóa cung ứng .
A
PA
D (MB)
MEB
MC (MSC)
MSB=MB+MEB
E
E’
QE’
QE
PE’
B
Q

Có những chính sách khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, khuyết tật, thương
binh, liệt sỹ…. Đồng thời cũng trang bị trang thiết bị, bác sỹ có tay nghề cũng như các loại
thuốc , vắc xin đến vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo
3.Chính sách cạnh tranh cung ứng dịch vụ kinh tế :
Nhận thức được thực trạng cung cấp hàng hóa y tế công ở Việt Nam vẫn còn diễn ra
một số vấn đề về ngân sách, nguồn lực, sự giám sát và minh bạch cũng như tính hiệu quả
chưa hẳn là cao của 5 đề xuất trên. Chính phủ luôn nghiên cứu, tìm tòi , học tập những
giải pháp thiết thực hơn cả về cung cấp dịch vụ kinh tế. Được nhắc đến trong những năm
gần đây chính là đề xuất thực hiện cho các nhà đầu tư cạnh tranh về cung ứng dịch vụ kinh
tế.
Việt Nam đã rất nỗ lực để đảm bảo tạo ra một sân chơi công bằng, minh bạch nhằm
thu hút các nhà thầu trong và ngoài nước có năng lực tham gia cung cấp hàng hóa y tế…
Theo đó, thông qua đấu thầu, công tác quản lý trong lĩnh vực đầu tư y tế của Nhà nước
ngày càng được nâng cao, nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả, nhân dân được tiếp cận
một cách dễ dàng với dịch vụ khám và chữa bệnh.
Đó chính là chính sách cạnh tranh cung ứng dịch vụ y tế mà chính phủ Việt Nam
đang từng bước chiển khai. Và chúng ta đi đến những cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề này :
a.Khái niệm
Cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế phản ánh quan hệ giữa các chủ thể kinh tế
trong việc tranh giành những lợi thế cho bản thân bằng nhiều phương pháp thích hợp để
cung ứng dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe phục vụ mọi tầng lớp nhân dân một cách hiệu
quả và công bằng theo đúng mục tiêu đã cam kết.
b.Tính chất
Cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế do tính chất đặc thù của ngành liên quan đến
sức khỏe con người và mạng sống con người do vậy cạnh tranh trong lĩnh vực này luôn bị
giới hạn và ràng buộc hay nằm trong sự kiểm soát nhất định của các quy định hành chính
nhà nước. Cạnh tranh có kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan chức năng của nhà nước.
c. Mục tiêu khi thực hiện chính sách
Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mang lại nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế
quốc dân. Đặc biệt, khi tham gia đấu thầu các nhà đầu tư phải sử dụng mọi biện pháp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status