NGUYẺ NT HỊ NHÀ N
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TỪ, NGỮ THUỘC
KHOALỚP
NGỮ VĂN
PHONG CÁCH HỘI THOẠI
TRONG THƠ NGÔ VĂN PHÚ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•••
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
NGUYÊN THỊ NHÀN
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LỚP TỪ, NGỮ
THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI
TRONG THƠ NGÔ VĂN PHÚ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
•••
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Ngưòi hưóng dẫn khoa học: ThS. GVC. Lê Kim Nhung
hình tượng nghệ thuật. Cũng như vậy, nhà văn, nhà thơ dùng ngôn ngữ đế thế hiện tình cảm,
cảm xúc, đưa người đọc đến với cuộc sống muôn màu. Ngôn ngừ là một trong những yếu tố
góp phần thế hiện tư tưởng và làm nên giá trị của tác phẩm, khẳng định tài năng của người
nghệ sĩ. Có những tác phấm ấn tượng bởi ngôn từ trang nhã, mĩ lệ, bóng bấy. Nhưng cũng có
những câu thơ, trang văn với ngôn từ mộc mạc, giản dị đã đế lại trong lòng người đọc bao
rung cảm thẩm mĩ. Có thể nói rằng sự kết hợp đan xen, hòa quyện của ngôn ngữ vừa trau
chuốt, bóng bấy, vừa gần gũi, đời thường trong một tác phẩm là một hiện tượng đặc biệt. Nó
làm cho tác phấm dễ hiếu, dễ đi vào lòng người, nhiều khi diễn tả được cái khoảnh khắc của
tạo vật, cái xúc cảm của lòng người mà vẫn mang màu sắc thấm mĩ. Trong sáng tác, nhiều
nghệ sĩ đã rất khéo léo, tài tình khi đưa lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại vào tác phấm
làm cho ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân nhưng vẫn mang đặc trưng của
ngôn ngữ nghệ thuật. Việc sử dụng yếu tố mang màu sắc khấu ngữ giúp tác giả thế hiện tình
cảm, tâm trạng một cách chân thực, tự nhiên và góp phần khắng định phong cách của nhà
thơ.
Chính vì vậy việc tìm hiểu hiệu quả sử dụng của lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội
thoại giúp chúng ta tìm hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm cũng như tài năng của người
nghệ sĩ dưới cái nhìn từ góc độ ngôn ngữ nghệ thuật. Đặc biệt, đây là việc làm cần thiết đế
thấy được sự xuyên thấm phong cách trong ngôn ngữ học.
1.2 Ngô Văn Phú là nhà thơ đương đại có phong cách độc đáo, riêng biệt. Tuy tác phẩm của ông
chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nhưng ông đã đánh dấu được vị trí của mình
trên văn đàn. Ngô Văn Phú viết nhiều và viết khỏe. Ông thành công ở nhiều thể loại: thơ,
tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo, dịch thuật... đặc biệt là mảng thi ca với hơn 300 bài thơ
đã góp phần tạo dấu ấn riêng về phong cách của tác giả trên thi đàn. Phần lớn ông được độc
giả biết đến với tâm hồn thơ đồng nội, một nhà thơ tiếp nối mạch thơ chân quê của Đoàn
Văn Cừ và Nguyễn Bính. Thơ ông là tiếng thơ đồng nội giản dị, hồn hậu, chân chất yêu
thương.
1.3 Lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại xuất hiện nhiều trong thơ Ngô Văn Phú.
Chính điều này đã góp phần thể hiện những cảm xúc chân thực, sâu lắng và tạo nên một nét
đại Việt Nam qua cách họ sử dụng biến âm đế tạo từ khấu ngữ, sử dụng từ láy mang màu sắc
khấu ngữ trong thơ, vận dụng thành ngữ, tục ngữ...trong các bài thơ. Hồ Xuân Hương xứng
đáng là “Bà chúa thơ Nôm”, Nguyễn Khuyến được mệnh danh là “Nhà thơ trào phúng, nhà
thơ của dân tình, làng cảnh Việt Nam” còn Tú Xương được xem là “Bậc thần thơ thánh chữ”
- người mở đầu cho dòng hiện thực trào phúng.
Và đặc biệt, tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn: “Phong cách học tiếng Việt” đã trình
bày rất khoa học về đặc điểm sử dụng của lớp từ ngữ thuộc phong cách ngôn ngừ hội thoại
và sự xuyên thấm phong cách trong ngôn ngữ nghệ thuật. Theo tác giả, phong cách hội thoại
ưa sử dụng từ khẩu ngữ, ngữ khí từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ và sử dụng từ láy giàu sắc
thái cụ thế, gợi hình, gợi cảm. Ngoài ra người tham gia giao tiếp còn vận dụng thành ngừ, tục
ngữ hoặc cách nói tắt vào lời nói của mình. Và lớp từ, khấu ngừ này được nhiều nhà văn, nhà
thơ đưa vào tác phâm của mình tạo ra hiện tượng xuyên thâm phong cách trong ngôn ngữ
nghệ thuật.
Như vậy các tác giả, các nhà nghiên cứu đã bước đầu tìm hiểu về các lớp từ ngữ
thuộc phong cách hội thoại. Đây là cơ sở lý luận cần thiết, quan trọng để chúng tôi triển khai
đề tài.
2.2.Nghiên cứu về tác phẩm của nhà thơ Ngô Văn Phú
2.2.1.
Nghiên cứu thơ Ngô Văn Phú từ góc độ văn học
Ngô Văn Phú là tên thật cũng là bút danh. Ông là một tác giả tiêu biếu của văn học
đương đại Việt Nam. Độc giả biết đến ông trước hết là một nhà thơ - một hồn thơ tiếp nối
mạch thơ chân quê của Đoàn Văn Cừ và Nguyễn Bính.
Tìm hiếu về thơ ông, các tác giả quan tâm nhiều đến phương diện nội dung của tác
phẩm.
Trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú”, Nxb Hội Nhà văn, 1997, tác giả Nguyễn
Hoàng Sơn đã tìm hiếu nội dung thơ Ngô Văn Phú với đề tài: ‘Wgỡ V ă n P h ú - D ấ u
Q u ê k i ê n g đ ầ y v ơ i n é t t h ị t h à n h ’ , là sự xót xa trước hình ảnh trai làng lên
thành phố đạp xích lô ( T ì n h k h ú c t r a i n g h è o ) , những trẻ em nông thôn rủ nhau ra
thành phố không cửa không nhà ( N h ữ n g t h i ê n t h ầ n c ó c á n h ) hay là sự khắc khoải
âu lo trước sự mất mát, tàn tạ của những nét đẹp truyền thống, những di tích văn hóa vật thể
như “ t h á p c ũ r ê u p h o n g đ á v ẹ t m ò n ”, tượng La Hán bị “ h à i m ấ t , t a y
long, áo bục sờn ” (về làng).
Ngoài ra còn có một vài nhận định về nét chân quê, tâm hồn đồng nội trong thơ Ngô
Văn Phú như: “Đọc Tháng năm, mùa gặt” - Mã Giang Lân, “Người quê hòa nhập với hồn
quê” - Thái Doãn Thiểu hay “Vẻ đẹp của hồn quê” - Lê Lưu Oanh.
Như vậy, nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình đã chú ý chất chân quê, tâm hồn đồng
nội trong thơ Ngô Văn Phú để từ đó làm nối bật mạch thơ điền viên thôn dã trong tác phấm
của ông.
2.2.2. Nghiên cứu tác phẩm của Ngô Văn Phú từ góc độ ngôn ngữ
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ, nhiều tác giả, người nghiên cứu đã đề cập đến một số yếu
tố ngôn ngừ của tác phẩm như hiệu quả tu từ của điệp ngữ, cách ví von, so sánh.
Tác giả Tô Hà trong “Tuyến tập thơ Ngô Văn Phú” bàn về hiệu quả tu từ của điệp
ngữ trong bài: ‘Thôi mẹ đừng ra ngõ chiều nay”. Theo tác giả, cái điệp khúc: “ T h ô i m ẹ
đ ừ n g r a n g õ ” qua bài thơ đưa tiễn cùng tên, cứ lặp đi lặp lại, canh cánh trong lòng
người một nỗi buồn sâu xoáy. Tô Hà nhấn mạnh hiệu quả của điệp ngữ trong bài thơ, nó như
một nốt nhạc trầm, xoáy sâu vào lòng người về tình cảm mà người con dành cho mẹ của
mình.
Nhận định về thơ Ngô Văn Phú, trong bài “Đọc Tháng năm mùa gặt”,
tác giả Mã Giang Lân đã cho rằng thơ Ngô Văn Phú gần với dân gian trong
cách tìm tứ, lập ý, cách ví von, so sánh. Theo ông: “Thơ Ngô Vãn Phủ không cầu
kỳ trau chuốt. Anh thuần hậu, thăng than bộc bạch tâm tình. Mạch thơ thoải mái tự nhiên,
sắc. Trong tất cả các tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được chưa có tài liệu nào trùng tên với đề
tài khóa luận này.
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa lí luận của các nhà nghiên cứu về phong cách hội
thoại,về thơ ca Ngô Văn Phú, khóa luận tập trung nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên
sâu “Hiệu quả sử dụng từ, ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ hội thoại trong thơ Ngô Văn
Phú”. Hi vọng với đề tài này chúng tôi sẽ góp thêm tiếng nói khắng định phong cách thơ
Ngô Văn Phú cũng như làm rõ về sự xuyên thấm phong cách ngôn ngữ trong phong cách
học.
3. Mục đích nghiên cứu
- Củng cố các vấn đề lý thuyết về phong cách học văn bản.
- Góp thêm tiếng nói khắng định những đóng góp và phong cách nhà thơ đồng quê
hiện đại Ngô Văn Phú.
- Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy văn học và tiếng Việt
trong chương trình Ngữ văn phố thông.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài.
- Khảo sát, thống kê, phân loại, nhận xét các từ ngữ thuộc phong cách hội thoại trong
thơ Ngô Văn Phú.
- Phân tích, xem xét chức năng và hiệu quả sử dụng các từ, ngữ thuộc phong cách
hội thoại thông qua các ngữ liệu. Từ đó rút ra những kết luận cần thiết.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. / Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Ngô Văn Phú.
5.2 Phạm vi nghiên cún
Khóa luận tập trung nghiên cứu lớp từ, ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ hội thoại
trong 180 bài thơ của Ngô Văn Phú, được tập hợp trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú” , Nxb
Hội nhà Văn, Hà Nội, 1997.
6. Phương pháp nghiên cứu
bản) trong đó thế hiện “vai” của nhân vật tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày ”
[ 4,122].
1.1.2.
1.1.2.1.
Đặc trung của phong cách hội thoại
Tính cá thể
Tính cá thê của phong cách hội thoại thê hiện ở vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi người khi
trao đối, trò chuyện, tâm sự với người khác. Chẳng hạn có người từ tốn, khoan thai, nghiêm
túc, chính xác, có người nói hấp tấp, vội vàng, đại khái, có người thích nói “Hai năm rõ
mười” thắng băng, có người chuộng cách nói bóng bấy, tế nhị...
1.1.2.2.
Tính cụ thể
Tính cụ thể là đặc điếm nối bật của phong cách hội thoại: “Phong cách
sinh hoạt hằng ngày tránh lối nói trừu tượng, chung chung, thích lối nói cụ thê, nôi bật làm
cho sự vật không phải chỉ được gọi tên mà còn được hiện lên với những hình ảnh, âm thanh
rõ nét. Tính cụ thế đã làm cho sự giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày trở nên dê dàng,
nhanh chóng, ngay trong trưòng hợp phải đề cập đến những vẩn đề trừu tượng” [4,128].
1.1.2.3.
Tính cảm xúc
Tính cảm xúc gắn với tính cụ thế: “ Phong cách sinh hoạt hằng ngày được sử
dụng trong đời sông thực vô cùng cụ thê, sinh động truyền đạt những tư tưởng, tình cảm hết
Cách thức sử dụng câu
Phong cách hội thoại hay dùng những câu hỏi, những câu cảm thán, câu nói trực tiếp,
những câu đưa đấy.
Phong cách hội thoại có những kết cấu cú pháp riêng mà các phong cách khác
thường ít dùng.
+ Dùng kết cấu: “đã...lại” thay cho “ không những...mà còn”.
+ Dùng kết cấu: “động từ - gì mà - động từ” biểu thị thái độ phủ định.
+ Dùng kết cấu: “có ... thì” đế nhấn mạnh.
+ Dùng câu hỏi đế phủ định.
+ Chọn cách nói cụ thể hơn trong hai cách nói đồng nghĩa.
1.1.3.3.
Cách thức sử dụng biện pháp tu từ
Phong cách hội thoại hay dùng ví von, so sánh để lời nói có hình ảnh. Ví dụ, gọi
người thì dùng tên gọi có khả năng gợi ra nhừng hình ảnh, nhũng đặc điểm cụ thế, riêng biệt
thường có ở một người: lão Tư râu, ông Hai lùn, cậu Ba Trạng.
1.2.Từ khẩu ngữ
1.2.1.
Khái niệm
Theo tác giả Cù Đình Tú: “Trong vốn từ của bất kì người dân Việt Nam bình
thường nào, bên cạnh vôn từ đa phong cách, môi con người đêu có vôn từ ngữ rất quen
thuộc, rất gắn bó, đó là von từ khâu ngữ (gọi tẳt là từ khâu ngữ). Từ khâu ngữ được dùng
chủ yếu cho phong cách khâu ngữ tự nhiên tiếng Việt và là công cụ riêng của phong cách
này. Do chúng phục vụ cho nhu cầu nói năng hằng ngày cho nên người ta còn gọi chúng là
từ khâu ngữ hằng ngày, từ khâu ngữ sinh hoạt” [1, 133].
1.2.2.
p h á o Ví dụ: đ á n h thêm đ ấ m thành
đ á n h đ ấ m c â n thêm k é o thành c â n
k é o Kiếu 3. Mầu: đ à n ô n g lặp lại bộ phận
thành đ à n ô n g đ à n a n g .
Ví dụ: c o n g á i lặp lại bộ phận thành c o n g á i c o n đ ứ a .
ă n c ắ p lặp lại bộ phận thành ă n c ắ p ă n n ả y.
Kiếu 4. Mầu: l o thêm m é o m ặ t thành l o m é o m ặ t .
Ví dụ: n g â n thêm t ò t e thành n g â n t ờ t e
chạy thêm long tóc gáỵ thành chạy long tóc gáy.
Trong bốn kiếu mẫu trên ta thấy:
Yeu tố 1 { n g o n , x e , đ à n ô n g , l o ) nguyên là từ đa phong cách không mang
tính miêu tả cụ thê.
Yếu tố 2 ( n g o n ơ , x e p h á o , đ à n ỏ n g đ à n a n g , l o m é o m ặ t ) thêm
vào vốn không có nghĩa khi đứng riêng, vốn không phải là một từ độc lập nhưng khi thêm
vào thì làm cho đơn vị mới trở thành từ khâu ngữ, mang tính miêu tả cụ thể, giàu sắc thái
biểu cảm.
1.2.3.2. Bớt yếu to
Nguyên tắc cấu tạo của cách này là rút bớt yếu tố ở đơn vị nguyên là từ đa phong
cách để tạo thành đơn vị từ khấu ngữ. Cách này chỉ có một kiểu:
Mầu: n h â n khấu rút bớt n h â n thành k h â u .
Ví dụ: p h ê b ì n h bớt b ì n h thành p h ê .
thuyết phục bớt thuyết thành phục.
Cách cấu tạo này do khuynh hướng nói tắt, tỉnh lược thành tố của phong cách khẩu
ngữ tự nhiên tiếng Việt chi phối. Đơn vị mới tuy không có sắc thái biếu cảm nhưng vẫn là từ
khấu ngữ, sắc thái ý nghĩa có phần cụ thế.
1.2.3.3. Biến yếu tố
Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là biến yếu tố ở các đơn vị nguyên là từ đa
Các từ khâu ngữ: béng, quách, phứa, cút, chuồn...
Cấc quán ngừ khấu ngữ: của đáng tội, chết nỗi...
Từ khẩu ngữ kiểu này được cấu tạo bằng những yếu tố mang tính hình ảnh, sinh
động, cụ thể. Nghĩa của từ khẩu ngữ được hình thành nhờ qui luật chuyển nghĩa (ẩn dụ và
hoán dụ).
Việc chỉ ra đặc điểm cấu tạo hình thức và nội dung của các kiểu từ khẩu ngữ tiếng
Việt nói trên sẽ giúp ta có căn cứ khách quan đế xác định từ khấu ngữ tiếng Việt trong thực
tế.
1.2.4.
Hiệu quả sử dụng từ khấu ngữ
Từ khấu ngữ tiếng Việt không chỉ cần thiết cho nhu cầu nói năng thân mật hằng ngày
mà còn rất cần thiết cho sáng tác văn học.
Trong nhu cầu nói năng thân mật hằng ngày, “Con người luôn tiếp xúc
thăng với mọi mặt cụ thê, sinh động của cuộc song. Con người bày tỏ tức khắc những phản
ứng ít nhiều ở dạng cảm tính của mình...từ khâu ngữ tiếng Việt giàu hình ảnh và sắc thái
biêu cảm xuất hiện chính là đế đáp ứng nhu cầu diên đạt nói trên. Nói năng sinh hoạt hang
ngày mà thiếu từ khâu ngữ thì sự diên đạt sẽ trở nên sơ lược, tẻ nhạt, sẽ chỉ còn lại là một
hoạt động đưa tin - nhận tin thuẫn túy không kèm theo một chút thái độ bình giá nào, bởi vì
mọi chi tiết sinh động sống thực đã bị tước bỏ” [1, 138].
Trong sáng tác văn học, “Vể c ơ b ả n t ừ k h â u n g ữ l à n h ữ n g t ừ t h u ầ n
Vi ệ t , r â t g i à u h ì n h ả n h , g i à u s ắ c t h á i b i ê u c ả m , đ ó l à n h ữ n g t ừ
luôn găn chặt với cuộc song sôi nôi, sinh động. Cho nên từ khâu
n g ữ t i ế n g Vi ệ t t h u ộ c l o ạ i c ô n g c ụ l ợ i h ạ i n h ấ t đ ê n h à v ă n c ó t h ế
m i ê u t ả , t á i t ạ o đ ư ợ c c u ộ c s ố n g t h ự c t ro n g t á c p h ẩ m ” [1,138].Từ khẩu
đại. Song những thê loại văn học có tính lịch sử, nó vượt ra ngoài khuôn khô của chuản và
sử dụng cả những phương tiện đã cũ, trước hết là phương tiện từ vựng, như những từ cô, từ
lịch sử. Ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm cả những phương tiện ngôn ngữ không có trong ngôn
ngữ hiện đại, cũng chưa có trong lịch sử của nó tức những tân từ hiếu theo nghĩa rộng.
Người ta gọi những tân từ này ỉà những từ tiêm năng (do nhà văn sử dụng khả năng tiêm
tàng của ngôn ngữ đê cấu tạo nên) hoặc những từ ngâu họp (tức được cấu tạo một cách
ngâu nhiên). Ngôn ngữ nghệ thuật trong những phạm vi nhất định, sử dụng cả những
phương tiện ngoài ngôn ngữ văn hóa như những từ địa phương, những từ tiêng ỉóng, những
từ tục. Ngôn ngữ nghệ thuật hiếu theo một khía cạnh nào đó giàu hơn ngôn ngữ toàn dân ”
[4,139].
Như vậy tác giả khẳng định ngôn ngữ nghệ thuật giàu có, phong phú bởi ngoài ngôn
ngữ văn hóa, ngôn ngữ toàn dân nó còn sử dụng những “íữ /2 t ừ ” , “ t ừ n g ẫ u h ợ p ” ,
và những từ địa phương, tiếng lóng, tiếng tục. Ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng những từ thuộc
phong cách chức năng ngôn ngữ khác như: hành chính - công vụ, khoa học, phong cách
chính luận, phong cách báo chí và phong cách sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, lớp từ, ngữ
thuộc phong cách sinh hoạt hằng ngày được người nghệ sĩ chọn lọc khi đưa vào tác phẩm
nhằm khai tác hiệu quả tu từ của chúng và tạo ra giọng điệu riêng. Sự đan xen, kết hợp khéo
léo, linh hoạt giữa ngôn ngừ nghệ thuật với ngôn ngữ thuộc các phong cách khác chính là sự
xuyên thấm ngôn ngữ nghệ thuật.
1.4. Thơ Ngô Văn Phú
1.4.1.
Cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ Ngô Văn Phú
a. Cuộc đời
Ngô Văn Phú còn có bút danh là Ngô Bằng Vũ, Đào Bích Nguyên, sinh ngày
8/4/1937 tại Nam Viêm - Mê Linh - Vĩnh Phúc. Ông vào đời văn khá sớm, ngay từ khi còn là
Như vậy tất cả những phần lý thuyết về phong cách hội
thoại, về phong cách ngôn ngừ, sự xuyên thấm phong cách
ngôn ngữ cũng như một vài nét khái quát về tác giả là cơ
sở lý luận quan trọng đế chúng tôi thực hiện đề tài:
“Hiệu quả sử dụng lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại
trong thơ Ngô Văn Phú”.
CHƯƠNG II: KÉT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI LỚP TỪ, NGỮ
THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ
NGỒ VĂN PHỦ.
2.1. Bảng thống kê
Các lớp từ, ngữ thuộc phong cách ngôn ngừ hội thoại
Sử dụng từ khâu ngữ
Tổng
Sử dụng lối nói dẫn thành
ngữ, tục ngữ, ca dao
Sử
dụng Sử
biến âm để ngữ
dụng Sử
104
38
150
29
7
19
400
13,25
26
9,5
37,5
7,25
1,75
4,75
100
rộ dăm câu, mắc võng lên”.
(Đặc công)
-
Biến âm đơn thành âm đôi (“o” thành “ oa”)
“Cần chi trèo bưởi hái hoa
Tiền “boa” anh tặng đêm ba, bốn lần”.
(Phản ca dao)
-
Biến âm chính âm đôi (“ưa” thành “eo”)
“Ở đây ruộng đất hóa thần
Chòm ao, thẻo đất, xó vườn đều xanh”.
(Đong bằng)
-
Biến âm chính (“ây” thành “ay”), (“u” thành “ô”)
“Bẩy mươi rồi, việc các em chị thầm đến lo toan Xong
xuôi hết mới trở về vui vẻ”.
(Chị tôi)
“Chiều ba mươi tết khối người đọc
M ồ n g một thằng nao bóc mất rồi”.
(Làng cọ)
“ Được mấy c á i que rào Quắn lưng kêu
ăng ẳng”.
(Cún con)
Với việc sử dụng các từ chỉ loại ( c á i , đ á m , c o n . . . ) tác giả đã làm cho sự vật, sự việc hiện
lên cụ thế, chi tiết, chân thực, dễ nắm bắt. Đặc biệt trong là trong chùm thơ thiếu nhi, các con vật, sự vật
hiện lên rõ ràng giúp trẻ em dễ nhận biết, nhớ lâu.
* Sử dụng đại từ
(Tết nhớ Tú
Đại từ là lớp từ dùng đế thay thế và chỉ trỏ. Trong các bài thơ, Ngô Văn Phú đã sử dụng rất nhiều
đại từ bao gồm đại từ nhân xưng, đại từ chỉ định:
“Thơ này t ô i dán ngay đầu cổng
Mồng một t h ằ n g nao bóc mất rồi”.
(Tet nhớ Tú Xương)
“Mèo gắt: “Ngoeo, ngoeo...”
Chó đừng trêu t ử "
(Chuột nhắt)
“Ngoái lại, nhìn gương cao giọng quát T h ằ n g kia, bố
hỏi, m à y là ai?”
(Say)
“Một thời người ấy yêu tôi
B â y g i ò ’ người của một thời nay đâu?”
(Người của một thời)
Các đại từ nhân xưng được tác giả sử dụng rất linh hoạt, khi thì thể hiện sự thân mật, khi thể hiện
sự hóm hỉnh, bông đùa... Đại từ không chỉ được tác giả sử dụng cho con người mà còn dùng đế xưng hô
(Người yêu ngày trước)
“ C h ắ c h ẳ n bạn tôi mơ rất đẹp Gương mặt hiền
rạng rờ làm sao”.
(Giấc ngủ)
“ C h a o ơ i , muôn vật trong trời đất Cỏ cây còn
biết phải lòng nhau”.
(Tơ hồng và cúc tần)
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy thán từ, tình thái từ được sử dụng khá nhiều ở các
mảng đề tài: thiên nhiên, cảnh vật làng quê, người dân lao động... nhưng tập trung chủ yếu là ở mảng thơ
tình. Tình cảm, cảm xúc của nhà thơ nhiều khi được bộc lộ gián tiếp qua các hình ảnh, có khi được bộc lộ
một cách trực tiếp bằng các thán từ: “ c h a o ô i , c h a o ơ i , t r ờ i ơ i . . . ” . Đó là những sự ngạc nhiên
trước cảnh đẹp thiên nhiên làng quê, xúc động khi cảm nhận được khao khát bình dị của người lính hay là
những tâm trạng, xúc cảm trong tình yêu.
b. S ử d ụ n g t ừ k h â u n g ữ m a n g s ắ c t h á i h ổ n n h i ê n t h ô n g t ụ c Đọc “Tuyển
tập thơ Ngô Văn Phú” ta thấy lớp từ khấu ngữ được sử dụng thường xuyên, dày đặc nhưng được tác giả