Hiệu quả sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ phạm tiến duật - Pdf 32

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************

NGUYỄN QUANG ĐẠI

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ
NGÔN NGỮ CỦA PHONG CÁCH HỘI THOẠI
TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ

HÀ NỘI - 2007

5


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***************

NGUYỄN QUANG ĐẠI

hay, cái đẹp của tác phẩm, đồng thời góp phần khẳng định được nét độc đáo,
phong cách riêng của mỗi tác gia văn học.
1.2. Phạm Tiến Duật là một nhà thơ có tài và có phong cách độc đáo.
Điều này ai cũng biết. Nhưng chỉ ra được một cách khoa học tài thơ độc đáo
ấy, nhất là lý giải nó lại vô cùng khó. Sự không biết mà dường như biết này
làm cho ít ai “cất công đi tìm cái vân tay mà nhà thơ đã điểm vào từng trang
giấy” [15, tr.2]. Tài năng của Phạm Tiến Duật là sự sáng tạo mới mẻ về nội
dung và hình thức nghệ thuật, đặc biệt là cách sử dụng ngôn ngữ giàu hình
ảnh. Vì thế, các tác phẩm của ông không chỉ được đưa vào giảng dạy trong
nhà trường phổ thông mà còn được đông đảo bạn đọc yêu mến.
Việc nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duật không những có ý nghĩa khoa học
ngôn ngữ mà còn đáp ứng được yêu cầu của thực tế giảng dạy môn Ngữ văn
nói chung, phân môn tiếng Việt nói riêng trong nhà trường.
1.3. Thơ Phạm Tiến Duật là một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một ngôn
ngữ khác lạ. Đọc thơ ông, hoặc bằng sự mẫn cảm, hoặc bằng phương pháp

7


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

thống kê, có thể chỉ ra được những nét độc đáo trong cách sử dụng ngôn từ.
Việc nghiên cứu ngôn ngữ để khẳng định phong cách cá nhân và sự sáng tạo
của tác gia văn học là việc làm cần thiết của tất cả những người học văn và
yêu văn. Nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật là đề tài phong phú
khiến nhiều người quan tâm, trong đó nổi bật lên là yếu tố ngôn ngữ khẩu ngữ
trong thơ ông. Đề tài “Hiệu quả sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong
cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật” nằm trong hệ thống các đề tài

nội dung, biến đổi cùng nội dung.
- Ngôn ngữ:
+ Sử dụng rộng rãi ngôn ngữ đời thường, tự nhiên, sinh động. Nhà thơ
không phải “ca hát” mà có thể “nói bình thường”.
+ Các biện pháp kết hợp và so sánh bất ngờ, biến đổi hình thức theo
nhu cầu của nội dung mới.
+ Dùng phương thức ví von nhân hoá, dùng hình ảnh thiên nhiên dân
dã để nói tới tình cảm của con người.
+ Sử dụng lối đối đáp, các đại từ phiếm chỉ, từ láy...
Hệ thống các luận điểm đã được tác giả Nguyễn Văn Hạnh khai thác,
phân tích khá chi tiết và được triển khai thành các ý rõ ràng, cụ thể. Nhà
nghiên cứu đã nêu được những thành công của Phạm Tiến Duật về nội dung,
nghệ thuật và một số biểu hiện của yếu tố ngôn ngữ đời thường trong thơ ông.
Nhưng thực chất tính chất của chuyên luận là lý luận và phê bình văn học. Vì
vậy, những biểu hiện mà tác giả đưa ra mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét,
minh hoạ.
2.2. Tác giả Đỗ Trung Lai trong “Một chặng đường thơ Phạm Tiến
Duật” [10, tr.147] đã viết “Nếu biết khí chất anh thì thấy điều đó càng đúng.
Nhưng thông thường, ta phải làm ngược lại - từ thơ mà tìm ra khí chất nhà
thơ”[10, tr.147]. Tác giả đã nhận xét về sự thành công trong việc sử dụng
ngôn ngữ đời thường trong thơ Phạm Tiến Duật. “Trước Phạm Tiến Duật

9


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

không phải chưa có người đưa những chi tiết thực vào thơ. Nhưng có thể nói,

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

Tiến Duật, đồng thời tác giả cũng đã đề cập đến sự thành công trong nghệ
thuật cách tân, chính là sự cách tân về ngôn ngữ. “Phạm Tiến Duật đã thành
công trong việc tạo nên một ngôn ngữ thơ mới mẻ, thoát ly hẳn mọi ước lệ,
mọi giọng điệu, âm điệu quen thuộc, thậm chí không cần đến mĩ từ Pháp. Cái
mới mẻ đó chủ yếu là cái mới mẻ của đời sống...”, và tác giả đã khẳng định:
Phạm Tiến Duật là nhà thơ đã đưa “chất thơ sử thi lan thấm vào những vần
thơ đời thường” [7, tr.57].
2.7. Tác giả Mai Hương trong “Thơ Việt Nam qua hai cuộc chiến tranh
cách mạng” [6, tr.50] đã nhận xét khi phân tích bài thơ “Lửa đèn” như sau:
“Từ ánh “lửa đèn”, Phạm Tiến Duật suy nghĩ và khái quát một cách độc đáo
về bản lĩnh, sức sống mãnh liệt của dân tộc. Nhiều câu thơ, hình ảnh của bài
thơ gợi cảm, giàu chất dân gian nhưng cũng giàu triết lý - một thứ triết lý dân
gian, hồn hậu và tươi trẻ...” [6, tr.50].
Như vậy, việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại
trong thơ Phạm Tiến Duật được nghiên cứu không chỉ ở lĩnh vực nghiên cứu
và phê bình văn học mà còn ở cả góc độ ngôn ngữ. Các tác giả phần nào đã
chỉ ra được hiệu quả nghệ thuật của ngôn ngữ hội thoại trong thơ Phạm Tiến
Duật. Có thể nói đây là một vấn đề quan trọng, có giá trị lý luận và thực tế để
khẳng định phong cách thơ Phạm Tiến Duật. Tuy vậy, các công trình nghiên
cứu mới chỉ dừng lại ở việc điểm qua, nếu có bàn tới thì chỉ bó hẹp trong một
tác phẩm hoặc là điểm xuyết trong cả chặng đường văn học. Như thế, chưa
thấy cái hay, cái đẹp và sự phong phú, sinh động của ngôn ngữ hội thoại trong
thơ Phạm Tiến Duật. Mặt khác, những ví dụ trong thơ Phạm Tiến Duật được
lấy làm dẫn chứng chỉ để minh hoạ, thuyết minh và làm sáng tỏ cho một vấn
đề lý thuyết ngôn ngữ mà chưa được nghiên cứu chuyên sâu thành hệ thống.
Trên cơ sở gợi ý của các tác giả đi trước. Chúng tôi lựa chọn đề tài

- Vận dụng phương pháp phân tích phong cách học để chỉ ra đặc điểm
và hiệu quả sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, đồng thời qua đó khẳng định
yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật từ góc
độ ngôn ngữ.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

12


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ
Phạm Tiến Duật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát từ góc độ ngôn ngữ qua ngữ liệu thống kê tập thơ “Vầng trăng
và những quầng lửa” của Phạm Tiến Duật, Nxb Văn học, H, 1983.

5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, hệ thống hoá và phân loại các phương tiện và
biểu hiện của yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến
Duật từ góc độ ngôn ngữ.
- Phương pháp miêu tả và phân tích phong cách học để nhận biết về đặc
điểm cũng như hiệu quả sử dụng các phương tiện ngôn ngữ.

13


14


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

Sử dụng tất cả các biến thể phát âm để tạo nên sự phong phú, đa dạng.
Trong phong cách hội thoại, người ta có thể phát âm thoải mái theo một tập
quán phát âm địa phương với sự thể hiện không theo chuẩn mực chung của
cách phát âm phụ âm đầu, phụ âm cuối, nguyên âm và thanh điệu.
1.3.2. Đặc điểm về cách dùng từ
- Đặc điểm nổi bật nhất trong sử dụng từ ngữ của phong cách hội thoại
là ưa dùng từ ngữ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc. Đó là
cách so sánh ví von, dùng từ láy, nói quá, nói tắt, nói gộp...
- Dùng nhiều từ địa phương, nhiều ngữ khí từ (à, nhỉ, nhé, nào...), dùng
các từ khẩu ngữ (thằng, đứa, cái...) nhiều thán từ để biểu thị cảm xúc và thực
hiện chức năng tạo tiếp.
Ví dụ: Từ “nhé” có chức năng khuyên răn hay giao hẹn trong câu “Bác
nói cho cháu nghe nhé”.
1.3.3. Đặc điểm về cú pháp
Đặc điểm nổi bật của phong cách hội thoại về mặt cú pháp là hay dùng
những câu hỏi, những câu cảm thán, câu hô đáp, câu có thành tố chèm xen
đưa đẩy, câu rút gọn, câu trực tiếp. Đặc biệt phong cách hội thoại dùng những
kết cấu ngữ pháp riêng mà các phong cách khác ít dùng.
- Dùng “đã ... lại...” thay cho “không những ... mà còn”.
VD: “Anh ta đã không tuân thủ luật đi đường lại còn phá rối trật tự”.
- Dùng kết cấu “động từ - gì mà - động từ” biểu thị thái độ phủ định.
VD: “Học hành gì mà chỉ ăn với chơi”.

đang được trình bày, miêu tả để thay thế cho cách diễn đạt thông thường,
trung hoà về tu từ học nhằm làm cho lời nói thêm hàm súc, giàu hình tượng
(trong thơ văn) hoặc tăng thêm sức thuyết phục (trong nghị luận)” [9, tr.77).
Có nhiều cách dẫn khác nhau:
- Mượn một phần hoặc một vế của câu thành ngữ, ca dao.
VD: “Giặc Pháp là cái vỏ quýt dày thì chúng ta phải có thời gian mà
mài móng tay cho thật nhọn rồi mới xé tan xác chúng ra”.
(Hồ Chí Minh)
- Trích dẫn y nguyên một câu thành ngữ, ca dao

16


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

VD: “Nhớ nhau chân cứng đá mềm em nhé
Hẹn ngày đánh Mỹ xong sẽ về tìm nhau”.
(Nguyễn Đình Thi)
- Mượn ý của câu thành ngữ, ca dao
“Biển ở đâu mà muối mặn lời nồng”
(Phạm Tiến Duật)
1.4.2. Sử dụng biện pháp tu từ cải danh
“Cải danh là một biến thể của lối nói chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ,
trong đó người ta dùng tên riêng thay cho tên chung hoặc dùng tên chung
thay cho tên riêng. Ở cả hai dạng của cải danh, sự định danh thứ hai đều dựa
vào sự giống nhau giữa hai khách thể” [9, tr.60].
- Dạng thứ nhất của cải danh về cơ bản là đặc điểm của lời nói hội
thoại. Nó được dùng như một khuôn sáo để nêu tính cách của con người.

riêng biệt, cụ thể thường có ở một người” [14, tr.111].
VD: “Cô thanh niên xung phong ấy, anh Ba Lé, chị Bếp...”
1.4.3. Sử dụng biện pháp tu từ cải dung
“Cải dung là một phương thức hoán dụ chỉ cái chứa đựng thay cho vật
chứa đựng” [9, tr.205]. Có thể nói, cải dung là cách nói có tính chất vừa khái
quát, vừa cụ thể và rất phổ biến trong phong cách hội thoại.
VD: - “Cả trường vui vẻ trong ngày hai mươi tháng mười một”.
- “Cả Hà Nội tưng bừng cờ hoa”.
1.5. Kết luận
1.5.1. Từ sự tìm hiểu về khái niệm, đặc trưng, đặc điểm của phong cách
hội thoại ta thấy: ngôn ngữ trong phong cách hội thoại có ưu điểm là sinh
động, thân mật, dân dã, giao tiếp nhanh chóng và có khả năng biểu cảm cao.
Phong cách hội thoại thể hiện một cách tự nhiên những phong tục, tập quán,
lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân. Đây chính là kho tàng ngôn ngữ đồ
sộ mà các nhà văn, nhà thơ đã và đang nghiên cứu, khai thác học tập. Sử dụng
ngôn ngữ khẩu ngữ, ngôn ngữ giao tiếp sinh hoạt hằng ngày vào trong thơ
không những vẫn đảm bảo các đặc điểm ngôn ngữ thơ (tính cảm xúc, tính
nhạc, tính đa nghĩa) mà còn là một biện pháp nghệ thuật làm cho ngôn ngữ
thơ có màu sắc tự nhiên, gần gũi.

18


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

- Sử dụng biện pháp dẫn ngữ là một phương thức phổ biến trong các
phong cách ngôn ngữ. Đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ văn chương,
biện pháp này mang lại hiệu quả cao. Cụ thể là, nó tạo ra màu sắc dân gian,

2. Kết quả khảo sát thống kê phân loại
Qua khảo sát 57 bài thơ (in trong tập thơ “Vầng trăng và những quầng
lửa” của Phạm Tiến Duật), chúng tôi đã thống kê các ngữ liệu ngôn ngữ (cách
phát âm, dùng từ, đặt câu, tổ chức văn bản, cách sử dụng biện pháp tu từ) để
phân tích và rút ra những nhận xét về hiệu quả sử dụng yếu tố ngôn ngữ hội
thoại trong thơ Phạm Tiến Duật.
Dưới đây là bảng kết quả khảo sát:
Cách sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại
trong thơ Phạm Tiến Duật

Số
phiếu

Tỉ lệ
%

Sử dụng từ ngữ 1. Sử dụng từ biến âm

8

1,13

của phong cách 2. Sử dụng từ khẩu ngữ

167

23,7

ngôn


31

4,4

của phong cách 2. Sử dụng câu hỏi phủ định

29

4,1

ngôn

19

2,6

23

3,2

2

0,28

3

0,42

2


chuyện kể

hội 3. Bài thơ là một câu nói, một lời kể dài
dòng

20


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

Sử dụng các biện 1. Dẫn ngữ

21

2,98

pháp tu từ đặc 2. Cải danh

13

1,8

trưng của phong 3. Cải dung

9

1,27


cũng vừa rất gần gũi, đời thường và không khí trận mạc được toát lên từ đó.
Qua khảo sát, chúng tôi thấy hiện tượng biến âm trong thơ Phạm Tiến
Duật xuất hiện khá nhiều lần (10 phiếu) và cũng phong phú về dạng, loại:
- Biến âm về thanh điệu (thanh sắc thành thanh ngang, hoặc thanh
huyền thành thanh ngang...).
“Chúng lao xuống nơi nao
Loe ánh lửa,
Gió thổi tắt đèn, bom rơi máu ứa”
(Lửa đèn)
- Biến âm âm chính: (“â” thành “ư”)
“Trên đỉnh đồi vẫn vừng trăng đỏ ối”
(Vầng trăng và những quầng lửa)
- Biến âm phụ âm đầu: (“n” thành “d”)
“Đứng ngồi không yên vẫn đồng chí bộ binh
Chờ dăm phút nữa thôi, có lâu là mấy”
(Những mảnh tàu lá)

22


NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

- Biến âm chính: (“a” thành “ơ”)
“Em cầm bùi nhùi đi đâu đánh lửa
Hở em? Huyện có gần không”.
(Hang đền chín ngọn)
- Biến âm (“ơ” thành “i”)
“Thì giờ ghé môi hôn cũng là thì giờ đóng cầu dao điện”

hiểu, nghiên cứu chúng ta thấy có những từ nếu đứng riêng thì thông tục (đứa,
cái, nó, vén...), nhưng khi nằm trong cấu trúc câu thơ thì nó lại rất thơ. Đó là
vì nhà thơ biết đưa vào đúng lúc, “biết dùng chữ “thanh” nuôi chữ “thô”,
chữ “mát” nuôi chữ “nóng”” [18, tr.45] làm cho người đọc cảm thấy cái dân
dã, đời thường và gần gũi tự nhiên. Chúng tôi thống kê được 167 phiếu
(chiếm 23,7%) có thể chia thành các tiểu loại như sau:
3.1.2.1. Sử dụng từ chỉ loại, đại từ (cái, đứa, nó...)
VD 1:

“Yêu hơn cả cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Là cái cầu này chụp ảnh xa
Mẹ bảo cầu Hàm Rồng sông Mã
Con cứ gọi: Cái cầu của cha”.
(Cái cầu)

VD2 :

“Cái nhà máy lao xao con chữ
Giấy xoè như bướm bay”.
(Công việc hôm nay)

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê (Trung tâm Từ điển học - Đà
Nẵng - 1995, tr.102) thì từ “cái” là danh từ được dùng với nhiều chức năng,
nhiều ý nghĩa khác nhau.
Ở ví dụ 1, từ “cái” được dùng lặp lại ba lần trong bốn câu thơ nhằm
“chỉ từng đơn vị riêng lẻ thuộc loại vô sinh” - “cái cầu”. Biện pháp điệp ngữ
có tác dụng nhấn mạnh hình ảnh một sự vật quen thuộc, gắn bó với làng quê.
Cái cầu không chỉ là phương tiện đi lại mà nó còn là kỷ niệm gắn bó với
người cha thân yêu.


sắc thái không thân thiện, khẩu ngữ, suồng sã, thì ở ví dụ 4 từ “đứa” lại được
tác giả sử dụng thể hiện sự thân mật, gắn bó. Tuy hai “đứa” ở hai đầu của
chiến trận, song lại chung một con đường ra trận, chung một lý tưởng cách
mạng và điều đặc biệt là chung một nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy đã làm cho “Đường
ra trận mùa này đẹp lắm”. Với ý nghĩa đó, từ “đứa” đã góp phần thể hiện tình
cảm tự nhiên, giản dị của những chàng trai, cô gái đang cùng chung chiến hào
chống Mỹ.
3.1.2.2. Sử dụng từ khẩu ngữ có sắc thái hồn nhiên thông tục
Loại này chúng tôi thống kê được 27 phiếu (3,8%).

25


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

VD1:

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

“Vén xanh nhà lại hiện dần
Những hàng bộ đội quân quần nẻo xa”.
(Vùng làng)

VD2: “Ngói vỡ bởi bom rung hở một mảnh trời nho nhỏ”
(Qua một mảnh trời thành phố Vinh)
VD3: “Đau bụng: trần bì, bổ bì, bạch truột
Thời nào cũng bốc bấy nhiêu thang”
(Ông già thuốc bắc)
Khi nhận xét về thơ Phạm Tiến Duật nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền
đã viết “Trong một số bài thơ có những từ, nếu đứng riêng thì rất tục nhưng

Chúng tôi thống kê được 27 phiếu chiếm (3,76%).
VD1: “Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu
Thắp: mùa đông ấm nhưng đêm thâu”
(Lửa đèn)
VD2: “Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
Quả cây chín đỏ hoe”.
(Lửa đèn)
VD3: “Kìa thùng nước ông già đã đem ra trận
Giữa trời bay mùi cam thảo thơm lừng”
(Ông già thuốc bắc)
Ở cả ba ví dụ trên chúng ta thấy tác giả đã sử dụng rất khéo léo các từ
ghép sắc thái hoá có khả năng gợi hình, biểu cảm cao. “Nhỏ xíu” khác với nhỏ
xinh hay nhỏ bé. Từ “nhỏ xíu” gợi cho chúng ta hình ảnh những quả cà chua
rất nhỏ và máu sắc, hình dáng của nó giống như những chiếc đèn lồng, có sức
lan toả ấm cả “những đêm thâu”. Từ “nhỏ xíu” thể hiện tình cảm âu yếm, thân
thương. “Đỏ hoe” khắc với đỏ ửng hay đỏ rực. Đỏ hoe là “màu đỏ nhạt nhưng
tươi” (Hoàng Phê - đd). “Thơm lừng” mà không phải là thơm mát - hay thơm
nức, thơm lừng hà “mùi thơm toả ra mạnh và rộng” (Hoàng Phê - đd).
Các từ ghép sắc thái hoá đã góp phần làm tăng thêm tính gợi hình và
biểu cảm cho cậu thơ.
3.1.4. Sử dụng từ địa phương

27


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

Từ địa phương là những từ chuyên dùng ở một địa phương cụ thể nào

NguyÔn Quang §¹i - K29A Ng÷ v¨n

khắc hoạ đặc điểm phẩm chất của đối tượng. Từ “niêu”, “Gạo ướt sũng cho
vào niêu nhỏ” gợi sự góp nhặt, lam lũ nhọc nhằn của người mẹ ở hậu phương.
Từ “ni”, “Màu trắng đêm ni là màu trắng bàn tay” thể hiện tình cảm nhẹ
nhàng, thân thương, chân thành của cô gái miền Trung. Tình quê, hồn quê
đậm đà trong mỗi câu thơ, vần thơ. Nó không chỉ là biểu hiện tấm lòng của ông
đối với quê hương mà còn là dấu ấn của một tài năng trong việc sử dụng ngôn
ngữ dân tộc, ngôn ngữ đời thường.
3.1.5. Sử dụng lớp từ láy mang màu sắc khẩu ngữ
Là một trong những lớp từ giàu màu sắc biểu cảm trong tiếng Việt nên
từ láy có những hiệu quả biểu đạt hết sức to lớn. Ở mỗi góc độ, mỗi khía
cạnh, mỗi phương diện, từ láy mang hiệu quả khác nhau nhưng tất cả sự khác
nhau ấy lại được tập trung ở ý nghĩa cơ bản nhất, đó chính là sắc thái biểu
cảm. “Từ láy là một phương thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt. Mỗi từ láy là
một nốt nhạc về âm thanh, chứa đựng trong mình một bức tranh cụ thể của
các giác quan thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác... Kèm theo
những ấn tượng về sự cảm thụ chủ quan, những đánh giá, những thái độ của
người nói trước sự vật, hiện tượng, đủ sức thông qua các giác quan hướng
ngoại và hướng nội của người nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ. Cho nên,
từ láy là công cụ tạo hình rất đắc lực của nghệ thuật, nhất là của thơ ca” [2,
tr.54].
Trong thơ của mình, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã sử dụng một cách triệt
để hiệu quả tu từ của từ láy. Số lượng từ láy trong thơ ông rất lớn, chúng tôi
đã thống kê được 138 phiếu (chiếm 19,2%). Đặc biệt là những từ láy có màu
sắc khẩu ngữ.
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc “Phong cách sinh hoạt hằng ngày ưa
dùng từ láy và vì vậy đã sản sinh ra những từ láy giàu sắc thái cụ thể, gợi

29


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status