Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý sử dụng NSNN cho sự nghiệp giáo dục THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên - Pdf 32

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
Năm học....................................................................................................17
Trịnh Quốc Huy Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển đi lên đều phải nhờ nhân tố con người.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội và
được coi là nguồn lực năng quan trọng nhất trong mọi nguồn lực. Sự xuất hiện của
nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá là tất yếu của thời đại. Nếu kinh tế tri
thức là sản phẩm của giáo dục còn toàn cầu hoá là tất yếu của thời đại thì toàn cầu
hoá tựa như một dòng thác đặt các quốc gia vào sự lựa chọn là sẽ bị nhấn chìm,
hoặc là hội nhập để tạo thêm sức mạnh. GD trở thành sự hưng vong của mỗi quốc
gia. Chính vì điều đó, Hiến pháp năm 1992 nước ta quy dịnh rõ: Sự nghiệp GD -
ĐT là sự nghiệp của toàn xã hội, nhưng vai trò chủ đạo thuộc về Nhà Nước, Nhà
Nước phải có trách nhiệm ưu tiên, đầu tư về vốn cho sự phát triển của GD. Và
Đảng ta đã khẳng định: “ GD - ĐT cùng với khoa học công nghệ là quốc sách
hàng đầu”.
Xác định được vai trò và tầm quan trọng của GD - ĐT, những năm qua Đảng
và Nhà Nước luôn coi trọng sự nghiệp GD - ĐT. Hàng năm, NSNN đầu tư một khoản
kinh phí khá lớn cho GD - ĐT nhưng thực ra nguồn kinh phí đó vẫn còn khiêm tốn so
với yêu cầu cho đào tạo không ngừng gia tăng như hiện nay. Do đó, hoàn thiện việc
sử dụng và đổi mới về tổ chức quản lý kinh phí GD - ĐT là vấn đề vô cùng quan
trọng và cấp thiết.
Nhận thức được vấn đề đó, qua quá trình học tập, nghiên cứu ở trường và thời
gian thực tập ở phòng Kế hoạch ngân sách thuộc Sở Tài chính Hưng Yên, em đi sâu
nghiên cứu “ Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý sử dụng NSNN cho sự
nghiệp giáo dục THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.” với mong muốn góp một vài
ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN cho sự nghiệp GD THPT ở Hưng
Yên.

hiện nay, bước vào thời kỳ CNH – HĐH cần phải phát triển một cách mạnh mẽ nền
giáo dục.
Giáo dục được coi là hoạt động sản xuất đặc biệt trong tất cả các hoạt động
bởi đầu vào và đầu ra đều là con người. Nhưng con người đầu ra khác với con người
đầu vào ở trí thức khoa học và những phẩm chất tốt đẹp. Những trí thức và phẩm chất
đó không chỉ là kiến thức, năng lực, mà còn bao gồm cả sự xã hội hoá về lao động, ý
thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm. Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì
Giáo dục trước hết là sự tác động của nhân cách này đến nhân cách khác, tác động
của nhà giáo với những người được GD và thông qua các hoạt động của người học
thực hiện trong các mối quan hệ xã hội mà nhân cách người học được hình thành và
phát triển.
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người. Các nhà nghiên
cứu lịch sử GD, xã hội học và các nền văn minh trước đây đều khẳng định con người
luôn sống trong các trình độ xã hội nhất định. Khi đó con người được xem là “ con
người xã hội” mà xã hội thì phát triển và tiến bộ không ngừng. Xưa nay, muốn xã hội
có thể tồn tại và phát triển, Giáo dục luôn tồn tại như là một nhân tố đảm bảo cho sự
phát triển, điều này có nghĩa là không thể tách rời GD ra khỏi đời sống xã hội. Nói
Trịnh Quốc Huy 3 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cách khác, không có GD đứng ngoài xã hội, không có xã hội nào có thể phát triển đi
lên mà không gắn liền với vai trò lịch sử của GD.
Sự nghiệp GD không thể thực hiện trong một thời gian ngắn, một sớm một
chiều mà là cả một quá trình diễn ra trong nhiều năm liên tục theo các bậc học khác
nhau từ Mầm Non, Tiểu học đến THCS, THPT. Từ đó cho thấy GD THPT là một bộ
phận rất quan trọng – là bộ phận cuối cùng của toàn bộ quá trình GD Phổ thông. Quá
trình GD THPT được thực hiện trong 3 năm học liên tục từ lớp 10 đến lớp 12. Đây là
bậc học chuyển tiếp từ nâng cao dân trí ( THCS ) lên một bước phát triển cao hơn là
đào tạo nhân tài ( ĐH, CĐ, THCN...) nên nó chiếm một vị trí vô cùng quan trọng và
rất cần được quan tâm và phát triển hơn nữa.
1.1.2. Vai trò của GD THPT trong quá trình phát triển KT – XH cuả

nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi
đói nghèo, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”.
GD THPT có vị trí và vai trò hết sức quan trọng. Do đó GD THPT phải giúp
học sinh củng cố và phát huy những kết quả của GD THCS, hoàn thiện học vấn phổ
thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học
tiếp lên ĐH, CĐ, THCN hoặc là đi vào cuộc sống lao động. Vì vậy, có thể nói GD
THPT không thể thiếu được trong tiến trình phát triển KT – XH của đất nước.
Chính vì tầm quan trọng đặc biệt của GD mà chúng ta cần phải phát triển
GD trên cả ba mặt: Một là: mở rộng quy mô. Hai là: nâng cao chất lượng. Ba là:
phát huy hiệu quả. Điều đó đòi hỏi phải đưa được sự nghiệp GD phát triển trong
toàn xã hội, vào mọi ngành mọi lĩnh vực, mọi địa phương, mọi vùng miền và áp
dụng cho mọi lứa tuổi, mọi trình độ. Và một trong những nguồn lực chiếm vị trí
then chốt đó là sự đầu tư vốn bằng tiền, cơ sở vật chất từ Nhà Nước. Ở nước ta
hiện nay nguồn vốn NSNN chi cho GD luôn chiếm tỷ trọng lớn ( trong đó có GD
THPT ) và là một khoản chi quan trọng của NSNN.
1.1.3. Chiến lược GD của Đảng & Nhà Nước ta những năm tới
Đảng và Nhà Nước ta luôn coi trọng sự nghiệp “ trồng người”, và luôn xác định “
GD là quốc sách hàng đầu”, đầu tư nguồn lực một cách thoả đáng nhằm phát triển GD
theo đúng địng hướng XHCN. Các quan điểm mà Đảng & Nhà Nước ta đưa ra là:
Trịnh Quốc Huy 5 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung, phương pháp GD - ĐT, trong các
chính sách nhất là các chính sách tạo công bằng xã hội. Vận dụng sáng tạo và phát triển
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để kế thừa, phát huy những giá trị văn
hoá tốt đẹp của dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa, trí tuệ của nhân loại để hình thành
lý luận về định hướng phát triển của đất nước, con đường đi lên XHCN.
- Coi GD là quốc sách hàng đầu: Đây là quan điểm đã được nêu lên từ Đại
Hội Đảng khóa VII đến nay và đã được cụ thể hoá bằng các chính sách, chủ trương
của Nhà Nước, bằng các biện pháp chỉ đạo và tổ chức thực hiện đi sâu, sát của các
ngành, các cấp. Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với GD, đặc biệt là các

kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước...
Các nguồn khác bao gồm: Các khoản được biếu tặng bằng hiện vật như SGK,
máy vi tính, đồ dùng thí nghiệm, bàn ghế... của các tổ chức kinh tế, đoàn thể, các tổ
chức xã hội...
Mặc dù sự nghiệp GD THPT được phát triển từ nhiều nguồn vốn khác nhau
nhưng nguồn vốn từ NSNN vẫn chiếm vị trí quan trọng và tỷ trọng lớn nhất. Vai trò
của NSNN được thể hiện cụ thể qua các khía cạnh sau:
• Thứ nhất: NSNN có vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển
GD THPT theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà Nước ta. Thông qua
định mức, cơ cấu thu, chi NSNN cho GD THPT, chúng ta thực hiện việc điều phối cơ
cấu GD THPT giữa các địa phương, giữa cấp bậc GD THPT và các cấp bậc khác, tạo
nên sự phát triển đồng đều cho GD THPT trong cả nước nhằm tạo một hệ thống GD
THPT toàn diện, đạt hiệu quả cao.
• Thứ hai: Chi NSNN cho GD THPT là một khoản đầu tư chiếm tỷ trọng
lớn nhất tạo ra cơ sở vật chất, mua sắm, và sửa chữa trang thiết bị đồ dùng giảng dạy.
Đây là khoản chi hết sức cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng GD THPT.
• Thứ ba: Đầu tư của NSNN tạo điều kiện để khuyến khích nhân dân cùng
đóng góp xây dựng, tăng cường cơ sở vật chất để phục vụ cho công tác giảng dạy
được tốt hơn, thu hút các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội cùng tham gia
chăm lo cho sự nghiệp GD THPT.
Trịnh Quốc Huy 7 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Thứ tư: NSNN là nguồn tài chính cơ bản đảm bảo đời sống cho đội ngũ
cán bộ giáo viên giảng dạy, đội ngũ cán bộ quản lý hành chính của toàn hệ thống GD
THPT. NSNN ngoài việc đảm bảo tiền lương hàng tháng cho cán bộ, giáo viên còn
dành một phần ưu đãi riêng cho như: phụ cấp giảng dạy, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp dạy
thêm giờ. Việc đảm bảo vật chất cho cán bộ, giáo viên chính là việc bù đắp và tái sản
xuất sức lao động của họ.
1.2.3. Nội dung chi NSNN cho hệ thống GD THPT
Theo điều 1 Luật NSNN thì: “ NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà

Nhóm 2: Chi cho chuyên môn nghiệp vụ
Nhóm chi này bao gồm các khoản chi về giảng dạy học tập: mua sắm trang
thiết bị, đồ dùng giảng dạy như: sách giáo khoa, tài liệu tham khảo cho giáo viên, đồ
dùng học tập, vật liệu, hoá chất thí nghiệm, phấn viết bảng... Đây là khoản chi hết sức
cần thiết, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng GD THPT, do đó cần phải hết sức
chú trọng đến nhóm chi này. Số chi cho nhóm này được dự kiến kỳ kế hoạch là tổng
số chi dự kiến của các nhóm mục chi kể trên.
Nhóm 3: Chi quản lý hành chính
Đây là khoản chi nhằm đảm bảo nhu cầu vật chất phục vụ cho hoạt động của
nhà trường. Thuộc nhóm chi này gồm có các khoản chi:
+ Chi trả tiền điện, nước tại các trường.
+ Chi phí văn phòng phẩm tại các phòng làm việc.
+ Chi trả dịch vụ bưu điện, điện thoại…
+ Chi công tác phí, hội phí, công vụ phí…
Các khoản chi này phục vụ chung cho công tác quản lý hành chính của các
trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, giáo viên trong việc tổ chức quản lý
trường lớp. Mức độ chi nhiều hay ít cho mỗi trường sẽ phụ thuộc vào quy mô và
công tác quản lý hành chính kèm theo của mỗi trường.
Nhóm 4: Các khoản chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản và
xây dựng nhỏ
Các khoản chi cho nhóm này phụ thuộc vào tình trạng nhà cửa, trang thiết bị của
các truờng. Hàng năm do nhu cầu hoạt động, và sự xuống cấp của các tài sản cố định
Trịnh Quốc Huy 9 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dùng cho các hoạt động HCSN nên sẽ phát sinh nhu cầu về kinh phí cần có để mua sắm,
trang bị thêm hoặc là phải phục hồi giá trị của tài sản cố định ở các trường THPT. Mỗi
năm các đơn vị sẽ dành một phần trong tổng số HMKP được cấp để trang trải cho những
chi phí này ( còn xây dựng nhỏ được cấp từ nguồn NSNN ).
1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng tới mức độ, cơ cấu, nội dung chi của
NSNN cho hệ thống GD THPT

nhiệm.
1.3.2. Quy trình quản lý sử dụng NSNN cho sự nghiệp GD THPT ở cấp tỉnh
S    quy trình qun lý s  dng NSNN cho GD THPT  tnh
Hng Yên
• Hội đồng nhân dân
Trịnh Quốc Huy 11 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Dự toán thu chi ngân sách địa phương
Quyết định phân bổ dự toán ngân sách địa phương
Phê chuẩn quyết toán, quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách
Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định
• Ủy ban nhân dân
Lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương
Dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợ cần thiết trình
HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan tài chính cấp trên.
• Sở Tài Chính
Xây dựng các văn bản quy định về việc thu phí, lệ phí.
Lập phương án phân bổ dự toán Ngân sách cho GD THPT trình UBND tỉnh
xem xét để trình HĐND tỉnh quyết định
Quản lý, xem xét, kiểm tra về mặt tài chính đối với Ngân sách đã được
quyết định
Tạm ngừng cấp phát và xuất toán những khoản chi không đúng mục đích, sai
nguyên tắc
Thông báo hạn mức kinh phí cho các trường THPT
• Kho bạc Nhà nước
Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện hạch toán kế toán ngân sách nhà nước;
định kỳ báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách cho cơ quan tài chính cùng
cấp và cơ quan nhà nước hữu quan.
Quản lý nhà nước về các khoản quỹ, NSNN
Kiểm soát và thực hiện việc nhập, xuất quỹ tài chính

Hưng Yên là một tỉnh mới được tái thành lập từ 01/ 01/ 1997 sau gần 30 năm
sáp nhập với tỉnh Hải Dương. Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng,
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hưng Yên có vị trí địa lý thuận lợi để
phát triển KT – XH.
Toàn tỉnh hiện có 10 huyện, thành phố với 161 xã, phường, thị trấn; có tổng
diện tích tự nhiên là 923 km
2
, trong đó 100% là đồng bằng. Hưng Yên nằm ở vùng
châu thổ sông Hồng nên đất đai phì nhiêu, mầu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây
trồng như nhãn, đay, lạc, ngô, mía, khoai, sắn...
Dân số của tỉnh là 1.128.702 người với mật độ dân số trung bình khoảng 1.223
người/ km
2
, số lao động trong độ tuổi lao động là trên 600.000 người, chiếm gần 50%
dân số toàn tỉnh trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 70%. Hưng Yên là một
tỉnh thuần nông, trình độ dân trí còn thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao nên nguồn thu NSNN
trên địa bàn còn thấp, cơ sở hạ tầng và các thiết chế văn hoá - xã hội đã xuống cấp
nghiêm trọng nên phải đầu tư lớn cho XDCB.
Song từ năm 1997 – 2009, cùng với sự phát triển chung của đất nước, Hưng
Yên trong những năm vừa qua được sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ- HĐND – UBND tỉnh
và sự cố gắng nỗ lực của các ngành, các địa phương trong tỉnh đã phấn đấu đạt được
những thành tích đáng kể:
Về kinh tế: Hàng năm mục tiêu phát triển kinh tế bình quân đã đạt kế hoạch
đặt ra: Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình quân 7,5%. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp –
Trịnh Quốc Huy 14 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
công nghiệp xây dựng – dịch vụ là 27,06% - 42,36% - 30,58%. Thu nhập bình quân
đầu người năm 2009 là 860 USD

Về công tác tài chính:Tổng thu ngân sách trên địa bàn 2.381 tỷ đồng (trong

Về y tế : Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Tổ chức tốt
công tác khám, chữa bệnh cho người nghèo, đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi.
Triển khai thực hiện tốt các dự án đầu tư xây dựng theo quyết định số 47/2008/QĐ-
TTg của Thủ tướng Chính phủ, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh.
Công tác phòng chống HIV/AIDS được quan tâm, đảm bảo trên 80% số người nhiễm
HIV/AIDS được quản lý tại cộng đồng.
Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được quan tâm, mở rộng các hoạt động
truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi, duy trì tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên dưới
0,95%.
Về văn hoá - xã hội : cũng phát triển mạnh mẽ, đa dạng. Tỉnh có nhiều di tích
lịch sử, đặc biệt khu di tích lịch sử như đền thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão đời nhà
trần thế kỷ 13 ( huyện Ân Thi ), hay đền thờ Nguyên Phi ỷ Lan ( huyện Văn Lâm ),
đền thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung ( huyện Khoái Châu ) hàng năm thu hút khá
nhiều khách thập phương.
2.1.2. Vài nét về hoạt động GD THPT trên địa bàn Hưng Yên trong thời
gian qua
Nhận thức rõ tầm quan trọng của sự nghiệp GD đối với sự phát triển KT - XH
của tỉnh, đặc biệt là GD THPT – là cấp bậc kết thúc của việc nâng cao dân trí ( THCS
) và là bước chuyển tiếp lên việc nâng cao nhân lực (THPT ), làm cơ sở cho việc đào
tạo nhân tài ( ĐH, CĐ, THCN...) sau này nên các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân
dân toàn tỉnh đã khắc phục mọi khó khăn, cùng nhau đầu tư sức người, sức của vào
sự nghiệp GD THPT. Tỷ lệ chi cho con người trong GD THPT là tương đối cao trong
những năm gần đây, vào khoảng 80 – 85%. Chính vì được sự quan tâm hết mình của
các ngành, các cấp mà GD THPT đã đạt được những kết quả đáng kể, điều đó thể
hiện rõ ở chất lượng, quy mô và các hình thức GD THPT phong phú.
Trước hết nói về hệ thống trường lớp: Hiện nay ở Hưng Yên đang tồn tại 2
loại hình GD THPT , đó là các trường công lập và dân lập trong đó hệ thống trường
Trịnh Quốc Huy 16 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
công lập luôn giữ vai trò nòng cốt, luôn đảm bảo về chất lượng giảng dạy – học tập

Qua bảng số liệu ta thấy số giáo viên năm 2008 –2009 tăng 123 người so với
năm học trước, năm 2009 – 2010 tăng 162 người so với 2001 – 2002 . Đội ngũ giáo
viên hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng giảng dạy, trình độ
chuyên môn không ngừng được nâng cao thông qua việc các cấp lãnh đạo tạo điều
kiện cho giáo viên của các trường đi học nâng cao chuyên môn dưới nhiều hình thức
như bồi dưỡng thường xuyên, học cao học, thi giáo viên dạy giỏi. Đội ngũ giáo viên
luôn tâm huyết với nghề, cống hiến và luôn nỗ lực hết mình cho sự nghiệp GD
THPT. Đến năm 2009, số giáo viên đạt chuẩn hoá là 95%, đạt trên chuẩn là 8.8%.
Về chất lượng GD THPT : Phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm: chất lượng
giảng dạy của đội ngũ giáo viên, nền tảng cơ sở và chất lượng giáo dục ở các cấp bậc
dưới ( Tiểu học và THCS ), phụ thuộc vào sự quan tâm đầu tư của các ngành các cấp
đối với công tác GD THPT... Để đánh giá được chất lượng GD THPT là cao hay
thấp, người ta thường xem xét trên các tiêu chí sau:
+ Tỷ lệ học sinh xếp loại học lực, xếp loại văn hoá.
+ Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp tú tài.
+ Tỷ lệ học sinh đỗ ĐH, CĐ, THCN.
Chất lượng GD THPT được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 3: Chất lượng GD THPT năm học 2007 – 2008 và 2008 – 2009
Năm học
Xếp loại văn hoá Xếp loại hạnh kiểm
Giỏi
( % )
Khá
( % )
TB
( %)
Y- K
( % )
Tốt
( %)

chủ trương xây dựng Quỹ khuyến học Hưng Yên và có biên chế để hoạt động khuyến
học đạt hiệu quả cao.
Bên cạnh những ưu điểm trên còn tồn tại một số khó khăn, chất lượng GD
THPT ở thành phố thường cao hơn so với một số huyện, và có một số huyện chất
lượng học tập lại hơn hẳn các huyện khác như Khoái Châu, Văn Lâm, Văn Giang,
Mỹ Hào. Việc cải tiến phương pháp dạy chưa được thường xuyên, chưa đồng đều
trong giáo viên, các hoạt động ngoại khoá ở một số trường chưa được chưa được
chú trọng đúng mức. Công tác GD đạo đức cho học sinh có lúc, có nơi chưa thực
sự được coi trọng.
2.2. Thực trạng phân bổ NSNN cho GD THPT ở Hưng Yên hiện nay
Chi từ NSNN cho GD THPT là một khoản chi tương đối quan trọng, mức độ
chi cho GD THPT phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà trong đó phải kể đến yếu tố
Trịnh Quốc Huy 19 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quyết định nhất đó là nguồn thu. Hưng Yên là một tỉnh thuần nông do đó nguồn thu
rất hạn hẹp, trong vài năm trở lại đây, cùng với sự phát triển chung của đất nước,
Hưng Yên cũng có sự thay đổi đáng kể, ngành công nghiệp bước đầu phát triển với
các khu công nghiệp được xây dựng lên nhưng nhìn chung tổng thu của tỉnh vẫn khá
thấp so với các tỉnh khác. Có thể thấy được tình hình thu chi của NSNN tỉnh trong
các năm gần đây qua bảng số liệu sau :
Bảng 4 : Tình hình thu chi NS tỉnh trong 2 năm: 2008, 2009
Đơn vị : Tỷ đồng.
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2
009
Số tiền Số tiền TH so
với 2008
( % )
Kế
hoạch

4. Hỗ trợ các DN cung cấp HH,DV công ích 2.480 2.500
II. Trả nợ vay đầu tư XDCB 25.000 15.000
III. Chi thường xuyên 1.253.325 1.594.928
1. Chi trợ giá, trợ cước 2.957 3.644
2. Chi sự nghiệp kinh tế 133.481 248.347
3. Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề 449.926 640.354
4. Chi SN y tế 116.315 164.175
5. Chi SN Khoa học và công nghệ 9.866 16.319
6. Chi SN Văn hoá - Thể thao - Du lịch 18.953 28.810
7. Chi SN phát thanh truyền hình 13.078 15.552
8. Chi đảm bảo xã hội 97.951 112.761
9. Chi quản lý hành chính 310.739 258.120
10. Chi an ninh quốc phòng địa phương 41.864 33.368
11. Chi khác ngân sách 29.815 18.229
12. Hoạt động sự nghiệp môi trường 28.380 55.249
IV- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 1.500 2.000
V- Chi chương trình mục tiêu Quốc gia 77.887 70.293
B/ Chi từ nguồn thu Xổ số kiến thiết 5.000 5.000
Ngun s liu: Phòng K hoch Ngân sách - S Tài Chính Hng Yên
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng chi toàn tỉnh tăng lên theo thời
gian, do đó số chi của các mục chi hầu như luôn tăng lên qua từng năm cả về số tuyệt
đối và tỷ trọng. Chi cho Đầu Tư XDCB và chi cho sự nghiệp GD - ĐT chiếm tỷ trọng
lớn nhất. Chi cho sự nghiệp GD - ĐT là một trong những khoản chi lớn trong cơ cấu
chi NSNN, hàng năm có tốc độ tăng tương đối cao, cao hơn cả tăng chi cho QP –
AN. NSNN tỉnh đảm bảo khoảng trên 70% tổng nguồn vốn đầu tư cho GD - ĐT, một
mặt đảm bảo việc chi tiền lương, phụ cấp lương và các chế độ chính sách cho toàn bộ
Trịnh Quốc Huy 21 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ trong ngành GD - ĐT, tránh
tình trạng chậm trả lương và nợ lương của giáo viên vẫn xảy ra trước đây, mặt khác

nghiệp GD THPT nói riêng, điều đó thể hiện ở việc tăng chi NS cho GD THPT trong
2 năm qua cả về kế hoạch và thực tế.
Trịnh Quốc Huy 22 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Về kế hoạch: Năm 2008 kế hoạch chi là 52.690 ( trđ ), năm 2009 kế hoạch chi
là 87.624 ( trđ ), tăng 66,3% so với kế hoạch năm 2008, Trên thực tế số chi cho GD
THPT trong 2 năm tăng lên so với kế hoạch. Năm 2008 số chi thực tế là 61.342
( trđ ), năm 2009 là 99.949 ( trđ ), tăng 62,9%.Giữa số chi thực tế và kế hoạch từng
năm luôn có sự chênh lệch tăng lên. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi ta thấy
Hưng Yên luôn thực hiện tốt kế hoạch đề ra, năm 2008 thực hiện đạt 116,4 %so với
kế hoạch hay tăng 16,4%, năm 2009 đạt 114,06% so với kế hoạch. Số chi các năm
luôn tăng lên so với kế hoạch là do đầu tư nâng cấp cơ sở trường lớp ở các trường
THPT, tăng lương cho CBCNV, làm phát sinh các khoản chi ngoài kế hoạch. Mặc dù
vậy, Sở Tài Chính đã phối hợp với các ban ngành kịp thời điều chỉnh, đảm bảo đủ
kinh phí đáp ứng cho số tăng thêm đó. Qua đó ta thấy Hưng Yên là tỉnh luôn coi
trọng kế hoạch đã lập ra và luôn đảm bảo đầy đủ kinh phí sẵn sàng cấp phát kịp thời
theo đúng kế hoạch và nâng cao tính khả thi của dự toán chi.
Để có thể nhìn nhận một cách tổng quát hơn về tình hình đầu tư, mức độ đầu
tư cho GD THPT ta đi xêm xét tổng số chi NSNN cho sự nghiệp GD toàn tỉnh và tỷ
trọng chi NSNN tỉnh cho GD THPT trong số chi đó.
Bảng 7 : Tỷ trọng số chi cho GD THPT trong tổng số chi NSNN Cho sự
nghiệp giáo dục
Đơn vị: Triệu đồng.
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
Tổng chi NS cho sự nghiệp GD - ĐT 449.926 640.354
Trịnh Quốc Huy 23 Quản lý công 48
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Số chi NSNN cho GD THPT
Tỷ trọng so với tổng chi NSNN cho sự nghiệp
GD - ĐT.

Kế
Hoạch
Thực
hiện
Tỷ
trọng
(%)
Chênh
lệch
Tỷ
Trọng
(%)
Trịnh Quốc Huy 24 Quản lý công 48


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status