Biểu tượng nghệ thuật trong truyện ngắn nguyễn minh châu - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------

ĐỖ THỊ TỐT

BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TIÊU BIỂU TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học

ThS, GV. HOÀNG THỊ DUYÊN

Hà Nội – 2013


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô khoa Ngữ văn, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã đào tạo tôi trong suốt 4 năm học. Đặc biệt, tôi xin gửi
lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ThS, GV. Hoàng Thị Duyên, người đã
nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ trong suốt quá trình tôi làm khóa luận.
Qua đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Thư viện trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp tôi trong quá trình thu thập tư liệu. Tôi cũng
xin cảm ơn sự quan tâm của gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành


Đỗ Thị Tốt

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 6
2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................... 7
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................ 10
4. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 10
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 11
6. Đóng góp của khóa luận ....................................................................... 11
7. Cấu trúc của khóa luận ........................................................................ 11
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ BIỂU
TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC
1.1. Biểu tượng dưới nhiều góc nhìn.......................................................... 12
1.2. Biểu tượng trong văn học .................................................................... 15
1.2.1. Quan niệm về biểu tượng trong văn học ....................................... 15
1.2.2. Đặc điểm, tính chất của biểu tượng ............................................... 17
1.2.3. Ý nghĩa của biểu tượng văn học .................................................... 21
CHƯƠNG 2: NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU TRƯỚC NĂM 1975
2.1. Biểu tượng dòng suối trong Nguồn suối ............................................ 25

3.2.1. Con thuyền – cuộc đời lênh đênh ..................................................... 47
3.2.2. Chiếc thuyền ngoài xa và nhãn quan nghệ thuật ............................ 48
3.3. Biểu tượng Bến quê ............................................................................ 51
3.3.1. Bến quê – nơi bình yên, bến đỗ tâm hồn ......................................... 51
3.3.2. Bến quê – nơi gột rửa tâm hồn con người ...................................... 53
3.4. Biểu tượng Cỏ lau ................................................................................ 55
3.4.1. Cỏ lau – sức sống mãnh liệt .............................................................. 55
3.4.2. Cỏ lau – sự bội bạc, lãng quên ........................................................ 57
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đỗ Thị Tốt

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong văn hóa, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi thời đại đều tìm
đến những biểu tượng để khẳng định hình ảnh, nét riêng và thông điệp muốn
gửi gắm của mình. Đã từ lâu, nhân loại biết đến hoa anh đào là biểu tượng của
đất nước Nhật Bản, cây thánh giá là biểu tượng của Thiên chúa giáo, hoa sen
là biểu tượng của đạo Phật. Và trong sáng tạo văn học, biểu tượng là hình
thức tư duy nghệ thuật của nhà văn. Tài năng của người nghệ sĩ thể hiện khá
rõ trong việc sáng tạo những hình ảnh biểu tượng. Nghiên cứu, khám phá

này xin được nghiên cứu một cách có hệ thống về Biểu tượng nghệ thuật tiêu
biểu trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.
Với sự trân trọng tài năng nghệ thuật của ông và nhận thấy tính chất
mới mẻ hấp dẫn của đề tài, sự cần thiết trong việc tiếp cận tác phẩm văn học
từ góc độ biểu tượng, chúng tôi muốn vận dụng lý luận về biểu tượng và biểu
tượng nghệ thuật vào khám phá những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong
một số truyện ngắn đặc sắc của ông, để từ đó góp thêm cái nhìn về tài năng
sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Đồng thời, chúng tôi cũng hi
vọng vấn đề này sẽ góp phần thiết thực vào việc dạy và học các sáng tác của
ông trong trường phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
Ba mươi năm miệt mài đóng góp cho nền văn học dân tộc, Nguyễn
Minh Châu đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với những tác
phẩm có nội dung nhân văn cao cả và độc đáo về bút pháp. Dường như cả
cuộc đời người nghệ sĩ cách mạng này là cuộc kiếm tìm mê mải với hiện thực
cuộc sống và tâm hồn con người. Ông vừa là cây bút văn xuôi có những đóng
góp xuất sắc cho văn học thời kì kháng chiến chống Mỹ lại vừa là một trong
những người “mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) cho công cuộc
đổi mới văn học Việt Nam từ sau năm 1975. Từ phong cách sáng tác mang
đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng sang cảm hứng thế sự, đời
tư với những đề tài độc đáo và và giàu tính triết lý, Nguyễn Minh Châu là một
trong số nhà văn mà sự nghiệp sáng tác phản ánh tương đối trung thành quá
trình vận động phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại. Các tác phẩm của
ông được lựa chọn giảng dạy trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở,
Trung học phổ thông và Đại học.

Đỗ Thị Tốt

7


truyện của ông” [4; 220].
Đặc biệt, công trình nghiên cứu của Tôn Phương Lan với nhan đề
Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu. Đây như một hệ thống nghệ thuật
riêng biệt, “cuốn sách như một sự khẳng định có sức nặng về tài năng và tấm

Đỗ Thị Tốt

8

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

lòng của nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, là người góp
phần quan trọng chuẩn bị kết thúc nền văn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX
đầy sôi động và thành tựu” (Phong Lê). Khi nhắc đến thể loại truyện ngắn –
sở trường và điểm mạnh của ông – Tôn Phương Lan nhận xét: “Nguyễn Minh
Châu đã kết hợp nhuần nhuyễn sức khái quát với phong cách trữ tình không
thể nhầm lẫn, nên những vấn đề đời thường qua cảm quan văn học của ông
vừa đầy ắp chất thơ và vẫn giữ được tính sâu sắc của một trí tuệ mẫn cán”. Và
Tôn Phương Lan cũng đã đưa ra một tổng kết hết sức quan trọng về phong
cách Nguyễn Minh Châu: “Trên lộ trình mấy chục năm của mình, Nguyễn
Minh Châu đã không ngừng suy ngẫm kiếm tìm và thể nghiệm. Sự mở rộng
bản sắc của chính mình đã đem lại kết quả mà không nhiều nhà văn đạt tới:
Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu” [8; 193]. Như vậy, Tôn Phương
Lan đã đưa ra những đóng góp cơ bản của Nguyễn Minh Châu đối với tư
tưởng nghệ thuật, nhân vật, tình huống, điểm nhìn trần thuật và giọng điệu

nhân vật… Hoặc trở thành những đề tài, chương mục, một vấn đề trong
chuyên mục nghiên cứu mang tính khái quát. Có thể khẳng định với số lượng
sáng tác phong phú của mình, Nguyễn Minh Châu và các sáng tác của ông
vẫn còn là những mảnh đất màu mỡ để chúng ta nghiên cứu. Do đó, việc tìm
hiểu Biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là
một đề tài khá mới mẻ. Chúng tôi hi vọng khoá luận này sẽ góp thêm một cái
nhìn khá độc đáo hấp dẫn về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu đề tài Biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, chúng tôi muốn đưa ra một nhận thức mang tính cá
nhân về biểu tượng, biểu tượng trong văn học, đồng thời từ đó đi sâu tìm hiểu
về ý nghĩa các biểu tượng nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
Qua đó thấy được những giá trị về nội dung cũng như tư tưởng nghệ thuật mà
nhà văn muốn gửi gắm thông qua các biểu tượng nghệ thuật của mình. Từ đó,
chúng tôi thêm một lần khẳng định vai trò, vị trí và những đổi mới của nhà
văn trong sự vận động của tiến trình văn học dân tộc.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Minh Châu để lại một sự nghiêp vô cùng đồ sộ nên trong
khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp chúng tôi không tham vọng tìm hiểu vấn
đề biểu tượng nghệ thuật trong toàn bộ sáng tác của ông mà chỉ tập trung vào
một số truyện ngắn tiêu biểu như:

Đỗ Thị Tốt

10

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp


11

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG
VÀ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC

1.1.

Biểu tượng dưới nhiều góc nhìn
Từ xa xưa, khi con người bắt đầu thoát thai khỏi loài vượn nguyên

thủy, thì biểu tượng nghệ thuật đã tồn tại như bộ phận cấu thành trong đời
sống tinh thần của họ. Và biểu tượng dường như ngày càng phát triển phong
phú. Ch. Baudelaire – chủ soái của thi ca tượng trưng Pháp từng khẳng định
con người sống giữa một “rừng biểu tượng”. Nhưng thực tế lại chứng minh
một “rừng biểu tượng” sống trong đời sống con người.
Sự tạo thành biểu tượng trong đời sống con người thực chất là quá trình
vô thức, nhưng tự bản thân chúng lại thể hiện quá trình nỗ lực của con người
muốn xuyên qua bức màn của hiện thực, vượt lên những kinh nghiệm cảm
tính của cá nhân để nhận thức một thực tại ưu việt vốn bị che lấp.
Thực chất khái niệm biểu tượng chỉ xuất hiện khi tri thức nhân loại đạt

trong bộ óc người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động vào
các giác quan”. Như vậy, hiểu theo nghĩa triết học, thì tất cả các sự vật trong
thế giới khách quan khi được con người tiếp nhận đều sẽ trở thành biểu tượng.
Thế giới khách quan có bao nhiêu sự vật, hiện tượng thì có bấy nhiêu biểu
tượng được hình thành trong nhận thức con người. Ở đây, biểu tượng không
chỉ ra một nghĩa nào khác ở bên ngoài nó. Nó không có một hệ thống ý nghĩa
được dồn chứa bên trong như cách nhìn văn học.
Dưới góc nhìn tâm lí học, biểu tượng là hình thức cao nhất của giai
đoạn nhận thức cảm tính trực quan. Trên cơ sở cảm giác, tri giác, trong đầu óc
con người xuất hiện một hình thức cao hơn, đó là biểu tượng, bởi bộ não của
con người có khả năng tái sinh ra trong ý thức hình ảnh của con người được
tri giác, phản ánh trước đây. Biểu tượng là hình ảnh được tái hiện, được hình
dung lại với những thuộc tính nổi bật của sự vật. Nhưng biểu tượng trong
nhận thức mới là biểu tượng ở cấp độ thấp, giản đơn, do tư duy trực quan hình
ảnh đem lại. Còn một loại biểu tượng cao hơn hẳn, đó là biểu tượng của biểu
tượng. Biểu tượng trực quan cảm tính và biểu tượng của tưởng tượng mới chỉ
là biểu tượng của nhận thức, chưa thể trở thành biểu tượng nghệ thuật. Biểu
tượng nghệ thuật, biểu tượng thơ ca là sự chuyển hóa, sáng tạo lại biểu tượng

Đỗ Thị Tốt

13

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn



Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

thung lũng, hành tinh, lửa, sấm sét…) hay là trừu tượng (hình hình học, con
số, nhịp điệu, ý tưởng…) [7; XXIV].
1.2.

Biểu tượng trong văn học

1.2.1. Quan niệm về biểu tượng trong văn học
Biểu tượng không chỉ tồn tại trong tâm linh mỗi con người, trong nền
văn hóa mỗi dân tộc mà còn là hạt giống chắc mẩy được các nhà văn, nhà thơ
gieo trên địa hạt văn chương màu mỡ. Sau khi đã tổng hợp thành tựu của các
chuyên ngành mỹ học, lý luận văn học Macxit, các tác giả Từ điển thuật ngữ
văn học đã có những kiến giải xác đáng về biểu tượng dưới góc độ văn học.
Biểu tượng có thể được hiểu theo cả hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: “Biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng
hình tượng của văn học nghệ thuật” [18; 24].
Theo nghĩa hẹp: “Biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời
nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa
khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện được một
quan niệm, một tư tưởng hay triết lý sâu xa về con người và cuộc đời” [18;
24].
Các tác giả cũng dành hơn một trang viết cho thấy những điểm khác
nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ. Những khái niệm này đều “được hình thành trên

trong lịch sử tồn tại lâu dài. Đặc biệt, các tác giả còn nhấn mạnh đến phương
diện khác của biểu tượng đó là: “Bên cạnh những biểu tượng thể hiện ý thức
chung của xã hội, trong văn học nghệ thuật có rất nhiều biểu tượng in đậm
dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn, nhà thơ” [18; 26].
PGS, TS. Lê Lưu Oanh trong Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 khi bàn
về những đặc trưng của biểu tượng, nhà nghiên cứu này cho rằng: Biểu tượng
có khả năng tái sinh liên hồi từ cái biểu đạt đến cái được biểu đạt. Biểu tượng
nghệ thuật là tín hiệu thẩm mĩ mới mẻ, đa chức năng. Biểu tượng vừa mang
tính kế thừa vừa mang tính sáng tạo. Giải mã biểu tượng là con đường tư duy
nghệ thuật…
Tổng hợp những quan điểm trên chúng tôi cho rằng: Biểu tượng thường
là những hình ảnh cụ thể cảm tính, giàu cảm xúc, chứa đựng những tầng ý
nghĩa sâu sắc. Biểu tượng không phải là hiện tượng khép kín mà là một cấu
trúc mở có khả năng gợi liên tưởng lớn và khả năng tái sinh đến vô tận. Nhìn
một cách khái quát dưới góc độ văn hóa, biểu tượng được xem là những hình
ảnh cảm tính về hiện thực khách quan bộc lộ quan điểm thẩm mĩ của một tác
giả một thời đại, một dân tộc, một nền văn hóa và thường biểu hiện bằng các

Đỗ Thị Tốt

16

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng. Từ lâu, biểu tượng đã được xem như một


Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

tưởng tượng hỗn loạn, vô hướng. Các biểu tượng đã tỏ rõ một tính ổn định
nào đó trong lịch sử các tôn giáo, các xã hội và lịch sử tâm thức mỗi cá nhân.
Cũng chính vì tính ổn định nên có những biểu tượng được khắp nơi trên thế
giới dùng và cùng có nét nghĩa chung thống nhất. Chẳng hạn, khi nhắc đến
chim bồ câu, người ta thường nhắc đến biểu tượng hòa bình vì đây là loài
chim có đặc tính hiền lành, không hay đánh chọi nhau. Hay con rùa là biểu
tượng cho người nông dân chăm chỉ, nhẫn nhịn… Bắt nguồn từ ý nghĩa đó,
biểu tượng nghệ thuật thường có những hạt nhân bảo lưu cho đời sau và được
các thi sĩ đời sau tiếp nối nhau bên cạnh việc bồi đắp thêm ý nghĩa mới. Vì
thế, khi nhắc đến cây cầu trong văn học dân gian Việt Nam thì người ta nghĩ
đến khát khao nối kết, khát khao gặp mặt và mong ước cả hai bên đều vượt
qua những cản trở, khó khăn trong tình yêu… Cũng với ý nghĩa đó, khi nhắc
đến cây tùng trong văn học trung đại thì chúng luôn khởi nguồn cho bạn đọc
những cảm xúc về bản lĩnh cứng cỏi và hiên ngang của những đấng nam nhi
những bậc quân tử. Hay khi nhắc đến thuyền và bến trong văn học Việt Nam
thì dù giai đoạn văn học nào, dù mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau nhưng
bao giờ cũng bảo lưu một ý nghĩa hạt nhân cốt lõi là biểu tượng cho sự hẹn
hò, chờ đợi thủy chung… Tính ổn định của biểu tượng nghệ thuật thường bắt
nguồn từ việc bảo lưu nét nghĩa của biểu tượng mẫu gốc đã ăn sâu vào “vô
thức tập thể” và “chảy tràn” trong kí ức nhân loại để lưu truyền cho những đời
sau. Việc dừng lại ở đời sau không có nghĩa là sự sao chép máy móc mà đòi
hỏi nghệ sĩ vẫn phải có những tìm tòi, những khám phá mới mẻ để nhận thức

nguồn truyền thống, và đồng thời kết hợp với sự cách tân làm mới theo năng
lực tư duy và tưởng tượng của từng chủ thể khiến cho biểu tượng ngày càng
được làm đầy hơn những giá trị và ý nghĩa mới. Việc bồi đắp thêm những nét
mới cho biểu tượng sẽ tạo cơ sở cho việc lưu lại dấu ấn nhà văn. Biểu tượng
luôn chứa đựng trong mình những giá trị đã được vĩnh hằng hóa, song không
phải vì thế mà nó trở thành nơi tồn đọng những giá trị cũ mòn, nơi giam giữ
các tầng ý nghĩa trong sự xơ cứng. Biểu tượng thực chất là một thực thể vô
cùng sống động, luôn có sự luân chuyển và đắp đổi ý nghĩa. Sinh thể ấy được
nuôi dưỡng bằng những lối tư duy, những tượng trưng phong phú của con
người.
Khi xem xét biểu tượng, không thể bỏ qua một đặc tính nổi bật của nó
là tính đa nghĩa. Không ai phủ nhận tính ổn định, hạt nhân cốt lõi là tâm điểm
của mọi chu vi trong biểu tượng, song ổn định ở đây không đồng nhất với cố
định. Bởi thế nên không thể gói gọn làm đông cứng ý nghĩa của biểu tượng

Đỗ Thị Tốt

19

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

trong một khuôn khổ chật hẹp mà biểu tượng luôn sản sinh những ý nghĩa
mới trên vỉa tầng ý nghĩa là cái đã ăn sâu vào vô thức của con người. Tính
chất sống động của biểu tượng cũng là tiền đề để tạo ra tính đa trị của nó.
Tính đa trị ở đây có thể hiểu là biểu tượng không tồn tại với một vài nét nghĩa


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

xuyên suốt nhiều thời kì văn học nhưng tùy theo thời kì mà nó mang những
nét nghĩa khác nhau. Biểu tượng văn học không phải là một cấu trúc khép kín
mà nó là một hiện tượng mở bởi vậy nó thường xuyên mất đi những nét nghĩa
lỗi thời và được đắp đổi những nét nghĩa mới.
1.2.3. Ý nghĩa của biểu tượng văn học
Trong đời sống, mỗi dân tộc, mỗi tổ chức xã hội đều tìm đến những
biểu tượng để thể hiện những nét đặc thù được coi là “khuôn mặt riêng” định
hình trong thế giới mênh mông. Chẳng hạn, hình ảnh sư tử trở thành biểu
tượng cho quốc đảo Singapo, hoa anh đào là biểu tượng cho đất nước Nhật
Bản. Hay Đảng Cộng sản được biểu trưng bằng hình ảnh búa liềm giao nhau
với hàm nghĩa là sự kết hợp sức mạnh của giai cấp công nông… Từ đặc trưng
riêng của mỗi nền văn hóa mà mỗi đất nước lại tìm đến những biểu tượng
riêng để thể hiện đặc thù của nước mình. Trong văn học, biểu tượng là
phương tiện tất yếu để các nhà văn, nhà thơ lập mã và kí mã. Đặc trưng của
văn học đòi hỏi không phải điều gì nhà văn cũng trình bày sẵn sàng, công
khai, phơi bày lộ diện tất cả ra mà phải thể hiện một cách kín đáo, nhuần nhị
và nhất là súc tích bởi nói như Ăng ghen: “Khuynh hướng của tác phẩm càng
kín đáo bao nhiêu càng tốt cho tác phẩm bấy nhiêu”. Để đạt được điều đó
không gì tối ưu là sáng tạo ra một hệ thống biểu tượng nghệ thuật. Vì thế, từ
xa xưa đến nay, từ phương Đông đến phương Tây, các nhà văn luôn lấy biểu
tượng là một phương tiện để lập mã và kí mã. Hay nói cách khác, biểu tượng
dùng để mã hóa tư tưởng, cảm xúc.
Biểu tượng còn thực hiện một chức năng quan trọng khác là biểu hiện.
Khi đứng trước mỗi biểu tượng nghệ thuật, ta cũng đều tò mò muốn khám phá
ý nghĩa tiềm ẩn dồn nén trong đó. Bởi mỗi biểu tượng luôn “ứ tràn ý nghĩa”.

lại gần nhau hơn. Biểu tượng là phương tiện là công cụ để mỗi cá nhân, mỗi
dân tộc thấu hiểu nhau hơn. Bởi lẽ các biểu tượng nghệ thuật được phát sinh
từ toàn bộ đời sống tinh thần của con người. Nếu ta có thể thừa nhận có một
kho vốn chung của vô thức tập thể có thể tiếp nhận và phát đi những thông
điệp, thì không được quên rằng, cái kho vốn chung đó tự làm giàu thêm và tự
đa dạng hóa bằng tất cả các đóng góp của một tộc người hoặc một cá nhân.
Hơn nữa, biểu tượng còn có khả năng dựng lại mô hình văn hóa của dân tộc,
thời đại. Vẫn trên cơ sở hạt nhân chung nảy sinh từ những mẫu gốc, nhưng
khi được liên tục tái sinh và sáng tạo, biểu tượng mang những ý nghĩa sắc thái
đa dạng khác nhau trong các tộc khác nhau.

Đỗ Thị Tốt

22

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

Mỗi thời đại, mỗi khuynh hướng, mỗi tác gia văn học do những đặc
điểm về văn hóa cũng như nhu cầu, thị hiếu thẩm mĩ khác nhau mà tìm những
hệ thống biểu tượng khác nhau. Hệ thống biểu tượng đó làm nên sắc thái
riêng mỗi thời kì đồng thời cũng được dùng như những dấu hiệu nổi bật để
nhận ra mỗi khuynh hướng văn học. Và nhất là với tác giả có bản lĩnh và
phong cách thì biểu tượng chính là yếu tố giúp ta nhận ra nét đặc trưng của
phong cách đó. Và cũng dễ thấy hơn cả là biểu tượng ghi dấu ấn phong cách
nghệ thuật của mỗi nghệ sĩ. Vì thế, nhắc đến thơ Nguyễn Bính, người ta

phong cá tính sáng tạo của nhà văn. Nó như một tín hiệu thẩm mĩ, dồn nén tư
tưởng tình cảm của nhà văn, khiến cho thiên truyện của ông không chỉ sâu sắc
mà còn đậm chất trữ tình và biến ảo khi thể hiện cuộc sống và “khám phá con
người bên trong con người”. Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy những hình
ảnh biểu tượng ấy thường có những đặc điểm như chúng đều là những hình
ảnh thiên nhiên rất trong sáng và đẹp đẽ. Đó là sự mát lành của dòng suối với
ý nghĩa biểu tượng là dòng chảy bền bỉ, mạnh mẽ của cách mạng, tấm lòng
trong trẻo của con người. Vẻ đẹp đầy sức sống của Nhành mai biểu tượng của
cái đẹp, tình yêu bừng nở, nhân chứng bất diệt trong chiến tranh. Hay vẻ đẹp
khuất lấp, khiêm nhường mà hiện hữu, sự gợi cảm đầy chất thơ và vẻ đẹp
lung linh trong tâm hồn con người thời chống Mỹ của Mảnh trăng. Đó còn là

Đỗ Thị Tốt

24

Lớp: K35A


Khóa luận tốt nghiệp

Khoa Ngữ văn

biểu tượng giếng nước – không gian linh thiêng trong cuộc sống con người,
chứng nhân lịch sử, chứng nhân của tình yêu trong sáng thủy chung.
2.1.

Biểu tượng dòng suối trong Nguồn suối

2.1.1. Dòng suối – dòng chảy bền bỉ, mạnh mẽ của cách mạng


Trích đoạn Dòng suối – tấm lòng trong trẻo của con người Nhành mai – nhân chứng bất diệt trong chiến tranh Mảnh trăng – vẻ đẹp khuất lấp khiêm nhường mà hiện hữu Mảnh trăng – vẻ đẹp lung linh trong tâm hồn con người thờ Cỏ lau – sự bội bạc, lãng quên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status