cải biên và định chuẩn trắc nghiệm ngôn ngữ của hans eysenck dùng đo trí thông minh cho trẻ em từ 10 đến 15 tuổi tại thành phố hồ chí minh - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Mã số: CS99-11

CẢI BIÊN VÀ ĐỊNH CHUẨN
TRẮC NGHIỆM NGÔN NGỮ CỦA HANS EYSENCK
DÙNG ĐO TRÍ THÔNG MINH CHO TRẺ EM
TỪ 10 ĐẾN 15 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: LÊ THỊ HÂN
Nhóm thực hiện: - Lý Minh Tiên
- Đỗ Hạnh Nga
- Trần Thị Thu Mai
- Huỳnh Lâm Anh Chương

TP. HỒ CHÍ MINH 2002



3

MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................3
Phần I: MỞ ĐẦU ......................................................................................................5
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .................................................................................................. 5
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ......................................................................................... 6
III. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ................................................................................... 7
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: ...................................................................................... 7

PHỤ LỤC.................................................................................................................63


5

Phần I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự phát triển của xã hội loài người nói chung và sự phát triển tâm lý con
người nói riêng không thể tách rời ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện đặc thù của
con người để nhận thức thế giới, nhận thức bản thân, để diễn đạt tư tưởng tình cảm,
để giao tiếp hình thành, hiện thực hóa các mối quan hệ và để bồi đắp tâm hồn con
người. Dưới góc độ là một hiện tượng tâm lý, ngôn ngữ mang tính cá nhân và thể
hiện toàn bộ những đặc điểm của cá nhân ấy như trình độ trí tuệ, văn hóa, đạo đức,
lối sống và thẩm mỹ. Trong sự phát triển tâm lý của trẻ em, thì ngôn ngữ một trong
những chỉ số quan trọng. Vì thế sự phát triển nhân cách, trong đó có sự phát triển
trí tuệ của con người không thể thiếu ngôn ngữ. Ngôn ngữ vừa là công cụ của tư
duy, vừa là một dạng, một thành phần của trí thông minh. Cùng với các mặt giáo
dục, phát triển ngôn ngữ cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ của nhà trường phổ thông Việt
Nam hiện nay.
Trong giáo dục đào tạo, vấn đề đo lường trí thông minh, trong đó có năng lực
ngôn ngữ của học sinh đóng vai trò quan trọng. Một công cụ đo lường hữu hiệu
được sử dụng từ lâu trên thế giới là trắc nghiệm trí tuệ, nhằm xác định chỉ số trí
thông minh của học sinh, giúp phân loại học sinh để giảng dạy và giáo dục cá biệt;
đồng thời căn cứ vào đó mà tư vấn, hướng học, hướng nghiệp phù hợp. Ở tầm vĩ
mô, xác định chỉ số thông minh của học sinh để các nhà quản lý giáo dục hoạch
định và điều chỉnh chính sách giáo dục - đào tạo, nhằm hình thành phát triển nhân
cách con người. Trong giai đoạn đổi mới về giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay,
nền giáo dục đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa là nền giáo đục theo hướng
"chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa". Điều đó càng cần thiết phải có quan tâm tới
sản phẩm giáo dục là con người - nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước.

(độ khó, độ tin cậy, độ phân cách).
3. Tìm hiểu sự khác biệt về điểm số bài trắc nghiệm ngôn ngữ theo độ tuổi, giới
tính, loại trường và thành lập bảng định chuẩn trắc nghiệm ngôn ngữ dành cho
trẻ em từ 10 đến 15 tuổi.


7

III. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1. Trắc nghiệm ngôn ngữ của Hans Eysenck dành cho trẻ em 10 đến 15 tuổi
được cải biên là phù hợp với trẻ em Việt Nam. Những thông số kỹ thuật của
một trắc nghiệm như hệ số tin cậy, độ khó của bài trắc nghiệm được bảo đảm
khi đo trên trẻ em Việt Nam.
2. Có sự khác biệt về điểm bài trắc nghiệm ngôn ngữ giữa các nhóm học sinh
xét theo độ tuổi (giữa lớp 6 và lớp 5; giữa lớp 7, lớp 8 và lớp 9).
3. Không có khác biệt về điểm số bài trắc nghiệm giữa nam sinh và nữ sinh
trong cùng nhóm tuổi.
4. Có sự khác biệt giữa học sinh trường bán công và trường công lập về điểm
số của bài trắc nghiệm.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1. Cải biên trắc nghiệm ngổn ngữ của Hans Eysenck dành cho trẻ em từ 10 đến
15 tuổi, xác định có phù hợp hay không với hoàn cảnh xã hội, văn hóa và
trình độ phát triển ngôn ngữ của học sinh Việt Nam.
2. Xác định những thông số kỹ thuật cần thiết của bài trắc nghiệm ngôn ngữ
như: hệ số tin cậy, các giá trị độ khó của bài trắc nghiệm giữa hai lần đo.
3. Xác định độ khó và độ phân cách của câu trắc nghiệm. Nhận xét những
nhóm câu trong mối quan hệ hai chỉ số này qua hai lần đo.
4. Tính các số thống kê căn bản như điểm trung bình, độ lệch tiêu chuẩn qua đó
kiểm chứng các giả thuyết về sự khác biệt điểm số trắc nghiệm ngôn ngữ
giữa các học sinh trong lứa tuổi từ 10 đến 15; giữa nam sinh và nữ sinh trong

Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài:
1. Tham khảo tài liệu: đọc tài liệu có liên quan đến cơ việc cải biên và định
chuẩn trắc nghiệm trí tuệ dành cho tuổi học sinh, trong đó có trắc nghiệm ngôn
ngữ.


9

2. Phương pháp chuyên gia: trao đổi cùng các chuyên gia trong lĩnh vực
trắc nghiệm và các thầy cô giáo dạy môn Văn, Tiếng Việt phổ thông. Tham khảo
cách chấm điểm và xử lý thống kê.
3. Phương pháp toán thông kê: dùng các số thống kê thông dụng trong trắc
nghiệm như:
- Tính hệ số tin cậy (theo công thức Kuder Richardson).
- Tính độ khó, độ khó vừa phải của bài trắc nghiệm.
- Tính độ khó (tỉ lệ người làm đúng) và độ phân cách từng câu (công thức hệ
số tương quan điểm nhị phân - Rpbis) trên toàn thể mẫu.
- Dùng các kiểm nghiệm t (t test), kiểm nghiệm F.
- Tính các điểm số tiêu chuẩn : z, thứ hạng bách phân, IQ.
Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dùng SYSTAT của
công ty SYSTAT Inc (Hoa Kỳ), và chương trình máy tính phục vụ việc phân tích
trắc nghiệm được viết bằng ngôn ngữ lập trình PASCAL do ông Lý Minh Tiên viết
và xử lý theo đề xuất của người nghiên cứu.


10

Phần II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỂ THỨC NGHIÊN CỨU

I. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

nghiệm không đòi hỏi khả năng đọc hiểu (trắc nghiệm Beta của quân đội).
Trong những năm sau này, một số các trắc nghiệm trí tuệ khác mang tính
nhiều mặt và liên hiệp hóa. Phải kể đến trắc nghiệm D. Wechsler (có từ năm 1939).
Trắc nghiệm này có 2 phần: ngôn ngữ (có 5 trắc nghiệm phụ) và phi ngôn ngữ (có
4 trắc nghiệm phụ) dùng cho 2 độ tuổi trẻ em và người lớn.
Hans. J. Eysenck - nhà Tâm lý học người Anh khá nổi tiếng với lý thuyết
phân tích nhân tố về nhân cách. Tuy nhiên ông cũng khẳng định những yếu tố nhân
cách có liên quan đến khả năng trí tuệ. Năm 1996, ông đưa ra bộ trắc nghiệm trí tuệ
cho lứa tuổi từ 10 - 15, gồm có 5 tiểu nghiệm là: trắc nghiệm số, trắc nghiệm ngôn
ngữ, trắc nghiệm suy luận trừu tượng, trắc nghiệm tri giác và trắc nghiệm tri giác
không gian.
Từ ngày xuất hiện trắc nghiệm trí tuệ được thực hành ở rất nhiều nước, nhất
là Tây Âu và Bắc Mỹ.
Ở Việt Nam, trước năm 1975 đã sử dụng một số trắc nghiệm trí thống minh
để tuyển lựa học sinh. Nhưng việc sử dụng trắc nghiệm chưa được Việt Nam hóa.
Trong khoảng 20 năm gần đây, trắc nghiệm trí tuệ đã được sưu tầm, thích nghi hóa
sử dụng trên trẻ em Việt Nam. Chúng ta đang học hỏi và huấn luyện những chuyên
gia để sử dụng và xây dựng những trắc nghiệm thích hợp với trẻ em Việt Nam.
Một số đề tài khoa học ở Miền Nam trong những năm gần đây có sử dụng
trắc nghiệm ngôn ngữ với tư cách là một thành phần của trí tuệ như:
- Đề tài: "Dùng phương pháp trắc nghiệm đo lường một số biểu hiện sự phát
triển nhận thức và ngôn ngữ của trẻ em mẫu giáo nhỡ và lớn tại một số trường
Mầm non ở Thành Phố Hồ Chí Minh''' do ông Đoàn Văn Điều chủ trì.
- Đề tài: "Tỉm hiểu mức độ phát triển ngôn ngữ của học sinh cuối bậc Tiểu
học Thị xã Tây Ninh dưới góc độ Tâm lý học thần kinh", luận văn Thạc sỹ của
Nguyễn Thị Bích Phượng, 1988.


12


13

❖ Chức năng thích ứng tích cực của trí thông minh.
Theo lập trường trên Blâykhe V.M. Burơlachuc L.F đã đưa ra định nghĩa sau
đây về trí thông minh: "Thông minh - đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập
của các thuộc tính nhận thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong
hoạt động, do những điều kiện vấn hóa - lịch sử quy định và chủ yếu bảo đảm cho
sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích
hiện thực ấy". {7,44}.
1.2. Cấu trúc của trí thông minh (cấu trúc của trí tuệ người)
❖ Thuyết của Charler Spearman (1863 - 1945) về trí tuệ chung
Spearman đã dùng phương pháp phân tích nhân tố xác định mức độ tương
quan giữa việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Ông đã phát hiện ra rằng: các
trắc nghiệm nhằm vạch ra những năng lực riêng biệt có tương quan dương tính rõ
rệt với nhau, và ông đi tới kết luận về sự tồn tại một nhân tố chung nào đó có ảnh
hưởng tới tất cả các trắc nghiệm được nghiên cứu. Ông gọi là yếu tố "g" (general).
Như vậy một nhân tố khác - nhân tố riêng " s" (special) chỉ tồn tại đối với mỗi trắc
nghiệm nhất định.
❖ Thuyết về các năng lực trí tuệ nguyên thủy của Louis Thurstone (1887 1955).
Cũng dùng phương pháp phân tích nhân tố để xác định bản chất của trí thông
minh. Nhưng khác với Spearman, ông cho rằng không hề có nhân tố chung của trí
tuệ. Ông đã xác định được 7 nhân tố mà ông gọi là những năng lực nguyên thủy
(primary mantal abilities), đó là:
- Suy luận (R - reasoning).
- Lưu loát về ngôn ngữ (W - Word fluency).
- Tốc độ tri giác (P - Perceptual Speet).
- Thông hiểu ngôn ngữ (V - Verbal Comprehension).
- Tưởng tượng không gian (S - spatial visualization).
- Tính toán bằng con số (N - Numerical Calculation).




15

Gr - Trí tuệ lỏng (Fluid Intelligence); Gc - Trí tuệ kết tinh; Gv - Sự hình
dung (Visuallisation); Gr - Khả năng phục hồi lại hoặc sự lưu loát tổng quát
(Retrieval capacity or general íluency); Gs - yếu tố tốc độ nhận thức cognitive
speed factor).
Trong các dạng cấu trúc trí thông minh nêu trên đều có mặt của yếu tố ngôn
ngữ, ngôn ngữ có thể là một trong những yếu tố chung tương đương với các yếu tố
như toán học, suy luận, trí nhớ ... Tuy nhiên ngôn ngữ còn nằm trong thành phần
của yếu tố khác và bản thân năng lực ngôn ngữ cũng bao hàm các năng lực trí tuệ
khác.
Bài trắc nghiệm ngôn ngữ của Hans Eysenck dành cho trẻ em từ 10 đến 15
tuổi với cấu trúc như đã nêu ỏ phần dụng cụ nghiên cứu. Dựa theo phân loại trí
thông minh của Hakstian và Cattell (năm 1974), các nhân tố trí thông minh ngôn
ngữ cụ thể như sau:
- Yếu tố V (hiểu được các từ và ý tưởng; xác định được các từ đồng nghĩa; ý
nghĩa của tục ngữ; suy luận)
- Yếu tố w (Sự lưu loát về từ, nhanh chóng tạo lập từ ngữ).
- Yếu tố Cs (tốc độ khả năng hoàn thành một tổng giác khi thành phần của
một kích thích thiếu hoặc biến mất).
- Yếu tố Gs (tốc độ nhận thức trong viết và tính toán)
1.3. Khái niệm định chuẩn
Trắc nghiệm trí tuệ hầu hết đánh giá bằng điểm số. số điểm đạt được không
phải là một đo lường như vật lý mà chỉ để so sánh kết quả của một đối tượng với
một nhóm người có những đặc điểm giống như đối tượng (về tuổi tác, trình độ văn
hóa, thành phần xã hội...). Việc đánh giá kết quả phải xem xét nó có giống với đặc
điểm cơ bản của nhóm mẫu mà trắc nghiệm đã đưa vào để định chuẩn. Với một
trắc nghiệm nước ngoài, khi cải biên áp dụng cho trẻ em Việt Nam, cần thiết phải

tư duy và diễn đạt tư tưởng tình cảm cho người khác hiểu. Đồng thời không một
ngôn ngữ chung nào lại tồn tại, phát triển ngoài ngôn ngữ của cá nhân. Chỉ như vậy
ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng của mình; ngôn ngữ bao giờ cũng tồn tại
trong trạng thái động.
2.2. Năng lực ngôn ngữ của học sinh


17

❖ Năng lực ngôn ngữ có thề hiểu là khả năng sử dụng linh hoạt và sáng tạo
những tri thức và kỹ xảo ngôn ngữ trong hoạt động và giao tiếp. Thể hiện:
- Khả năng nhận biết từ: nhận biết từ có nghĩa là đồng nhất nó với từ đã biết,
với cái đã có trong kinh nghiệm của chủ thể.
- Khả năng liên kết ngữ nghĩa: liên kết được ngữ nghĩa của các từ với nhau;
liên kết ngữ nghĩa các thành phần của câu; liên kết ngữ nghĩa của các câu.
- Khả năng dự đoán, suy luận.
- Khả năng thông hiểu: hiểu nghĩa (nội dung khách quan của ngôn ngữ) và
hiểu ý (hiểu nghĩa của thuật ngữ).
- Khả năng tái tạo lời nói: khả năng phát âm, đọc, diễn đạt..
♦♦♦ Năng lực ngôn ngữ có thể được xem xét trên các mặt kỹ năng cơ bản sau:
- Kỹ năng viết: gồm có xác định nội dung ý tưởng; cách tổ chức ý tưởng; chữ
viết, chính tả, ngữ pháp và việc chọn lựa từ ngữ...
- Kỹ năng nói: kỹ năng nói thể hiện ở việc giao tiếp thành công. Kỹ năng nói
phải đạt tới: tính chính xác, tính thích hợp, tính linh hoạt,...
- Kỹ năng đọc: hiểu được nghĩa của văn bản ở các tầng bậc hiển ngôn ( nhận
ra ý chính, trật tự các sự kiện được miêu tả, nhận ra mối quan hệ ...) và hàm ẩn
trong văn bản (nhận ra nghĩa bóng của từ; xâu chuỗi nghĩa của các từ ngữ thành ý
nghĩa của câu; phán đoán suy luận từ những chi tiết dữ kiện; nhận ra tình cảm, thái
độ, quan điểm của người viết...).
- Ngữ pháp: nắm vững thành thạo các cấu trúc ngữ pháp cơ bản của tiếng

Trường

Lớp

Nam
SỐHS
Tỷ lệ

Nữ
SỐHS

%

Khai Minh

Cầu Kiệu

Tổng số:

5
6
7
8
9

27
18
22
21
27


Giai đoạn 2: Mẫu được chọn gồm có 502 em học sinh khối lớp 5, 6, 7, 8, 9
thuộc các trường: Tiểu học Trương Định quận 10; THCS bán công Cách Mạng
Tháng Tám quận 10; THCS công lập Đồng Khởi quận Tân Bình. Thành phần mẫu
phân bố như sau:


19

Giới tính
Nam
SỐHS
Tỷ lệ
%

Trường

Lớp

Trương Định

5

60

Cách Mạng
Tháng Tám và
Đồng Khởi

6

48

50.00

48

50.00

150 152

8

51

49.4

53

50.96

9

56

54.9

46

45.10


Câu trúc của bài trắc nghiệm: Toàn bài trắc nghiệm có 40 câu, được chia làm
nhiều nhóm (tiểu nghiệm) (trắc nghiệm cho trẻ 10-12 tuổi có 8 nhóm, trắc nghiệm
cho trẻ 13 - 15 tuổi có 9 nhóm). Mỗi nhóm bao gồm một số câu cùng đòi hỏi ở học
sinh về một khả năng ngôn ngữ nhất định. Cụ thể gồm các nhóm sau:
- Nhóm 1: Nhận biết từ (câu 1 đến câu 5). Học sinh phải nhận biết được từ
nêu ra thuộc loại từ nào trong hai loại từ gần giống nhau. Nhóm này liên quan đến
kiến thức về từ vựng, nhằm đo lường năng lực so sánh, phân loại về từ của học
sinh.
- Nhóm 2: Điền chữ cái (câu 6 đến câu 10). Nhiệm vụ của học sinh là phải
điền những chữ cái bỏ trống vào một từ cho sẩn để được một từ có nghĩa giống như
định nghĩa. Nhóm này đo lường khả năng dự đoán, liên kết, khái quát từ và hiểu
khái niệm.
- Nhóm 3: Hiểu ý nghĩa thành ngữ, tục ngữ (từ câu 11 đến câu 15). Học sinh
phải chỉ ra 2 câu (cụm từ) có nghĩa gần như nhau trong số 4 câu hay cụm từ. Nhóm
này đo lường năng lực thông hiểu ngôn ngữ ở các tầng lớp ý nghĩa, mối liên hệ của
các câu với nhau, khả năng trừu tượng và khái quát.
- Nhóm 4: xếp từ cùng nhóm (từ câu 16 đến câu 19). Có 3 nhóm từ cho sẵn,
học sinh phải tìm từ thích hợp ở nhóm 3 để xếp vào một trong 2 nhóm kia cho phù
hợp. Loại câu này nhằm đo khả năng so sánh, khái quát những dấu hiệu chung của
một loạt sự vật hiện tượng thành nhóm.
- Nhóm 5: Tim từ khác nhóm (từ câu 20 đến câu 24). Cho một nhóm gồm có
4 từ, học sinh phải chỉ ra 1 từ không cùng nhóm. Nhóm này liên quan đến khả năng
so sánh, phân biệt và hiểu khái niệm.
- Nhóm 6: xếp các chữ cái bị đảo lộn trong 1 từ (câu 25 đến câu 29). Nhóm
này nhằm lường khả năng liên kết nghĩa của từ và khả năng dự đoán từ.


21

- Nhóm 7: Hiểu trật tự từ trong câu (câu 30 đến câu 34). Học sinh phải nhận

22

- Nhóm 1 (5 câu): mỗi câu đúng được 1 điểm
- Nhóm 2 (5 câu): mỗi câu đúng được 1 điểm
- Nhóm 3 (5 câu): mỗi câu đúng được 1 điểm
- Nhóm 4 (5 câu): mỗi câu đúng được 1 điểm
- Nhóm 5 (5 câu): mỗi câu đúng được 1 điểm
- Nhóm 6 (4 câu): mỗi câu đúng được 1 điểm
- Nhóm 7 (5 câu): mỗi câu đúng được 1 điểm
- Nhóm 8 (2 câu): mỗi câu đúng được 1 điểm.
- Nhóm 9 (4 câu): đúng 3 phần được 1 điểm; đúng 6 phần được 2 điểm; đúng
7 phần được 4 điểm; đúng 8 phần được 4 điểm.
4. Cách xử lý:

Giai đoạn 1 : Xác định các chỉ số về bài và câu trắc nghiệm mới cải biên:
Trong mỗi trắc nghiệm, tính hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm (Rtc), điểm
trung bình (Mean) và độ lệch tiêu chuẩn (SD) cho toàn thể học sinh trong nhóm, sai
số tiêu chuẩn của đo lường (SEM). Xác định trị trung bình lý thuyết làm cơ sở phân
định độ khó của bài test so với nhóm học sinh trong độ tuổi. Quan sát các trị số
MIN (điểm thấp nhất) và MAX (điểm số đạt cao nhất) để thẩm định hàng số, nhận
xét biến thiên điểm số.
Đối với từng câu trắc nghiệm, tính độ khó (ĐK) và độ phân cách từng câu
(Rpbis). Quan tâm các tần số học sinh làm sai (điểm 0) hay bỏ trống không trả lời
(missing) trong mỗi câu để có những nhận xét kỹ lưỡng hơn về những ưu nhược
điểm của học sinh đối với những loại câu nào.
Giai đoạn 2 : Thực hiện các đối chiếu giữa hai lần trắc nghiệm, thống kê so
sánh các nhóm học sinh và định chuẩn.
- Xác định lần thứ hai các chỉ số về bài và câu trắc nghiệm sau khi chỉnh sửa
ở giai đoạn 1. Dựa vào các số liệu này nhận xét tính ổn định hay thay đổi của các
chỉ số về bài, câu trắc nghiệm.


24

Phần III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN MỘT
Dùng hai bài trắc nghiệm về khả năng ngôn ngữ của Hans Eysenck đã được
chuyển và hiệu chỉnh qua tiếng Việt để đo lường trên học sinh ở hai độ tuổi: 10 12 tuổi và 13 - 15 tuổi. Có 222 học sinh làm trắc nghiệm này, trong đó có 98 em
học sinh từ 10 đến 12 tuổi, 124 học sinh từ 13 đến 15 tuổi.
1. Kết quả về bài trắc nghiệm

Bảng 1: Độ khó và độ tin cậy của toàn bài trắc nghiệm
Các trị số quan sát
SốcâuTN
Số người l à m T N
Điểm trung bình
Độ lệch TC
Hệ số tin cậy
Đô khó của bài TN

TN 1 0 12 tuổi
40
98
39.429
9.765
0.858
81.2%

TN1315 tuổi
40
124

So với lý thuyết thì hai bài trắc nghiệm có độ tin cậy ở mức khá cao.
❖ Độ khó của bài trắc nghiệm
So sánh độ khó toàn bài trắc nghiệm với độ khó lý thuyết:
Trắc nghiệm 10 - 12 tuổi: 81.2% > 75.0%. Độ khó bài trắc nghiệm lớn hơn
độ khó vừa phải lý thuyết, có nghĩa là bài trắc nghiệm n à y dễ hơn so với trình độ
học sinh.
Trắc nghiệm 13 - 15 tuổi: 73.4% xấp xỉ = 75.0%. Như vậy bài trắc nghiệm
này là vừa sức so với trình độ của học sinh.


25

Với kết quả trên cho thấy cần xem xét chỉnh sửa bài trắc nghiệm 1 0 - 1 2
tuổi theo hướng tăng độ khó hơn lên. Tuy nhiên cần phân tích từng câu với những
thông số nhất định mới đưa ra nhận định cụ thể.
2. Kết quả về câu trắc nghiệm

2.1. Phân tích câu trắc nghiệm theo độ khó
Kết quả cho thấy từng câu trắc nghiệm có mức độ khó khác nhau. Độ khó
vừa phải của câu trắc nghiệm 2 lựa chọn là 75%, có thể chia ra 4 mức độ khó của
các câu trắc nghiệm theo quy ước sau:
- Những câu dễ: có độ khó từ 86% trở lên (86% học sinh làm đúng)
- Những câu vừa phải: có độ khó từ 66% - 85%.
- Những câu hơi khó: có độ khó từ 40% - 65%
- Những câu rất khó: có độ khó dưới 40%
Độ khó vừa phải của câu có 4 lựa chọn là 62.5%. Quy ước như sau:
- Những câu dễ: có độ khó từ 72% trở lên (86% học sinh làm đúng)
- Những câu vừa phải: có độ khó từ 52% - 71%.
- Những câu hơi khó: có độ khó từ 32% - 51%
- Những câu rất khó: có độ khó dưới 30%

0.926

Thuộc nhóm câu
Nhận biết từ
Hiểu trật tự câu
Hiểu trật tự câu
Điền chữ cái
Điền chữ cái
xếp chữ cái đảo lộn
xếp chữ cái đảo lộn
Nhận biết từ
Hiểu trật tự câu
Hiểu trật tự câu
Điền chữ cái
xếp chữ cái
Điền chữ cái

Trắc nghiệm 1 3 - 1 5 tuổi
Câu
25
29
2
4
26
7
8
1
23
36
3

Nhận biết từ
Nhận biết từ
xếp chữ cái đảo lộn


Trích đoạn So sánh giữa các nhóm học sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status