TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
------------------
PHẠM THỊ ANH
PHÉP IM LẶNG TỪ GÓC ĐỘ DỤNG
HỌC TRONG TÁC PHẨM NAM CAO
VÀ NGUYỄN MINH CHÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ
HÀ NỘI – 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
------------------
PHẠM THỊ ANH
PHÉP IM LẶNG TỪ GÓC ĐỘ DỤNG
HỌC TRONG TÁC PHẨM NAM CAO
VÀ NGUYỄN MINH CHÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học
ThS, GV Lê Thị Thùy Vinh
khóa luận đã được trình bày hoặc là của cá nhân tôi, hoặc là được tổng hợp từ
nhiều nguồn tài liệu. Tất cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và
được trích dẫn hợp pháp.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2013
Người cam đoan
Phạm Thị Anh
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu. ............................................................................. 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu. ............................................................................ 3
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ............................................................. 4
6. Phương pháp nghiên cứu. ....................................................................... 4
7. Đóng góp của khóa luận. ........................................................................ 5
8. Cấu trúc của khóa luận. .......................................................................... 5
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................ 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN.......................................................................... 7
1.1. Im lặng và im lặng từ góc độ dụng học ................................................ 7
1.2. Nhân tố giao tiếp ............................................................................... 10
1.2.1. Ngữ cảnh .................................................................................... 11
1.2.2. Ngôn ngữ. ................................................................................... 15
phát ngôn”, tức là người nói tự nhiên im lặng. Đối với một cuộc hội thoại
bình thường có sự cân đối nhịp nhàng giữa lời người nói và lời người đáp thì
hiện tượng này là một trong những hiện tượng góp phần “phá bỏ” quy tắc hội
thoại. Theo quan điểm giao tiếp, sự im lặng của người phát ngôn ở chỗ này
cũng trở thành một hành vi, một ý đồ có chủ ý, nói khác đi nó ẩn chứa một
thái độ của nhân vật giao tiếp. Với ý nghĩa đó, sự im lặng cũng có một giá trị
thích đáng.
Nam Cao là một nhà văn xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê
phán giai đoạn 1930 - 1945. Hơn nửa thế kỉ trôi qua, tác phẩm của ông vẫn để
lại cho người đọc những bài học nhân sinh sâu sắc, mỗi lứa tuổi đọc tác phẩm
của Nam Cao lại có được một bài học cho lứa tuổi mình. Nhà nghiên cứu Hà
Minh Đức từng có nhận xét “Càng ngày người đọc càng phải nghĩ tiếp về
Nam Cao”; “Nam Cao không hề bị cũ đi mà luôn mới mẻ. Tính hiện đại là
phẩm chất của tác phẩm Nam Cao” (Hà Minh Đức). Sau cách mạng tháng
Tám, Nguyễn Minh Châu đến với chúng ta với tư cách là một trong những
“người mở đường tinh anh và tài năng nhất” (Nguyên Ngọc) của công cuộc
đổi mới văn học. Ông đổi mới từ ý thức nghệ thuật, cách nhìn và sự khám phá
về con người, cho đến sự đổi mới trong nghệ thuật tự sự. Nguyễn Minh Châu
được Nguyễn Khải đánh giá là “người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền
văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ
sau này”. Có thể nói, Nam Cao và Nguyễn Minh Châu là những nhà văn có vị
trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc.
Xem xét giá trị của phép im lặng trong tác phẩm nghệ thuật văn chương
là một trong những hướng đi có ý nghĩa thiết thực. Bởi trên cơ sở những tác
động của nhân tố giao tiếp trong cuộc thoại, chúng ta thấy được “bề sâu” và
“góc khuất” của những khoảng lặng này, từ đó những nét riêng của nhà văn
hiện hình. Ở đây, từ việc khảo sát những cuộc thoại trong tác phẩm của hai
nhà văn điển hình cho hai thời kì văn học là trước cách mạng tháng Tám Nam Cao và sau cách mạng tháng Tám - Nguyễn Minh Châu, chúng tôi mong
thể của phép im lặng, từ đó làm nổi bật “thế đứng” trên văn đàn của những
bậc thầy về nhân sinh này.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần khẳng định và làm rõ hơn những vấn đề lí luận về phép
im lặng trong hội thoại từ góc độ dụng học. Đề tài cũng hướng tới làm rõ giá
trị của phép im lặng được thể hiện trong tác phẩm của Nam Cao và Nguyễn
Minh Châu, từ đó góp phần khẳng định tài năng và phong cách nghệ thuật của
hai nhà văn này.
Đề tài cũng là hành trang tri thức phục vụ cho nhiệm vụ học tập hiện
nay cũng như công việc giảng dạy sau này của bản thân người viết.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nắm vững những vấn đề lí luận về phép im lặng nói chung cũng như
im lặng xét từ góc độ dụng học. Hệ thống hóa kiến thức này để tạo thành cơ
sở lí luận, làm chỗ dựa vững chắc cho đề tài.
- Khảo sát, phân loại và miêu tả ngữ liệu đã thống kê về phép im lặng
trong những cuộc thoại ở tác phẩm Nam Cao và Nguyễn Minh Châu.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phép im lặng từ góc độ dụng học,
giá trị, hiệu quả nghệ thuật của nó trong tác phẩm của Nam Cao và Nguyễn
Minh Châu.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ lựa chọn và xem xét trên ngữ liệu thống kê trong các tác
phẩm của Nam Cao (truyện ngắn, tiểu thuyết, kí) và của Nguyễn Minh Châu
(truyện ngắn).
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu sau:
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Im lặng và im lặng từ góc độ dụng học
Trong Phong cách học, phép lặng (còn gọi là ẩn ngữ hay tỉnh lược) là
phương thức biểu đạt bằng cách bỏ trống để người nghe (người đọc) suy ra
mà tự hiểu, không cần diễn đạt bằng lời. Bởi có những lúc người nói “không
tiện nói”, không phải vì muốn giấu những suy nghĩ của mình mà muốn để cho
người nghe tự đoán lấy, hiểu lấy. Đó là một dụng ý tu từ trong diễn đạt.
Nguyễn Du đã tinh tế làm sao khi diễn tả tâm trạng của nàng Kiều lúc gặp
Kim Trọng “Tình trong như đã… mặt ngoài còn e…” (Truyện Kiều). Chỗ
ngừng này quả thực ai cũng có thể nhận cảm, vì thế nếu “tường minh” bằng
ngôn ngữ thì vụng về và đơn giản biết bao. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã lặng ngắt
khi nghe tin Lượm mất:
Chợt nghe tin nhà…
Ra thế…
Lượm ơi!
(Lượm)
Quãng lặng đã ẩn chứa sự đột ngột và xúc cảm đau đớn của tác giả.
Nếu như không có quãng lặng này thì hiệu quả nghệ thuật của những câu thơ
này sẽ “giảm thiểu” biết mấy. Tất nhiên, xem xét những trường hợp im lặng
không vì thế mà chúng ta nhầm lẫn với kiểu im lặng “ngẫu nhiên”, tức là im
lặng là do lúng túng, cảm động mà không nói lên lời, kiểu như: “Anh… anh
chỉ là một thằng khốn nạn” (Nam Cao).
Im lặng từ góc độ dụng học lại có rất nhiều quan điểm khác nhau. Ở đề
tài này, chúng tôi lấy quan điểm của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lí luận của đề tài.
Một cuộc thoại bao giờ cũng diễn ra dưới dạng thức có sự cân bằng về
lượt lời. Điều đó có nghĩa là “tôi nói” rồi “anh nói” và “tôi nói” rồi “anh
của nhân vật sẽ được nhận diện qua các dấu hiệu sau:
- Nếu sự im lặng diễn ra giữa cuộc thoại thì sự im lặng được nhận diện
bằng dấu ba chấm “…”
Thí dụ:
- Anh có điều gì làm cho em không bằng lòng nào, hả em, con chim của
anh?
- …!
- Hay là anh đã không “ngoan”? Em nói đi, anh sẽ “ngoan” ngay mà!
- …!
(“Sắm vai”, Nguyễn Minh Châu)
- Nếu sự im lặng xảy ra ở cuối cuộc thoại tức là kết thúc cuộc thoại thì
nó được thể hiện bằng từ ngữ chỉ dẫn của tác giả.
Thí dụ:
Rồi chị bảo thằng cu Bé:
- Bé lại đây, bu cho ăn.
Thằng cu ngồi xổm bên mẹ, hấc mặt lên, há hốc mồm ra như con chim
non đợi mẹ mớm mồi. Một miếng vào mồm, nó đã vội nuốt thỏm đi, khen
“ngọt quá”.Nhưng chưa kịp ăn miếng nữa, nó đã ọe một cái, mũi đỏ lên,
nước mắt ứa ra giàn giụa.
- Sao thế?
Nó chỉ hụ hị nhìn mẹ mà không nói, cũng không chịu há mồm ăn nữa.
(“Nghèo”, Nam Cao)
Hoặc người đọc sẽ nhận thấy cuộc thoại đang dở dang mà đoạn văn bản
sau đó chuyển hẳn sang nội dung khác.
Thí dụ:
Sáng hôm nay đang ngồi viết với nhau, chẳng biết cái ý nghĩ lan man
nào đã xui anh Sen đột ngột bảo tôi:
- Này! Anh Tri ạ, cái mặt anh trông thế nào ấy. Quả thực tôi không chơi
Sp1 sau khi nói xong chuyển thành Sp2 và ngược lại.
Thí dụ:
Lan (Sp1): Cậu có bút không, cho tớ mượn?
Trong diễn ngôn này, vai nói là “tớ” (Sp1), vai nghe là “cậu” (Sp2).
Tất nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào cũng chỉ có hai vai đơn giản như
vậy. Có những cuộc giao tiếp xuất hiện đến bốn vai: chủ ngôn, thuyết ngôn,
tiếp ngôn và đích ngôn.
Thí dụ:
Lan (Sp1): Mai về nói với Hùng rằng thầy bảo ngày mai là hạn cuối
nộp tiền học phí.
Diễn ngôn này có quan hệ với bốn người: Lan, Mai, Hùng, thầy giáo.
Trong những người đó, Lan là người nói trực tiếp, Mai là người nghe trực
tiếp, người nói thực sự là thầy giáo, người tiếp nhận lời là Hùng. Trong những
trường hợp này, lời “ngày mai là hạn cuối Hùng phải nộp tiền học phí” không
phải do Lan tạo ra, và Mai cũng không phải là người chịu trách nhiệm thực
hiện nó, Mai chỉ có trách nhiệm nói lại với Hùng nội dung đó mà thôi. Ta nói
trong trường hợp này thầy giáo là chủ ngôn, Hùng là đích ngôn, Lan là thuyết
ngôn, Mai là tiếp ngôn.
Trong một cuộc giao tiếp Sp1 và Sp2 đều phải có đích giao tiếp, niềm
tin trong giao tiếp. Đặc biệt, Sp1, Sp2 đều phải xây dựng hình ảnh tinh thần
(đặc điểm, trạng thái, năng lực…) về nhau, từ đó định ra chiến lược giao tiếp
được thể hiện qua kế hoạch, hành động, thao tác cụ thể để đạt được đích mà
người nói đề ra. Khi giao tiếp, người nói luôn ở thế chủ động, bởi nội dung và
hình thức của cuộc giao tiếp là do người nói lựa chọn. Song, không vì vậy mà
người nghe hoàn toàn ở vào thế bị động mà cũng có sự chủ động nhất định.
Bởi, giao tiếp luôn có sự đổi vai và khi nói người nghe cũng luôn chi phối
người nói cũng như người nghe luôn có sự hồi đáp lời của người nói.
- Quan hệ liên cá nhân.
đúng sai” trong giá trị của diễn ngôn. Thế giới khả hữu, hiểu theo cách hiểu
của Green thì “không phải là một nơi chốn mà là một cách thức có thể tồn tại
hay đã từng tồn tại của thế giới. Có vô số thế giới khả hữu”. Như thế có thể
thấy điều quan trọng ở đây là không nên chỉ dùng thế giới thực tại để quy
chiếu diễn ngôn mà cần biết rằng có vô số thế giới khả hữu và chính thế giới
khả hữu ứng với đề tài của diễn ngôn mới quyết định nghĩa của diễn ngôn nói
về đề tài đó.
Các khái niệm hiện thực - đề tài của diễn ngôn, thế giới khả hữu, thế
giới thực tại, hiện thực ngoài ngôn ngữ và quan hệ giữa chúng như sau: thế
giới khả hữu là những dạng thức tồn tại của hiện thực, cùng với thế giới thực
tại chúng ta đang sống hợp thành hiện thực ngoài diễn ngôn. Đề tài của diễn
ngôn là một mảng trong thế giới khả hữu được lựa chọn làm hệ quy chiếu cho
các diễn ngôn về đề tài đó.
- Hoàn cảnh giao tiếp
Loại trừ thế giới khả hữu - hệ quy chiếu, loại trừ hiện thực - đề tài, tất
cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài ngôn ngữ làm nên hoàn cảnh giao
tiếp rộng của cuộc giao tiếp. Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu
biết thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, văn hóa, xã hội, tôn giáo, lịch sử các ngành
khoa học, nghệ thuật ở thời điểm và không gian cuộc giao tiếp diễn ra.
- Thoại trường
Thoại trường là cái không - thời gian cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra.
Không gian thoại trường là không gian có những đặc trưng chung, đòi hỏi
người ta phải xử sự, nói năng theo những cách thức ít nhiều cũng chung cho
nhiều lần xuất hiện. Thời gian thoại trường là thời gian ở một không gian
thoại trường mà ở lúc đó con người phải nói năng, xử sự khác với cách nói
năng, xử sự ở thời gian khác trong cùng không gian thoại trường.
1.2.2.2. Biến thể của ngôn ngữ.
Việc giao tiếp trong đời sống hàng ngày thực chất là giao tiếp theo
những biến thể (hằng thể chỉ là trừu tượng). Biến thể ngôn ngữ gồm:
Biến thể chuẩn mực hóa bao gồm những đơn vị từ vựng, kể cả các ngữ
cố định, các kết cấu cú pháp, các cách phát âm được toàn thể một cộng đồng
ngôn ngữ chấp nhận, cho là đúng, được xem là cơ sở để đánh giá ngôn ngữ
của từng cá nhân, của các cộng đồng.
Phương ngữ địa lí bao gồm cách phát âm, các đơn vị từ vựng và một số
những kết cấu cú pháp được sử dụng ở những địa phương nhất định trong một
quốc gia.
Phương ngữ xã hội là những biến thể chủ yếu bao gồm các đơn vị từ
vựng và một số quán ngữ, một số kiểu kết cấu được sử dụng trong một cộng
đồng theo nghề nghiệp, theo hoạt động khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, tín
ngưỡng,…,thậm chí trong cộng đồng của những người sinh sống ngoài vòng
pháp luật.
“Ngữ vực là một biến thể ngôn ngữ theo các hoàn cảnh xã hội” (Từ
điển 3). Theo ba căn cứ của M.Halliday, ít nhất có thể có ba ngữ vực. Ngữ
vực quy thức, đó là ngữ vực mà chúng ta dùng khi nói với những người quen
biết rất ít hoặc chưa hề quen biết. Đó cũng là ngữ vực của lễ nghi hoặc những
cuộc hội ngộ tuân theo những nghi thức nhất định. Ngữ vực thân tình là ngữ
vực của những cuộc giao tiếp giữa những người có quan hệ thân thiết với
nhau. Giữa hai ngữ vực đó là vương quốc của ngữ vực phi quy thức. Đó là
ngữ vực của những người tuy có biết nhau nhưng không thân thiết.
1.2.2.3. Loại thể.
Loại thể là biến thể sử dụng của các diễn ngôn. Các loại thể tạo nên các
câu thúc - constraint đối với việc tạo ra và thuyết giải diễn ngôn. Chính loại
thể đã khởi động tâm lí tiếp nhận và quy tắc thuyết giải diễn ngôn theo loại
thể khi gặp những diễn ngôn được viết theo một loại thể nào đó.