Soạn thảo tiến trình dạy học một số bài lớp 10, 11 THPT theo phương pháp thực nghiệm nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh - Pdf 32

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, việc đổi mới công tác giáo dục diễn ra rất sôi
động trên toàn thế giới. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện, để có thể
đào tạo cho đất nước những con người lao động tự chủ, năng động và sáng
tạo. Nghị quyết 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa
VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp
dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học áp dụng các phương pháp giáo dục hiện
đại bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, hòa nhập với cộng đồng trong khu vực Đông Nam á và thế giới.
Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam lần 2, khóa VIII đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục trong giai đoạn mới là:
“Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con
người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc;
tham gia tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;...là
những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”
như lời căn dặn của Bác Hồ. ”
Như vậy, mục tiêu giáo dục của nước ta trong một thời gian dài vẫn giữ
vững quan điểm giáo dục toàn diện, chú trọng cả bốn mặt trí, đức, thể, mỹ
nhằm đào tạo ra những người lao động mới có khả năng xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được điều đó, đòi hỏi các nhà giáo dục là phải đổi mới phương pháp
dạy học sao cho phù hợp với nội dung của từng môn khoa học. Với môn Vật
lý, PPTN (PPTN) là một trong những phương pháp đặc trưng quan trọng nhất.

dụng PPTN trong dạy học vật lý ở trường phổ thông và xem xét những đặc
điểm, yêu cầu chương trình vật lý phổ thông mà xây dựng tiến trình giảng dạy
một số bài thuộc chương trình vật lý THPT nhằm góp phần nâng cao chất
lượng học tập và phát triển năng lực sáng tạo của HS.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1.Nghiên cứu lý luận PPTN trong dạy học vật lý ở trường THPT.
3.2.Tìm hiểu thực tiễn sử dụng PPTN trong dạy học vật lý ở trường THPT.

Trần Thế Đăng

2

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

3.3.Xác định mức độ yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản trong một số bài
thuộc chương trình vật lý THPT.
3.4 Soạn thảo tiến trình dạy học một số bài lớp 10,11 thuộc chương trình vật
lý THPT.
3.5.Dự kiến tiến hành thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả
của việc sử dụng PPTN trong dạy học vật lý ở trường THPT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học một số bài thuộc chương trình vật lý THPT
theo PPTN của giáo viên (GV) và HS lớp 10, 11.
- Phạm vi nghiên cứu: Một số bài thuộc chương trình vật lý lớp 10,11 trong
chương trình vật lý THPT.

với những suy luận của con người để rút ra những kết luận khái quát, nêu lên
được bản chất của sự vật và hiện tượng.
Từ việc biết được bản chất của sự vật, hiện tượng, con người khám phá
được tính chất, những quy luật khách quan phổ biến của tự nhiên, một phương
pháp tiếp cận với chân lý khách quan ngày càng xâu sắc hơn.
Nhờ có PPTN mà khoa học nói chung, khoa học vật lý nói riêng đã đạt
được những thành tựu vĩ đại, không những giúp con người hiểu biết tự nhiên
mà còn giúp con người cải tạo tự nhiên, phát triển sản xuất, nâng cao năng
suất lao động.
1.1.2. Vai trò của PPTN trong dạy học vật lý.
Vật lý học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lý thực nghiệm nên
phương pháp chủ yếu để nghiên cứu nó là bằng PPTN. Mặt khác theo quan
Trần Thế Đăng

4

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

điểm giáo dục của hầu hết các quốc gia trên thế giới, thì dạy học đều nhằm
phát triển năng lực và tư duy sáng tạo của HS. Do đó, để phù hợp với nội
dung chương trình vật lý ở trường THPT và nhằm phát triển năng lực, tư duy
sáng tạo của HS trong quá trình dạy học thì một trong những phương pháp
được các nhà giáo dục lựa chọn là PPTN .
PPTN được lựa chọn vì khi áp dụng nó phải trải qua năm giai đoạn,
phù hợp với kiểu hướng dẫn tìm tòi sáng tạo, đó là sự tự lực suy nghĩ, tìm tòi


học nghiên cứu vật lý đúc kết, đó là tính chu trình của sáng tạo khoa học. V.G
Razumôpxki trên cở sở khái quát hóa những lời phát biểu của nhiều nhà khoa
học nổi tiếng nói về sự sáng tạo: Anhxtanh, Plăng, Bóocnơ, Kapitxa...nêu lên
chu trình sáng tạo khoa học gồm 4 giai đoạn và được trình bày theo sơ đồ 1.
Mô hình giả
thuyêt

Các hệ
quả lôgic

Sự kiện
xuất phát

Thí
nghiệm
kiểm tra

Hình 1: Sơ đồ chu trình sáng tạo khoa học
Chu trình và sơ đồ nói trên mô tả toàn bộ quá trình nhận thức vật lý.
Tuy nhiên đối vớí mỗi nhà vật lý, trong một công trình nghiên cứu cụ thể của
mình, có thể chỉ tham gia vào một số giai đoạn. Ví dụ: Faraday dựa trên khảo
sát thực nghiệm, đề xuất giả thuyết về sự tồn tại của điện trường, từ trường.
Về sau, Macxoen phát triển ý tưởng đó và xây dựng thành lý thuyết về trường
điện từ và dự đoán về sự lan truyền của sóng điện từ. Cuối cùng, Hecxơ kiểm
tra được bằng thực nghiệm giả thuyết của Macxoen. Như vậy, con đường đi
tìm chân lý xuất phát từ thực tiễn và cuối cùng trở lại thực tiễn.
1.2.1.2.Nội dung của PPTN.
Galilê (1564-1642) được công nhận là ông tổ của vật lý thực nghiệm,
người sáng lập ra PPTN. Ông cho rằng muốn nhận thức được thiên nhiên phải

là: Rút ra hệ quả từ giả thuyết và dùng thí nghiệm để kiểm tra hệ quả đó.
Như vậy, PPTN không chỉ là thí nghiệm đơn thuần, không phải là sự
quy nạp giản đơn, mà là sự phân tích sâu sắc các sự kiện thực nghiệm, tổng
quát hóa nâng lên mức lý thuyết và phát hiện ra bản chất sự vật, hiện tượng.
Đó là sự thống nhất giữa thí nghiệm và lý thuyết nhằm mục đích nhận thức
thiên nhiên.
1.2.2. Trong dạy học vật lý ở trường phổ thông.
1.2.2.1. Nội dung của PPTN trong dạy học vật lý ở trường phổ thông.
Phương pháp là sự vận động của nội dung. PPTN trong dạy học vật lý
về bản chất đó là một phương pháp dạy học, trong đó vận dụng PPTN của quá
trình nhận thức khoa học vào dạy học, nghĩa là, dạy cho HS biết cách tìm tòi
sáng tạo trong hoạt động nhận thức của mình theo PPTN . Thực chất của
Trần Thế Đăng

7

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

phương pháp này ở chỗ: GV cần phải thông qua việc hướng dẫn HS nghiên
cứu một nội dung cụ thể mà khái quát hóa lên thành phương pháp nhận thức,
sau đó tiếp tục vận dụng phương pháp này cho nghiên cứu các nội dung khác.
Nhờ đó, mà HS nắm vững cả nội dung và phương pháp đã sử dụng để đạt
được nội dung đó.
1.2.2.2.Các giai đoạn của PPTN .
Để giúp cho HS có thể bằng hoạt động của bản thân mình mà tái tạo,


1.3. Bồi dưỡng và rèn luyện cho HS hoạt động nhận thức theo các giai
đoạn của PPTN.
PPTN được sử dụng trong dạy học đảm bảo sự phát triển tư duy và
năng lực sáng tạo của HS. Do đó, rèn luyện cho HS hoạt động nhận thức theo
PPTN là rèn luyện cho họ tìm tòi sáng tạo trong học tập.
Những bài học mà HS có thể tham gia đầy đủ vào năm giai đoạn của
PPTN không nhiều. Đó là những bài mà việc xây dựng giả thuyết không đòi
hỏi một sự phân tích quá phức tạp và có thể kiểm tra giả thuyết bằng những
thí nghiệm đơn giản sử dụng những dụng cụ đo lường mà HS đã quen thuộc.
Trong nhiều trường hợp, HS gặp khó khăn không thể vượt qua được thì
có thể sử dụng PPTN ở các mức độ khác nhau, thể hiện ở mức độ họ tham gia
vào các giai đoạn của PPTN.
Giai đoạn 1. Làm xuất hiện vấn đề.
Mức độ 1. HS tự lực suy nghĩ, tìm tòi phát hiện cách giải quyết vấn đề.
GV hướng dẫn gợi ý cho các em bằng các câu hỏi gợi mở, qua đó họ có thể tự
lực phát hiện ra những tính chất hay những mối quan hệ đáng chú ý trong vấn
đề nghiên cứu.
Mức độ 2. GV gợi ý thêm cho HS bằng cách tạo ra một hoàn cảnh mới,
trong đó xuất hiện một vấn đề mới cần nghiên cứu. Từ đó, HS lại suy nghĩ và
tìm tòi cách giải quyết tiếp theo.
Giai đoạn 2. Xây dựng dự đoán.
Mức độ 1. Dự đoán định tính: Trong những hiện tượng thực tế phức
tạp, dự đoán về nguyên nhân chính, các mối quan hệ chính chi phối hiện
tượng, GV gợi ý bằng cách đưa ra 2, 3 phương án để cho HS lựa chọn.
Mức độ 2.Dự đoán định lượng: Bằng quan sát thông thường khó có thể
dẫn tới một dự đoán chính xác hay về mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng

Trần Thế Đăng


liệu rồi rút ra kết luận, nếu HS không đáp ứng được thì GV thông báo cả kết
luận.
Giai đoạn 5. ứng dụng kiến thức mới.
HS có thể theo giai đoạn này để dự đoán và giải thích các hiện tượng và
các kết quả thường gặp trong đời sống.

Trần Thế Đăng

10

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Mức độ 1. HS suy nghĩ cần vận dụng những kiến thức vật lý nào để làm
sáng tỏ nguyên nhân của hiện tượng hoặc giải quyết các bài toán đặt ra.
Mức độ 2. Xét một ứng dụng kỹ thuật đã được đơn giản hóa để có thể
chỉ áp dụng một vài định luật vật lý.
Mức độ 3. Trong loại ứng dụng này, HS không những phải vận dụng
những định luật vật lý hay những thuyết vật lý đã học mà còn phải vận dụng
những hiểu biết, những kinh nghiệm về nhiều lĩnh vực khác để giải quyết vấn
đề.
1.4. Rèn luyện cho HS THPT sử dụng PPTN.
1.4.1. Sự khác nhau giữa hoạt động nhận thức của nhà khoa học và hoạt động
nhận thức của HS.
1) Nhà khoa học phải tìm ra cái mới, giải pháp mới mà trước đây loài người
chưa hề biết đến. Còn HS tìm lại cho bản thân mình cái mà loài người đã biết.

đoạn của PPTN mà tùy nội dung từng bài cụ thể hoặc từng phần của bài, cần
vân dụng một cách sáng tạo để đạt được hiệu quả thực sự.
2) Xây dựng tình huống có vấn đề, tạo không khí học tập thuận lợi.
Với HS THPT, cảm xúc có vai trò quan trọng trong hoạt động sáng tạo.
Do đó GV phải dành thời gian gia công sư phạm để xây dựng tình huống có
vấn đề, tạo mâu thuẫn nhận thức, động cơ, hứng thú đi tìm cái mới.
Mặt khác cần tạo ra không khí lớp học thuận lợi ủng hộ những ý kiến có
vẻ “trái ngược” ,thảo luận, tranh luận cởi mở về những kết quả thu được trong
hoạt động học tập tự lực của HS, giúp các em tham gia tích cực vào quá trình
học tập.
3) Tổ chức các hình thức hoạt động đa dạng trong giờ học.
Hoạt động theo nhóm nhỏ, trao đổi, tranh luận trên lớp, hoạt động cá nhân
theo phiếu học tập.
4) Lựa chọn, cung cấp cho HS những phương tiện, công cụ cần thiết để thực
hiện các hành động học tập tự lực.
Trong dạy học, GV là người chủ động lựa chọn lôgic nội dung bài học,
dự lường trước những phương tiện công cụ cần dùng.
Về phương tiện vật chất, đó là những thiết bị thí nghiệm, dụng cụ đo
lường, những mô hình vật chất, hình vẽ, biểu đồ có liên quan đến bài học.
Về phương tiện tinh thần, đó là những khái niệm khoa học đã biết,
những thao tác tư duy, phương pháp suy luận.
5) Cho HS làm quen với các phương pháp nhận thức vật lý khác.
Trần Thế Đăng

12

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

là của hoá học và sinh học.
- Vật lý học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lý thực nghiệm. Do đó,
phương pháp nghiên cứu của nó chủ yếu là PPTN. Đó là phương pháp nhận
thức có hiệu quả trên con đường đi tìm chân lý khách quan. PPTN xuất xứ từ
ngành vật lý học nhưng ngày nay cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiều
ngành khoa học tự nhiên khác.
- Vật lý học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất, nên
nhiều kiến thức của vật lý có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của
triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học ở HS.
- Vật lý học là cơ sở lý thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong
đời sống và sản xuất.
- Vật lý học là môn khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có kĩ năng quan sát
tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy
lôgíc chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi, thảo luận để khẳng định chân lý.
2.1.2. Nhiệm vụ của việc dạy học vật lý ở trường phổ thông.

Trần Thế Đăng

14

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Các mục tiêu và nhiệm vụ của trường phổ thông được thực hiện chủ
yếu thông qua việc dạy các môn học. Mỗi môn học đều có đặc điểm riêng của
mình, do đó có thể thực các nhiệm vụ chung đó bằng những cách khác nhau.


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Nhiều người đồng nhất PPTN với thí nghiệm vật lý, coi PPTN chi đơn
thuần là làm thí nghiệm, quan sát, rút ra kết luận. Trên thực tế trong nhà
trường THPT HS chưa được học một cách tường minh PPTN là gì.
Các thí nghiệm vật lý được sử dụng trên lớp, mới như là công cụ để
minh hoạ cho các kiến thức có sẵn hơn là công cụ để tìm hiểu hoặc khẳng
định những kiến thức chưa có.
Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm và được yêu cầu giảng dạy
đúng như một môn khoa học thực nghiệm. Song trên thực tế, các văn bản về
chương trình vật lý phổ thông vẫn chưa đề cập đến PPTN là gì và làm thế nào
để thực nghiệm được.
Thực tế giảng dạy cho thấy đa số các GV phổ thông còn rất bỡ ngỡ và
lúng túng trong việc tổ chức cho HS hoạt động nhận thức, không biết phải bồi
dưỡng PPTN cho HS như thế nào để đạt được mục tiêu của chương trình.
Nhiều trường phổ thông chưa có phòng thí nghiệm riêng đa phần GV
không làm thí nghiệm mà chỉ trình bày thí nghiệm bằng miệng hoặc vẽ trên
bảng.
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế.
Có nhiều nguyên nhân nhưng ở đây chỉ đề cập đến những nguyên nhân
về phía những người nghiên cứu và trực tiếp dạy học vật lý đó là:
- GV và HS chưa khắc phục được thói quen của kiểu dạy và học cũ.
- Đội ngũ GV chưa được bồi dưỡng một cách cơ bản để nâng cao nhận
thức và năng lực dạy học theo yêu cầu đổi mới, nhất là năng lực nắm vững
phương pháp nhận thức khoa học trong đó có PPTN.
- Việc chuẩn bị bài và tổ chức giờ học vật lý của GV còn nặng theo
công thức, đường mòn.

trạng thái 1 (P1, V1, T1) sang trạng thái 2 (P2, V2, T1), rồi sang trạng thái
tiếp theo (P3, V3, T1), (P4, V4, T1) ...
+ Đưa ra định luật Bôilơ-Mariốt P1 V1= P2 V2= P3 V3=...=PV=const
B. Mục tiêu và chuẩn bị.
I. Mục tiêu.
- Mô tả được cách bố trí thí nghiệm để kháo sát mối liên hệ giữa áp xuất P và
thể tích V của một lượng khí ở nhiệt độ không đổi.
- Thu thập và sử lý kết quả rút ra từ thí nghiệm và đưa ra kết luận.
- Phát biểu và viết được biểu thức diễn tả định luật Bôilơ-Mariốt.
Trần Thế Đăng

17

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Biết cách áp dụng định luật trong từng trường hợp cụ thể để giải bài tập
trong SGK, sách bài tập và các sách tham khảo khác.
II. Chuẩn bị.
- GV: Dụng cụ thí nghiệm nghiên cứu định luật Bôilơ-Mariốt.
- HS: + Ôn lại cách đo áp suất của chất khí.
+ Mỗi HS chuẩn bị một tờ giấy ôli khổ 15x25(cm).
C. Tiến trình giảng dạy.
Hoạt động của học sinh.

Trợ giúp của giáo viên

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

2. Dùng tay ấn mạnh vào quả bóng
để giảm thể tích khí trong bóng.
Hoạt động 2: Xây dựng dự đoán ban
đầu.
+ Thảo luận chung ở lớp. Dự đoán + Từ các thí nghiệm trên, theo các
ban đầu: Khi làm giảm thể tích của em thì khi ta làm giảm thể tích của
một lượng khí thì áp suất tăng nhưng một lượng khí thì áp suất của khí có
chưa biết được tăng như thế nào.

thay đổi không?

Hoạt động 3: Tìm hiểu thí nghiệm
khảo sát thực tế.
+ Vậy ta cần phải đo các đại lượng

+ Thảo luận câu hỏi của GV.

nào để dự đoán trên được rõ ràng
hơn?
+ Để tìm mối quan hệ giữa thể tích

+ Có nhiều phương án khác nhau:



19

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

+ HS tiếp tục thảo luận theo nhóm.

+ Trong thực tế khi tiến hành theo
các phương án trên, dẫn đến có thể
khí bị lọt ra ngoài khe pittông. Vậy
theo các em còn một phương án nào
khác tối ưu hơn để đo được thể tích

3. Dùng nước để ngăn khí.

và áp suất một cách chính xác hơn?
+ Bổ sung phương án thứ 3, đưa ra
phương án của SGK.
M
T

P
Máy
bơm


Hoạt động 4: Xử lý số liệu thu thập
được và dự đoán mối quan hệ giữa thể
tích V và áp suất P.
+ Có 2 dự đoán:
 áp suất tỉ lệ nghịch với thể tích.

+ căn cứ vào bảng số liệu thu thập
được từ thí nghiệm trên hãy lập biểu

Trần Thế Đăng

20

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

P1 V2 P1 V3 P2 V3
 ;
 ;

P2 V1 P3 V1 P3 V2

thức liên hệ giữa P và V?

 Tích số PV luôn bằng nhau.


số.
Hoạt động 5: Bổ sung thông tin, khẳng
+ Thông báo: Bằng các dụng cụ thí

định kết quả.

nghiệm tinh vi hơn (dùng bình có

+ Nghe thông báo của GV.

chia độ có giới hạn đo nhỏ, dùng áp
kế có độ chính xác cao), ta có thể
khẳng định kết quả trên là đúng.
+ Kết quả thí nghiệm này được hai

Trần Thế Đăng

21

Lớp K29B-Khoa Vật Lý


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

+ Phát biểu định luật Bôilơ-Mariốt nhà vật lý là: Bôi-lơ( người Anh) tìm
bằng lời và viết biểu thức biểu diễn ra năm 1662 và Mariôt( người Pháp)
định luật.



chuẩn bị trước.
A
V(l
V0 )

+ Củng cố (nếu cần).
+ Đặt câu hỏi: Trong thực tế đường

+ Thảo luận chung ở lớp và trả lời câu đẳng nhiệt có thể là một đường thẳng
được không?

hỏi của GV.

+ Củng cố:
+Nghe GV giải thích.

*Từ biểu thức : PV=const=a ta
suy ra P  a / V có dạng của y  a / x
nên đồ thị có dạng một nhánh của
đường cong Hypebol.
Mở rộng: Khi đo kết quả bao giờ

Trần Thế Đăng

22

Lớp K29B-Khoa Vật Lý




P2
 2,5 ( lần)
P1

Vậy áp suất tăng 2,5 lần.
+ Ghi bài tập về nhà.
+ Yêu cầu các HS về nhà giải các bài
tập còn lại.
2.3.2. Định luật Sác-lơ.Nhiệt độ tuyệt đối.
A. Lôgic của tiến trình trình bày bài “Định luật Sác-lơ.Nhiệt độ tuyệt đối”
trong SGK vật lý 10 phân ban thí điểm (Bộ I).
Khí lí tưởng
Trần Thế Đăng
Quá trình đẳng
tích

23

Nhiệt độ tuyệt
đối
Lớp K29B-Khoa
Vật Lý
T= t+273


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2



- Phát biểu và viết được biểu thức diễn tả định luật Sác- lơ.
- Nắm được khái niệm “Khí lí tưởng” và khái niệm về “Nhiệt độ tuyệt đối ”.
- Vận dụng nhiệt độ tuyệt đối để phát triển định luật Sác-lơ (

P
 const ).
T

- Biết vận dụng định luật Sác-lơ trong từng trường hợp cụ thể để giải bài tập
trong SGK và sách bài tập có liên quan.
II. Chuẩn bị.
GV: Dụng cụ thí nghiệm khảo sát định luật Sác-lơ.
HS: - ôn lại cách đo áp suất.
- Chuẩn bị một tờ giấy kẻ ôly khổ 15x25 (cm).

C. Tiến trình giảng dạy.
Hoạt động của học sinh

Trợ giúp của giáo viên

Hoạt động 1: Xác định vấn đề cần
nghiên cứu.
- Trả lời câu hỏi của GV: gồm 3 thông - Xét một lượng khí lí tưởng đựng
trong bình kín được đặc trưng bởi

số trạng thái P, V, T.

mấy thông số trạng thái?
- Trong bài trước ta đã xét mối quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status