Người kể chuyện trong tiểu thuyết tạ duy anh - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
----------o0o----------

MAI HẠNH NGÂN

NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHÙNG GIA THẾ

HÀ NỘI – 2013

1


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo,
TS. Phùng Gia Thế - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, động viên
và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Ban Giám hiệu
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Ngữ văn và đặc
biệt là các thầy cô trong tổ bộ môn Lí luận văn học đã tận tình giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận.
Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế,
thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía các thầy cô
và các bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục được hoàn

MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề………………………………………………............. 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………….… 4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……………………………………………….. 5
5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………............. 5
6. Đóng góp của khóa luận………………………………………………….……. 5

7. Bố cục của khóa luận…………………………………………………….…….. 5
NỘI DUNG .......................................................................................................... 12

Chương1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN VĂN HỌC ............................................................. 12

1.1. Khái niệm về người kể chuyện…………………………………………........ 7
1.2. Chức năng của người kể chuyện……………………………………….. .... 10
1.3. Các hình thức của người kể chuyện ....................................................... 12
1.3.1. Người kể chuyện ngôi thứ nhất .................................................... 17
1.3.2 Người kể chuyện ngôi thứ hai ....................................................... 19
1.3.3. Người kể chuyện ngôi thứ ba ....................................................... 20
1.4. Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả ........................................ 21
Chương 2. SỰ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT
TẠ DUY ANH .................................................................................................... 24
2.1. Ngôi kể của người kể chuyện ................................................................ 24
2.1.1. Người kể chuyện ngôi thứ ba ....................................................... 24
2.1.2. Người kể chuyện ngôi thứ nhất .................................................... 26
2.1.3. Sự xen cài, luân chuyển giữa các ngôi kể ..................................... 29
2.2. Điểm nhìn của người kể chuyện ............................................................ 33

4

năm gần đây, do quá trình tiếp thu các thành tựu lí luận trên thế giới, người ta
thấy cần có sự phân biệt giữa tác giả và người kể chuyện. Vì vậy, người kể
chuyện trở thành vấn đề rất được giới nghiên cứu quan tâm chú ý.
Tz. Todorov đã tuyên bố: “Không thể có trần thuật thiếu người kể
chuyện” [dẫn theo 28, tr.116 – 117]. Có thể hiểu tuyên bố này như là một sự
khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của người kể chuyện đối với một tác
phẩm tự sự.
Người kể chuyện là nhân vật do tác giả sáng tạo ra có nhiệm vụ tổ chức
kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận văn bản. Chính bởi
vậy, việc xây dựng hình tượng người kể chuyện trong tác phẩm tự sự là biểu
hiện của sức sáng tạo ở mỗi tác giả. Lựa chọn hình thức người kể chuyện này
hay khác sẽ góp phần quan trọng làm nên thành công của tác phẩm và khẳng
định tài năng của nhà văn.
1.2. Văn học Việt Nam từ sau 1975 đã và đang có những nỗ lực cách
tân đáng ghi nhận. Sớm được biết đến như một nhà văn có khát vọng mãnh
liệt trong việc đổi mới, Tạ Duy Anh không ít lần “làm nóng” bầu không khí
phê bình văn học bằng những sáng tác gây nhiều tranh cãi. Qua những sáng
tác khen, chê không dứt ấy, Tạ Duy Anh khẳng định một bản lĩnh “bước qua
lời nguyền”, “viết như một sự vượt qua chính mình”. Thực tế cho thấy nhà
văn đã có những đóng góp mới mẻ cho nền văn học nước nhà trên nhiều
phương diện: nhân vật, cốt truyện, kết cấu… làm thay đổi sâu sắc diện mạo

6


nền văn học Việt Nam đương đại, đem đến cho người đọc những tác phẩm
mới mẻ, góp phần làm thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng.
1.3. Dù có người đã cáo chung cho thể loại tiểu thuyết thì thể loại này
vẫn phát triển mạnh mẽ, có vị thế cột sống và đóng vai trò quyết định căn cốt
diện mạo một nền văn học, là thể loại của thời đại hôm nay. Đối với Tạ Duy

Các bài viết trên chủ yếu đề cập đến vấn đề người kể chuyện trên
phương diện lí thuyết nhằm cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết cơ bản về
người kể chuyện. Tuy nhiên, việc ứng dụng tìm hiểu người kể chuyện trong
tác phẩm cụ thể vẫn chưa được nhiều tác giả quan tâm triển khai.
2.2. Cuối những năm 80 của thế kỉ trước, trong trào lưu đổi mới của
toàn xã hội, văn học cũng nhanh nhạy xuất hiện những tên tuổi cùng những
tác phẩm đáng chú ý. Người ít tuổi nhất trong số các tên tuổi ấy chính là Tạ
Duy Anh. Đến nay, với hơn 20 năm cầm bút, ông đã cho ra đời một số lượng
tác phẩm đáng kể với sáu tiểu thuyết, hàng chục tập truyện ngắn, tản văn,
truyện thiếu nhi… Điều đáng nói là trong số đó, có rất nhiều tác phẩm của
ông ngay từ khi mới ra đời đã gây chú ý đặc biệt trong công chúng và giới
phê bình. Luôn có ý định cách tân văn học một cách mạnh mẽ, Tạ Duy Anh
nhận được nhiều sự ủng hộ song cũng không ít lời phản bác của độc giả. Các
nhà nghiên cứu đã dành nhiều trang viết về Tạ Duy Anh, song mới chỉ dừng
lại ở việc nghiên cứu ở quy mô nhỏ lẻ, các bài báo, phỏng vấn, điểm sách… Ở
cấp độ lớn nhất đó là những khoá luận, luận văn khoa học. Có thể kể ra một
số ý kiến đánh giá, những nghiên cứu ở nhiều công trình với các cấp độ khác
nhau như sau:
Báo Thể thao và Văn hóa số 47 năm 2004 đánh giá về nội dung giá trị
tác phẩm Tạ Duy Anh: “Mối quan tâm lớn nhất của Tạ Duy Anh là cái vong
bản, đánh mất mình của con người, dưới sự giằng xé xiêu dạt của lịch sử.
Trên con đường truy tìm lại mặt mình, cũng như khả dĩ gương mặt của quá
khứ, con người vấp phải và bị phong tỏa bởi thói gian trá, đớn hèn, vật dục,

8


tàn ác, kể cả trong mỗi cá nhân. Phúc âm duy nhất là tình yêu, tình cảm trong
sạch bản thể của hiện tại và cái nhìn trung thực, nhân đạo đối với những vết
thương, lỗi lầm trong quá khứ. Có thể gọi ông là nhà văn của đạo đức. Văn

vật ngoại biên và những thủ pháp xây dựng nhân vật đáng chú ý trong sáng
tác Tạ Duy Anh.
Thứ ba, Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tạ Duy
Anh của Võ Thị Thanh Hà nghiên cứu Tạ Duy Anh trong bối cảnh đổi mới
tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, quan niệm nghệ thuật về con người và đặc sắc
thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông.
Qua các bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên, các nhà phê bình cơ
bản đã thống nhất ghi nhận những nỗ lực của Tạ Duy Anh trong việc đổi mới
văn học, về những cách tân trong tư duy và lối viết, trong đó ít nhiều đề cập
đến vấn đề người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông. Phân tích các công trình
nghiên cứu tiểu thuyết Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận thấy chưa có một công
trình nào tìm hiểu về người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông một cách toàn
diện và triệt để. Chính vì lẽ đó, trên cơ sở gợi ý của những người đi trước, tác
giả khóa luận mong muốn tập trung tìm hiểu người kể chuyện trong tiểu thuyết
Tạ Duy Anh để góp phần làm nổi bật những tìm tòi, đổi mới trong nghệ thuật
tiểu thuyết của nhà văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận hướng đến mục đích tìm ra điểm độc đáo của người kể
chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh trên cơ sở khai thác các hình thức kể
chuyện truyền thống và những sáng tạo mới nhằm khẳng định nỗ lực của tác
giả trong việc đổi mới nghệ thuật tự sự tiểu thuyết.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Nêu ra khái niệm về người kể chuyện, chức năng, các hình thức
người kể chuyện và mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả.

10


3.2.2. Nghiên cứu vấn đề người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy

Chương 1: Những vấn đề chung về người kể chuyện trong nghiên cứu lí luận
văn học
Chương 2: Sự độc đáo của người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh

11


NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN VĂN HỌC
1.1. Khái niệm về người kể chuyện
Người kể chuyện là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn
xuôi hiện đại nhưng phải đến đầu thế kỉ XX, vấn đề này mới được giới nghiên
cứu quan tâm. Những người có công đầu tiên trong việc đề xuất nghiên cứu
về người kể chuyện đó là các nhà hình thức chủ nghĩa Nga (A.Veksler,
I.Gruzdev, V.Shklovski, B.Eikhembaum) và nhóm các nhà nghiên cứu Bắc
Âu viết bằng tiếng Đức (W.Dibelius, K.Friedemann, K.Forstreuter). Tuy
nhiên, phải qua công trình của những nhà nghiên cứu thế hệ sau, những người
đặt nền móng cho “trần thuật học” như P.Lubbock, N.Friedman, E.Leibfried,
F.Stanzel, W.Kayser, Iu.Lotman, B.Uspenski, R.Barthes, Tz.Todorov,
G.Genette, S.Chatman… “phương pháp hình thức” kết hợp với “mĩ học tiếp
nhận” mới đưa ra được quan điểm tương đối rõ ràng về người kể chuyện.
Chúng tôi xin dẫn ra một số khái niệm về người kể chuyện của một số tác giả
tiêu biểu:
Theo G.N. Pospelov thì người kể chuyện là “người môi giới giữa các
hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến và
cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [dẫn theo 29, tr.196].
Trong quan niệm của W. Kayser, người kể chuyện là một khái niệm
mang tính chất cực kì hình thức: “Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc

câu chuyện theo phản ứng của người nghe thì ngược lại, người kể chuyện trong
tác phẩm tự sự có thể sử dụng lối kể đảo tuyến, đan xen giữa hiện tại, quá khứ,
tương lai. Câu chuyện mà họ kể ra đã được cố định trong văn bản, không thể
thêm bớt hay sửa chữa gì [29, tr.196 – 208].

13


Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Thị Hải Phương còn khẳng định người kể
chuyện là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự. Người kể chuyện không
chỉ là một nhân vật tham gia trong tác phẩm như các nhân vật khác mà còn có
chức năng tổ chức các nhân vật khác, đánh giá về các nhân vật khác. Vị trí
của nhân vật người kể chuyện trong tác phẩm thay đổi rất linh hoạt, tùy thuộc
vào động cơ và thái độ của tác giả.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, người kể chuyện là “hình tượng ước lệ
về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện
được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình tượng của
chính tác giả…, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra…, có
thể là một người biết một câu chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có nhiều
người kể chuyện. Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái
nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã
hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống
trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh” [14, tr.221].
Qua việc khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy mỗi định nghĩa khai thác
khái niệm “người kể chuyện” ở một phương diện khác nhau, nhưng tựu trung
lại, chúng ta có thể khái quát được những đặc điểm cơ bản sau về người kể
chuyện trong tác phẩm tự sự:
- Người kể chuyện là một dạng hình tượng do tác giả hư cấu, sáng tạo
nên, là người đại diện phát ngôn cho tác giả trong tác phẩm tự sự.
- Trong phạm vi tác phẩm, người kể chuyện là chủ thể của lời kể, là

L. Timofeev cũng đã khẳng định: “Hình tượng này có tầm quan trọng
hết sức to lớn trong việc xây dựng tác phẩm bởi các quan niệm, các biến cố
xảy ra, cách đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân
người kể” [dẫn theo 29, tr.204].

15


Hai là, người kể chuyện có chức năng môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp
cận thế giới nghệ thuật, giúp người đọc hiểu rõ hơn, sâu hơn về nhân vật,
hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ và đồng cảm với những chiêm
nghiệm, những suy nghĩ của mình về cuộc đời.
Trong nhiều trường hợp, người kể chuyện còn tiến hành đối thoại, tranh
luận với người đọc để cùng nhau kiếm tìm, khám phá chân lí cuộc sống.
Ba là, người kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày những quan điểm về
cuộc sống, nghệ thuật. Mỗi nhà văn khi sáng tạo ra một tác phẩm văn chương
đều mong muốn gửi gắm vào đó một quan điểm, một tư tưởng về cuộc sống,
về con người. Tuy nhiên, các nhà văn không trình bày tư tưởng của mình
bằng những lời phát biểu trực tiếp mà trình bày một cách nghệ thuật thông
qua các hình tượng do mình hư cấu nên trong đó có hình tượng người
kể chuyện.
Trong 150 thuật ngữ văn học, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cũng đưa
ra quan niệm của mình về người kể chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần thuật
tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung
giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và
giải thích về những gì đã xảy ra” [7, tr.360]. Theo quan điểm này, nhà lí luận
một lần nữa khẳng định vai trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện của người kể
chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời nhấn mạnh vai trò chứng kiến và giải
thích của hình tượng này. Đây là những dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện
người kể chuyện trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay.

kể chuyện có điều kiện tham dự vào cuộc đàm thoại, được nhận xét trực tiếp
về các sự kiện và các nhân vật, được nói tiếng nói riêng của mình. Từ đó, bạn
đọc nhận ra tính cá biệt hóa của người kể chuyện với các nhân vật trong
truyện cả trên phương diện xã hội thẩm mĩ, góp phần tạo ra cái nhìn nghệ
thuật cho tác phẩm.

17


Nói về người kể chuyện ngôi thứ nhất, nhà bác học Nga M. Bakhtin đã
từng khẳng định: “Trần thuật từ ngôi thứ nhất là tương tự với sự trần thuật của
người kể chuyện. Đôi khi, hình thức này do dụng ý dựa trên lời kể của kẻ khác
quy định, đôi khi như lối kể của Tuôcghênhiep, nó có thể tiếp cận và cuối cùng
là hòa nhập với lời trực tiếp của tác giả, tức là hoạt động với lời một giọng của
ngôi thứ hai” [28, tr. 380].
Người kể chuyện ngôi thứ nhất cũng mang những ưu điểm và hạn chế
nhất định. Vì người kể ở đây là một nhân vật trong tác phẩm tham gia vào hầu
hết các tình tiết, sự kiện trong tác phẩm nên câu chuyện được kể trở nên đáng
tin cậy hơn so với việc câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba. Không những thế,
vì là một nhân vật trong truyện đứng ra kể nên câu chuyện được kể mang tính
chủ quan hơn và thông tin được kể trở nên thấm thía hơn. Tuy nhiên, do nhân
vật tham gia vào chuyện nên nó không thể mang cái nhìn bao quát như người
kể chuyện đứng ngoài mà biết đến đâu, kể đến đấy. Do vậy, dung lượng hiện
thực được phản ánh thường hạn chế.
Dù vậy, số tác giả viết truyện sử dụng hình thức người kể chuyện này
vẫn giữ số lượng lớn. Có thể kể đến Nam Cao với: Những cánh hoa tàn, Dì
Hảo, Lão Hạc, Cái mặt không chơi được, Những chuyện không muốn viết,
Mua nhà…, Nguyễn Công Hoan với: Mánh khóe, Nhân tài, Tôi chủ báo, nó
chủ báo…, Nguyễn Minh Châu với: Mảnh trăng cuối rừng, Bức tranh, Cỏ
lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành…, Nguyễn Huy Thiệp với: Chảy

nhất và ngôi thứ ba. Cái ngôi thứ hai ấy giúp tôi miêu tả được tình huống của
nhân vật và cái cách ngôn từ nảy sinh ở anh ta”.
Nếu ở các nhà văn khác, việc sử dụng người kể chuyện ngôi thứ hai rải
rác trong tác phẩm thì trong Thay đổi của M. Butor trừ một vài đoạn hiếm hoi,
ông đã sử dụng phổ biến từ đầu đến cuối hình thức người kể chuyện này.
Như vậy, giống với người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện
ngôi thứ ba, hình thức người kể chuyện ngôi thứ hai cũng có khả năng đem

19


đến cho tác phẩm những ý nghĩa riêng. Người kể chuyện vẫn là hình tượng
nghệ thuật có thể thay mặt tác giả thể hiện quan niệm, tư tưởng nghệ thuật về
cuộc sống và con người.
1.3.3. Người kể chuyện ngôi thứ ba
Cùng với hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất, người kể chuyện
ngôi thứ ba là hình thức kể chuyện quen thuộc và phổ biến được các nhà văn
sử dụng khi viết các tác phẩm tự sự. Tuy nhiên, nếu hình thức người kể
chuyện ngôi thứ nhất mới chỉ xuất hiện khoảng hai thế kỉ trở lại đây thì hình
thức người kể chuyện ngôi thứ ba là hình thức trần thuật đã ngự trị trong văn
học từ thời cổ trung đại. Hình thức kể này cho phép người kể có thể kể tất cả
những gì họ biết. Đây là hình thức người kể chuyện giấu mặt, đứng ở một vị
trí nào đó trong không gian, thời gian bao quát hết mọi diễn biến của câu
chuyện đã xảy ra trọn vẹn và thuật lại với chúng ta. Dù người kể chuyện
không xuất hiện, ta không biết tên tuổi, hình hài, tư cách ra sao nhưng ngầm
hiểu trước sau vẫn một người ấy.
Tác giả Nguyễn Thái Hòa khi bàn về người kể chuyện ngôi thứ ba đã
khẳng định: “Ở lối kể này, người kể đứng ở vị trí khách quan “giả vờ” không
dính líu đến câu chuyện. Nói cách khác, là giữ một khoảng cách giữa người
kể và nhân vật, cốt truyện để rộng đường hư cấu và đảm bảo tính khách quan

chuyện với tác giả, có nhà nghiên cứu lại đồng nhất hai khái niệm này. Tuy
nhiên, việc đồng nhất hay tách biệt hoàn toàn hai yếu tố này sẽ đều là không
thỏa đáng. Khảo sát thực tế ở các tác phẩm tự sự, chúng tôi nhận thấy giữa
người kể chuyện và tác giả có nhiều điểm thống nhất nhưng không hoàn toàn
đồng nhất.
Như đã nhắc tới ở trên, người kể chuyện là người do tác giả sáng tạo ra
để thực hiện hành vi kể, xây dựng kết cấu tác phẩm, bày tỏ quan điểm, tư tưởng
nghệ thuật của tác giả về cuộc sống cũng như con người. Do đó, người kể
chuyện ít nhiều sẽ mang dấu ấn tác giả. M. Bakhtin từng nói: “Ta đoán định âm

21


sắc tác giả qua đối tượng câu chuyện kể cũng như qua chính câu chuyện và
hình tượng người kể chuyện bộc lộ trong quá trình kể” [dẫn theo 29, tr.199].
Mọi nội dung tư tưởng, ý đồ sáng tạo đều do tác giả nghĩ ra nhưng anh ta
không trực tiếp đứng ra kể lại mà sáng tạo ra một người kể chuyện để thay
mình làm việc đó.
Tuy nhiên, không nên đồng nhất tác giả với người kể chuyện. Tác giả
không bao giờ hiện diện trong truyện kể như một người kể, người phát ngôn
mà chỉ xuất hiện như một tác giả hàm ẩn, một cái tôi thứ hai của nhà văn với
tư cách là người ghi chép hay nghe trộm người kể. Người kể chuyện là kẻ
được sáng tạo ra để mang lời kể. Và sản phẩm của hành vi trần thuật đó là văn
bản tự sự.
Thêm vào đó, thái độ của người kể chuyện đối với thế giới câu chuyện
được kể có thể phần nào trùng với quan điểm của tác giả, nhưng không bao
giờ trùng khít hoàn toàn. Thứ nhất là bởi quan điểm tác giả bao giờ cũng rộng
hơn, nó không thể được thể hiện một cách toàn diện qua bất kỳ một chủ thể
lời nói riêng biệt nào trong tác phẩm.
Ngay cả trong những tác phẩm có tính tự truyện thì giữa người kể

quát và đúng đắn về người kể chuyện và chỉ ra điểm độc đáo của người kể
chuyện trong tiểu thuyết của ông một cách dễ dàng và thuận lợi hơn.

23


Chương 2
SỰ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH
2.1. Ngôi kể của người kể chuyện
Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng khi kể chuyện. Người
kể chuyện có thể kể theo ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Hình thức ngôi kể
mà tác giả lựa chọn cho người kể chuyện sẽ quyết định đến việc câu chuyện
được kể lại như thế nào.
Trong ba tiểu thuyết: Lão Khổ, Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối
của Tạ Duy Anh, chúng tôi thấy xuất hiện hai hình thức người kể chuyện đó
là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và người kể chuyện ở ngôi thứ ba.
2.1.1. Người kể chuyện ngôi thứ ba
Trong Lão Khổ, có thể thấy hình thức kể chuyện ngôi thứ ba là hình
thức đóng vai trò chủ đạo, xuyên suốt tác phẩm. Chủ thể kể chuyện ở đây
đứng ngoài chuyện, bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra
trọn vẹn và thuật lại với chúng ta.
Người kể chuyện ngôi thứ ba trong Lão Khổ đã dẫn dắt người đọc đến
làng Đồng và nghe câu chuyện về số phận chìm nổi của người nông dân tên là
Tạ Khổ trong những biến động dữ dội của lịch sử. Lão Khổ trong tác phẩm đã
đi gần hết kiếp người với biết bao thăng trầm, sóng gió, có lúc lên đến vinh
quang nhưng cũng không ít lần rơi xuống vực thẳm: “Đời ông Khổ là một
bằng chứng cho sự long đong của kiếp người” [2, tr.24], “Lão Khổ lừng danh
một thời, ba đào một thời, lụn bại một thời” [2, tr.16]. Từ một anh chàng chăn
vịt, lão phất lên sau một đêm dẫn đầu toán người vùng lên nắm chính quyền.

văn, biết đề cao phẩm giá luôn phải tạo điều kiện để các công dân của mình
tiếp cận với mọi sự thật lịch sử (…) và không ngừng truy tìm tận gốc rễ căn
nguyên của từng sự kiện chắc chắc sẽ ảnh hưởng đến họ” [dẫn theo 1, tr.144].

25


Trích đoạn Người kể chuyện hàm hồ về nhận thức Yếu tố huyền ảo và tính bất khả tín của hiện thực Ngôn ngữ thông tục, suồng sã Ngôn ngữ giễu nhại Giọng quan hoài, da diết
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status