BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Mai
CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG TRONG THƠ
CHỮ HÁN NGUYỄN DU
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Mai
CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG
TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu............................................................11
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................11
6. Đóng góp của đề tài ......................................................................................................12
7. Kết cấu của luận văn ....................................................................................................12
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .............................................................................14
1.1. Thời đại Nguyễn Du...................................................................................................14
1.2. Cuộc đời Nguyễn Du (1766 – 1820) ..........................................................................16
1.3. Thơ chữ Hán Nguyễn Du ..........................................................................................17
1.3.1. Thanh Hiên thi tập (1786 – 1804) .......................................................................18
1.3.2. Nam Trung tạp ngâm (1804 – 1813) ...................................................................19
1.3.3. Bắc hành tạp lục (1813 – 1814) ..........................................................................19
1.4. Khái quát về cảm hứng và cảm hứng về quê hương trong thơ ca trung đại (Qua
một số tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến) ...20
Tiểu kết: .............................................................................................................................38
Chương 2: CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG NƠI CON NGƯỜI THA HƯƠNG
NGUYỄN DU QUA THƠ CHỮ HÁN ................................................................................40
2.1. Từ hình tượng con người tha hương ........................................................................40
2.1.1. Quê hương trong tâm thức Nguyễn Du ...............................................................41
2.1.2. Nhận thức của con người về thân phận tha hương .............................................46
4
2.2. Đến cảm hứng về quê hương ....................................................................................54
2.2.1. Cảm hứng về quê hương thông qua cảnh đẹp thiên nhiên ..................................54
2.2.1.1. Quê hương - thiên nhiên là kho ngâm vịnh..................................................54
2.2.1.2. Quê hương - thiên nhiên là nơi gắn bó.........................................................61
2.2.1.3. Quê hương - thiên nhiên là nơi mơ về .........................................................63
2.2.2. Cảm hứng về quê hương thông qua suy cảm về gia đình, người thân ................65
2.2.2.1. Quê hương gắn với cha mẹ, vợ con, anh em ................................................65
sống hiện đại. Tuy nhiên, cũng chính vì sự kết tinh quá rực rỡ của kiệt tác này mà nhiều
người chỉ biết đến Nguyễn Du với tư cách là cha đẻ của thiên tuyệt bút Truyện Kiều mà ít
biết đến một thế giới khác cũng sâu rộng, uyên thâm và cũng không kém phần thú vị đang
được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đó là mảng thơ chữ Hán của ông.
Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã từng viết: “Truyện Kiều là “diễn âm”, “lỡ tay” mà
thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới là đích “sáng tác”, nên xem nó là phát ngôn viên chính
thức của Nguyễn Du” [41, tr. 7], thơ chữ Hán mới là nơi giãi bày trực tiếp tấm lòng của
Nguyễn Du, ghi dấu trung thành những sự biến trong cuộc đời thăng trầm của nhà thơ. Ba
tập thơ chữ Hán chứa đựng những suy tư, những tâm sự về thân thế, thời thế, những tâm sự
cả đời của Nguyễn Du mà ông đã viết dưới sự thôi thúc của những nỗi niềm không nói ra
được, đồng thời 250 bài thơ chữ Hán ấy cũng chính là cách Nguyễn Du đặt vấn đề trực tiếp
về số phận của mình. Đó “là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm
năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một ngàn năm thơ chữ Hán của ông cha
ta đã đành mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa” [41, tr. 7]. Bởi vậy,
thơ chữ Hán của Nguyễn Du xứng đáng là một đỉnh cao khác trong sự nghiệp của ông, có
giá trị to lớn về cả nội dung lẫn tư tưởng nghệ thuật, góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo
của thơ văn Việt Nam. Thơ chữ Hán của ông là đỉnh cao của thơ chữ Hán Việt Nam trong
mười thế kỉ.
Cũng như bất cứ một tác phẩm vĩ đại nào, thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một khu
rừng muôn ngả, một vườn hoa muôn màu mà cửa luôn rộng mở, ai nấy cũng có thể tự do ra
vào để thưởng thức. Mỗi người khi bước vào đều muốn tìm ra cho riêng mình một cách nhìn
để mong lĩnh hội được toàn diện vẻ đẹp của vườn hoa đầy sắc màu ấy. Nhưng rồi khi ra về,
vẻ đẹp nơi góc khuất của vườn hoa ấy vẫn còn nguyên vẹn, chưa được khám phá. Và những
người đến sau cũng lại mang theo khát vọng có thể khám phá thêm được những bí ẩn chưa
6
được ai tìm hiểu. Vườn hoa thơ chữ Hán của Nguyễn Du vẫn còn quá nhiều điều bí ẩn thôi
thúc các nhà nghiên cứu bàn luận, đánh giá. Càng đi sâu tìm hiểu mảng thơ này, người đọc
7
mộng…Đó cũng là cách níu giữ hình ảnh quê hương không để nó bị xóa nhòa đi trong
khoảng không gian rộng lớn và nó cũng chứng tỏ một điều chỉ có quê hương mới là nơi có
thể chở che, an ủi cho mọi kiếp đời.” [95, tr. 159 - 160]
Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính trong cuốn sách Nguyễn Du – cuộc đời và tác
phẩm có nhận xét về những bài thơ chữ Hán được Nguyễn Du sáng tác khi làm quan ở Bắc
Hà (1802 – 1804) trong Thanh Hiên thi tập: “Đọc những bài thơ Nguyễn Du làm trong
chặng đường làm quan đầu tiên này thấy ông luôn luôn nhớ núi Hồng, nhớ những cuộc đi
săn…” [22, tr. 105]. Khi nhắc đến tập thơ Bắc hành tạp lục, hai nhà nghiên cứu cũng đã
nhận xét có không ít bài thơ trong tập thơ này nói về nỗi “nhớ nhà, nhớ nước, nhớ người
thân, muốn về sống nhàn tản ở quê nhà, không màng danh lợi” [22, tr. 126]. Điều đó chứng
tỏ quê hương luôn in đậm trong tâm trí Nguyễn Du, dù đi đâu, ông cũng luôn nhớ thương,
trông ngóng về quê nhà.
Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính trong cuốn sách Nguyễn Du và lịch sử văn
bản, trong lời dẫn tập thơ Nam Trung tạp ngâm, trên cơ sở phân tích hoàn cảnh của Nguyễn
Du lúc bấy giờ (làm quan xa nhà, xa quê), đã đưa ra nhận xét: “Tình cảnh như thế cho nên
ông lại ao ước về nhà, ăn canh rau rút, gỏi cá vược, làm bạn với hươu nai” [21, tr. 669].
Trong lời dẫn của tập Bắc hành tạp lục, các tác giả cũng đánh giá: “Tư tưởng muốn về ở ẩn,
nhớ núi Hồng Lĩnh, sông Lam, nhớ chuyện đi săn hươu nai lại xuất hiện nhiều lần trong
những bài làm trên đất khách. Càng xa nước, càng vất vả, càng nhiều tuổi thì tư tưởng trên
càng đậm hơn cả thời kỳ “mười năm gió bụi” hay thời kỳ làm quan ở Bắc Hà, ở Phú Xuân
hay ở Quảng Bình” [21, tr. 717]. Những nhận xét trên đã cho thấy dù ở đâu, Nguyễn Du vẫn
đau đáu nhớ về quê nhà, vì thế cảm hứng về quê hương luôn trở đi trở lại trong các tập thơ
chữ Hán của ông.
Nguyễn Thị Nương, trong luận án Tiến sĩ Con người Nguyễn Du qua thơ chữ Hán đã
nghiên cứu một cách khá đầy đủ và có chiều sâu vấn đề con người của chính Nguyễn Du
qua ba tập thơ chữ Hán. Tác giả luận án cũng khẳng định: “Dù đang ở đâu, nỗi nhớ quê
tiến hành thống kê số lần xuất hiện các địa danh này trong ba tập thơ [105]. Những số liệu
này rất hữu ích cho việc thống kê của chúng tôi được đầy đủ và chính xác hơn.
Nguyễn Thị Huyền Thương trong luận văn Thạc sĩ Con người nhân văn trong tiến
trình văn học trung đại qua thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du đã phân
tích, lí giải vẻ đẹp của con người nhân văn trong các mối quan hệ với xã hội, với thiên nhiên
và với chính bản thân mình. Trong chương hai (Con người nhân văn đẹp trong tình yêu
thiên nhiên và lối sống hài hòa cùng vạn vật), tác giả có nhận xét về thiên nhiên trong thơ
chữ Hán Nguyễn Du: “Thiên nhiên đúng là đã khúc xạ qua tâm hồn thi nhân, nên bao bài
thơ xuân vẫn chỉ quẩn quanh một nỗi niềm không thể dứt: xa nhà, xa quê, anh em li tán…
rốt cuộc chỉ triền miên một mối lo, một nỗi sầu, một mong ước cháy lòng là đoàn tụ gia
đình, quê hương mà chẳng thể toại nguyện. Tâm sự trĩu nặng đó, Nguyễn Du chỉ còn biết
chia sẻ cùng thiên nhiên.” [82, tr. 136]. Tác giả cũng khẳng định: “Trong nỗi buồn mênh
9
mang mà thi nhân gửi vào cảnh vật ngời lên tình yêu tha thiết dành cho quê hương, xứ sở”.
[82, tr. 149]
Cao Thị Liên Hương, trong luận văn Thạc sĩ với đề tài Văn hóa ứng xử trong thơ chữ
Hán Nguyễn Du có dành ra một vài trang để nói về nỗi nhớ quê hương của nhà thơ trong
khoảng “mười năm gió bụi” và khi đi sứ ở Trung Quốc để bàn về vấn đề ứng xử với bản
thân và ứng xử với thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Đó là một trong những nét
đẹp trong văn hóa ứng xử được thể hiện qua thơ chữ Hán của ông. [26]
Nguyễn Thị Thanh Diễm, trong luận văn Thạc sĩ Những thành tựu của thơ đi sứ thời
Nguyễn, trong mục “Thơ đi sứ thời Nguyễn – khúc hát nhớ nước thương nhà” (thuộc
chương hai: Thơ đi sứ thời Nguyễn – những thành tựu về mặt nội dung) cũng dành một
phần để nói về nỗi nhớ nước thương nhà trong thơ của các sứ thần - nhà thơ thời Nguyễn,
trong đó có Nguyễn Du. Cảm hứng về quê hương, vì thế mà luôn trở đi trở lại trong thơ ông.
[9]
Tác giả Trần Thị Thu Trang, trong luận văn Thạc sĩ Thiên nhiên trong thơ chữ Hán
dịch trước, trong lần dịch này, nhóm tác giả cuốn sách đã cân nhắc kĩ lưỡng để giữ được sự
chính xác nhất từ phiên âm, dịch nghĩa đến dịch thơ để chuyển tải được những suy tư, tình
cảm của Nguyễn Du đến bạn đọc một cách tốt nhất.
- Phạm vi nghiên cứu: Như trên đã nói, thơ chữ Hán Nguyễn Du có rất nhiều vấn đề,
nhiều hướng nghiên cứu khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu cảm
hứng về quê hương trong ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng như những phương thức
nghệ thuật mà ông sử dụng trong những bài thơ này. Trước đó, chúng tôi dành một phần để
nói về hình tượng con người tha hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du vì trong thơ ông, quê
hương luôn song hành với hình tượng của con người, đặc biệt là hình tượng con người tha
hương. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng dành một chương để giới thiệu đôi nét về thời đại, cuộc
đời Nguyễn Du, khái quát thơ chữ Hán của ông và tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm thơ ca
trung đại có nói đến cảm hứng về quê hương.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp: được sử dụng để xem xét, phân tích các yếu tố nội
dung, nghệ thuật có liên quan đến đề tài, từ đó đi đến các nhận xét chung, hình thành các
luận điểm.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: phương pháp này được áp dụng khi cần so sánh, đối
chiếu thơ chữ Hán Nguyễn Du với thơ văn của một số tác giả khác trong giai đoạn văn học
trung đại khi nói đến cảm hứng về quê hương.
Phương pháp thống kê: được sử dụng để tiến hành khảo sát từng bài thơ có liên quan
đến đề tài, từ đó đưa ra nhận xét dựa vào tần số xuất hiện của những bài thơ đó. Các con số
thống kê được đưa ra nhằm làm tăng sức thuyết phục cho các kết luận được nêu ra trong
11
luận văn. Thao tác này cũng giúp ích cho việc tập hợp ý kiến từ các bài viết, các công trình
khoa học, các sách chuyên khảo có liên quan đến nội dung của đề tài.
Phương pháp hệ thống: đặt Nguyễn Du và các tác phẩm thơ chữ Hán của ông trong các
mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành văn học trung đại Việt Nam như các hệ tư tưởng,
Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện cảm hứng về quê hương trong thơ chữ
Hán Nguyễn Du
Một số phương thức nghệ thuật được chúng tôi tìm hiểu là thể thơ, cách lựa chọn từ
ngữ, hình ảnh, giọng điệu. Thông qua việc phân tích những phương thức nghệ thuật thể hiện
cảm hứng về quê hương trong ba tập thơ, chúng ta sẽ thấy được khả năng sử dụng ngôn ngữ
bậc thầy của Nguyễn Du.
13
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Thời đại Nguyễn Du
Nguyễn Du sống trong một thời đại rối ren, đầy biến động của xã hội Việt Nam vào
nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX: thời kì sụp đổ của chế độ phong kiến, phong trào
nông dân nổi lên mạnh mẽ, nền kinh tế hàng hóa phát triển cho thấy sức mạnh của đồng tiền
cũng như tư tưởng phóng khoáng của tầng lớp thị dân. Trường Chinh đã nhận xét: “Thời đại
Nguyễn Du là thời đại đau khổ và oanh liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, thời đại của chế độ
phong kiến mục nát, thời đại của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp…” [92, tr. 25] và
không khí chung của thời đại đó là “cái thời đại… tê đi và tái lại, cắt không ra máu đỏ của
niềm vui” [19, tr. 44]. Xã hội phong kiến giai đoạn này đang trải qua cơn khủng hoảng
nghiêm trọng.
Chính quyền phong kiến bộc lộ bản chất phản động, bất lực và tàn bạo một cách trắng
trợn chưa từng thấy, nạn tham nhũng, hối lộ ngày càng trầm trọng. Từ lâu, vua Lê đã mất
hết quyền hành, bộ máy thống trị phong kiến quan liêu dưới thời Trịnh Sâm đã phơi bày ra
với tất cả bản chất trơ tráo, bỉ ổi của nó. Nội bộ triều đình xảy ra nhiều vụ tranh chấp, phế
truất, giết hại lẫn nhau. Chúa Trịnh Sâm vì mê đắm Đặng Thị Huệ đã truất ngôi của con
trưởng Trịnh Khải, lập Trịnh Cán làm thái tử. Hành động này là nguyên nhân dẫn đến nạn
kiêu binh nổi dậy, phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải làm chúa. Tiếp sau đó, kiêu binh lộng
hành, kéo nhau đi cướp phá các làng gây nên sự kinh hãi trong lòng nhân dân, chợ búa
lại nhà Nguyễn bằng sự kiện Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), lấy niên hiệu là Gia Long. Ngay
sau khi thắng thế, vua quan nhà Nguyễn lại hà hiếp bóc lột nhân dân thậm tệ, nước ta rơi
vào một giai đoạn khủng hoảng, đình trệ trầm trọng bởi lẽ “chính quyền nhà Nguyễn hoàn
toàn đối lập với nhân dân và dân tộc. Nó chỉ đại diện cho quyền lợi của những thế lực phong
kiến phản động, tàn tạ” [40, tr. 10], hệ tư tưởng phong kiến vốn đã khủng hoảng đến lúc này
lung lay tới tận gốc rễ, và “một bức màn đen tối phủ lên trên xã hội Việt Nam” [92, tr. 30].
Sống qua ba triều đại, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng kiến cảnh sống xa hoa, đồi
trụy, sự thống trị dã man, tàn ác của các thế lực phong kiến, cảnh đau khổ nghèo đói, cảnh
bị áp bức đày đọa của đại đa số quần chúng nhân dân…
Giữa những phong ba bão táp của thời đại, Nguyễn Du như một chứng nhân lịch sử,
một nạn nhân của hoàn cảnh mà cuộc đời đã phải trải qua nhiều chìm nổi. Rõ ràng, thời đại
đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của Nguyễn Du, là yếu tố khách quan làm nên tiếng
khóc nhân tình, nhân thế cho những năm tháng lăn lộn giữa cuộc đời gió bụi, cho nỗi đau
tha hương lưu lạc, nỗi đau của sự li tán gia đình, bạn bè…trong thơ ông. Khi đó, quê hương
- mảnh đất mẹ chính là nơi tác giả luôn hướng về với nỗi nhớ da diết, khôn nguôi. Cảm
hứng về quê hương xuất hiện dày đặc trong ba tập thơ chữ Hán đã chứng minh được điều
đó.
15
1.2. Cuộc đời Nguyễn Du (1766 – 1820)
Nguyễn Du thuộc dòng dõi một nhà thế phiệt trâm anh đệ nhất trong nước bấy giờ, lại
cất tiếng khóc chào đời trong cảnh nhà đang hết sức thịnh vượng, điều này thể hiện ngay
trên hai chữ “phúc đức” ở trước dinh thự của Nguyễn Nghiễm. Ít ai có thể ngờ, cuộc sống
của đại thi hào dân tộc tương lai lại gặp quá nhiều biến cố như thế.
Cuộc sống êm đềm trôi qua cho đến khi Nguyễn Du mười tuổi (1776), khởi đầu cho
những chuỗi ngày buồn đau bất hạnh của nhà thơ là cái chết của cha, cũng năm đó là cái
chết của người anh ruột tên Nguyễn Trụ. Hai năm sau Nguyễn Du lại đau đớn khi phải đón
nhận tang mẹ. Từ đây, cuộc sống của mấy anh em Nguyễn Du đều dựa vào người anh là
vào cung. Từ 1813 – 1814, Nguyễn Du được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh. Như vậy, cả
cuộc đời Nguyễn Du gần như phải sống nơi đất lạ, đây là điểm khởi nguồn cho cảm hứng về
quê hương trong ba tập thơ chữ Hán của ông.
Những biến động không ngừng của thời đại đã làm xáo trộn liên tục những trật tự cũ
và đã ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống êm đềm trong nhung lụa của Nguyễn Du, đẩy ông
vào cuộc sống tha hương bế tắc không thuộc về nơi nào và mang đến cho ông những mối
sầu hận mà hàng trăm năm sau vẫn còn làm nhức nhối trái tim người đọc. Sinh ra trong một
gia đình danh gia vọng tộc, nhưng cuộc đời lại lênh đênh như cánh bèo trôi dạt từ nơi này
đến nơi khác. Cánh bèo ấy chịu sự đưa đẩy của thời đại, của số phận và luôn mang trong
mình một tâm sự đầy u uất không thể chia sẻ cùng ai. Dù muốn dù không thì cảm giác mất
phương hướng, cảm thấy mình đi trong đêm tối mù mịt, trơ trọi một thân một mình vẫn luôn
là cảm giác thường trực, cũng giống như nỗi nhớ quê hương cứ trở đi trở lại trong tâm hồn
thi sĩ, để rồi những bài thơ chữ Hán về quê hương ra đời như một sự tất yếu của người con
đi xa, cảm thấy thiếu quê hương nên luôn mong mỏi được trở về.
1.3. Thơ chữ Hán Nguyễn Du
Theo gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Du có để lại ba tập thơ chữ Hán: Thanh
Hiên thi tập, Nam Trung tap ngâm, Bắc hành tạp lục. Tuy nhiên, số phận ba tập thơ chữ
Hán này không có may mắn như phần sáng tác bằng tiếng Việt của ông. Cho đến đầu thế kỷ
XX, cả ba tập thơ chữ Hán của ông mà ai cũng biết tên chỉ mới nằm dưới dạng bản thảo.
Các bài thơ chữ Hán đầu tiên chỉ được trích dẫn ít bài lẻ tẻ vào công trình Truyện cụ Nguyễn
Du của Lê Thước và Phan Sĩ Bàng, sau đó có rất nhiều tác giả đã bỏ công sưu tầm, dịch ra
tiếng Việt và giới thiệu tới người đọc (Đào Duy Anh, Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc
Hanh, Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính, Mai Quốc Liên...) để chúng ta có được tập thơ
chữ Hán đầy đủ như ngày hôm nay.
Trong sự nghiệp thi ca của Nguyễn Du, thơ chữ Hán chính là phần nhà thơ giãi bày
tâm sự của mình một cách trực tiếp nhất. Mỗi tập thơ, mỗi bài thơ đều gắn với những biến
động cụ thể trong cuộc đời tác giả. Rõ ràng, ba tập thơ chữ Hán có ảnh hưởng không nhỏ
đến việc tìm hiểu về con người cũng như nhiều vấn đề được đặt ra trong các sáng tác của
Nguyễn Du. Có thể nói, ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du là sự hoàn chỉnh một phong
mờ để rồi Nguyễn Du cứ phải ôm trong lòng khối tâm sự nhức nhối không thể tỏ cùng ai.
Thời kì Nguyễn Du buộc phải rời xa quê hương, sống nhờ quê vợ ở Thái Bình là thời
kì nhà thơ mang nặng trong lòng mặc cảm tha hương, lữ thứ nên số lượng các bài thơ có
xuất hiện cảm hứng về quê hương chiếm khối lượng lớn (18/40) bài và trở thành nỗi ám ảnh
thường trực trong lòng nhà thơ. Cuối năm Ất Mão (1975), “sau nhiều năm lang thang nơi
18
quê vợ, Nguyễn Du trở về với căn nhà lá ở quê hương Tiên Điền bên dòng sông Lam trong
vắt” [37, tr. 317]. Mong ước bấy lâu nay của Nguyễn Du là được trở về quê hương giờ đã
được thỏa nguyện. Sống trong lòng đất mẹ, cảm hứng về quê hương cũng vì thế mà dâng
trào. Sông Lam, núi Hồng hiện lên trong thơ ông với niềm tự hào và mến yêu tha thiết. Ở
quê hương không được bao lâu, Nguyễn Du miễn cưỡng ra làm quan phục vụ tân triều.
Nguyễn Du bắt đầu nhận chức tri huyện Phù Dung ở trấn Sơn Nam, cũng là bắt đầu thời kỳ
“làm quan ở Bắc Hà” (1802 - 1804). Đọc những bài thơ Nguyễn Du làm trong chặng đường
làm quan đầu tiên này, ta thấy ông luôn nhớ núi Hồng, nhớ những cuộc đi săn, luôn mong
muốn được trở về quê hương.
1.3.2. Nam Trung tạp ngâm (1804 – 1813)
Gồm 40 bài được Nguyễn Du sáng tác trong thời gian làm quan ở Phú Xuân và làm
Cai bạ ở Quảng Bình. Dù không còn tâm trạng bế tắc, tuyệt vọng, chán chường như ở
Thanh Hiên thi tập nhưng trong tập thơ này, nổi bật lên là nỗi thất vọng sâu sắc về chốn
quan trường mà trước đây ông từng khao khát được bước chân vào để đem tài năng ra giúp
nước. Nam Trung tạp ngâm có 22 bài thơ nói đến cảm hứng về quê hương. 22 lần ông nhắc
đến quê hương trong tập thơ là 22 lần ông thấm thía nỗi buồn xa quê, muốn trở về, muốn
thoát khỏi vòng danh lợi, khát khao cuộc đời phóng khoáng tự do, nhất là khi chốn quan
trường lại đầy hiểm hóc, đố kỵ, ganh đua. Cách nhà thơ nói về mình thật đáng thương và
cũng thật chua xót: Thù phương độc thác hữu quan thân (Phương xa một mình gởi cái thân
làm quan - Ngẫu đắc), tất cả cũng chỉ vì đường sinh kế, chuyện cơm áo,... vì vậy mặc dù
đường về chỉ ba ngày là đến, mà ôm nỗi nhớ quê đã bốn năm (Nễ giang khẩu hương vọng).
1.4. Khái quát về cảm hứng và cảm hứng về quê hương trong thơ ca trung đại (Qua
một số tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến)
Nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học luôn gắn liền với cảm xúc. Những cảm xúc
đó được khơi nguồn từ cảm hứng. “Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là
một ham muốn tích cực đưa đến hành động. Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như
một nội dung đặc thù của tác phẩm văn học” [46, tr. 268]. Bất kì một tác phẩm văn học nào
được tạo ra cũng cần phải có cảm hứng. Nội dung của cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm
bao giờ cũng là một tình cảm xã hội đã được ý thức. Đó có thể là những tình cảm khẳng
định như ngợi ca, vui sướng, yêu thương, đau xót… Đó cũng có thể là những tình cảm phủ
định các hiện tượng xấu xa, tiêu cực như tố cáo, căm thù, phẫn nộ, châm biếm, mỉa mai…
Các tình cảm đó được gợi lên từ các hiện tượng xã hội được phản ánh trong tác phẩm tạo
thành nội dung cảm hứng của tác phẩm đó.
Từ xưa đến nay, quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca. Với những
nhà thơ lớn, hình ảnh quê hương lại càng in đậm trong tâm trí họ và được đưa vào trong thơ
với một tình cảm vô cùng sâu sắc. Tuy cách thể hiện tình yêu đối với quê hương được thể
hiện ở mỗi nhà thơ là khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả luôn tự hào về cảnh đẹp, về
20
con người nơi quê hương mình. Khi đi xa, họ luôn nhớ và mong ngóng được trở về nơi chôn
rau cắt rốn của mình.
Trong nền văn học trung đại, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát,
Nguyễn Khuyến… đều dành một số lượng tác phẩm đáng kể để nói về quê hương. Điều đó
đã chứng minh được quê hương là nguồn cảm hứng vô tận và là đề tài không thể thiếu trong
thơ ca.
Nguyễn Trãi không chỉ là một vị anh hùng dân tộc, một nhà chính trị, quân sự toàn
tài, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của Việt Nam. Văn
chương của Nguyễn Trãi là văn chương “có đủ sức để sửa sang việc đời”. Bên cạnh đó, ông
còn có trái tim rất đằm thắm, nhân hậu và chứa chan tình người.
Quy tứ dao dao nhật tự tinh.
(Mười năm xiêu dạt thân mình như cỏ bồng cánh bèo
Lòng muốn về nhà ngày nào cũng như cờ rung động luôn).
(Quy Côn Sơn chu trung tác)
Đối với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là mảnh đất ông đã gắn bó suốt tuổi ấu thơ. Hướng về
quê, nhiều lần ông nhắc đến núi ở Côn Sơn. Với ông, núi xưa đã hóa thân thành một mảnh
tâm hồn, một phần của sự sống. Đọc thơ Nguyễn Trãi, ta thấy dường như trong suốt những
năm tháng bận rộn đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho lí tưởng nhân nghĩa,
chưa một lúc nào ông quên mảnh đất Côn Sơn muôn quý ngàn yêu. Cho nên, có lúc ông nhớ
Côn Sơn trong giấc ngủ:
Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng,
Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền.
(Núi cũ đêm qua vấn vương vào mộng nhẹ,
Trăng chứa đầy sông Bình Than, rượu đầy thuyền.)
(Mạn hứng)
Có lúc ông lại nhớ Côn Sơn khi vừa tỉnh giấc:
Mộng giác cố viên tam kính cúc,
Tâm thanh hoạt thuỷ nhất âu trà.
(Tỉnh mộng nhớ vườn cũ có ba rặng cúc,
Rửa lòng cho sạch có nước chảy với một âu trà.)
(Mạn hứng 3)
Sau loạn về Côn Sơn, thấy cảnh vườn nhà tiêu điều hoang rậm, ông đã không sao cầm
lòng được và thương cảm như muốn khóc. Tình thương Côn Sơn của ông ở đây thật đúng
như tình thương đối với một người thân, như đối với một mảnh máu thịt của mình. Trong
bài Thất nhân hoạ Côn Sơn đồ tình cảm của ông vô cùng não nuột:
Bán sinh khâu hác phế đăng lâm,
Loạn hậu gia hương phí mộng tầm.
Thạch bạn tùng phong cô thắng thưởng,
22
Côn Sơn có đá,
Mưa xối rêu xanh đậm,
Ta lấy làm chiếu thảm.
Trên núi có thông,
23
Muôn dặm rờn rơn biếc một vùng,
Ta tha hồ ngơi nghỉ ở trong.
Trong rừng có trúc,
Nghìn mẫu in biếc lục,
Ta tha hồ ca ngâm bên gốc.)
(Côn Sơn ca)
Ngoài bài Côn Sơn ca, các bài thơ chữ Hán ông viết về Côn Sơn đều được sáng tác
trong hoàn cảnh ông phải sống xa quê hay trong những lúc ông ghé thăm ít bữa mừng mừng
tủi tủi rồi lại đi cho nên tình cảm thường rất thiết tha, cảm động.
Phần lớn những bài thơ viết về Côn Sơn trong Quốc âm thi tập được viết khi Nguyễn
Trãi đã về sống ở Côn Sơn. Ông về Côn Sơn sống một cuộc đời rất bình dị và thanh đạm.
Nhà thơ ở trong những gian lều cỏ, kiến trúc sơ sài và tạm bợ:
Chụm tự nhiên một thảo am,
Dầu lòng đi bắc miễn về nam.
(Thuật hứng 19)
Trong nhà cũng chỉ thấy có một chiếc giường thấp, một nồi hương, một cây đàn, mấy
cuốn sách...Thậm chí còn không dùng cả đèn dầu và chổi quét, bởi lẽ:
Gió tịn rèm thay chổi quét,
Trăng kề cửa kẻo đèn khêu.
(Bài 67, Quốc âm thi tập)
Nghĩa là ông đã lấy trăng làm đèn và lấy gió làm chổi. Ngoài ngôi lều tạm ấy ra,
những người hàng xóm gần gũi và thân thiết của ông là núi, là chim, là mây, là trăng:
(Bài 102, Quốc âm thi tập)
Có thể nói tình cảm của Nguyễn Trãi đối với Côn Sơn vừa là một biểu hiện tự nhiên
của tình yêu quê hương đất nước, lại vừa là một thái độ chính trị, một quan điểm nhân sinh
của một nhân cách lớn. Đồng thời nó cũng là một nỗi đau lớn, một bế tắc lớn của một lí
tưởng xã hội không thể được thực hiện trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Lúc ấy Nguyễn
Trãi tuy mới độ năm mốt, năm hai tuổi nhưng những cuộc tranh quyền đoạt lợi thời hậu
chiến của các phe cánh trong triều đình nhà Lê lại vô cùng khốc liệt và phức tạp. Một con
người như Nguyễn Trãi không thể nào hoà nhập được. Tuy rất đau lòng nhưng ông cũng
không còn cách nào khác là phải tự tách mình ra để tìm đến những thú riêng. Và cái thú
riêng của ông chính là trở về sống nhàn dật ở Côn Sơn.
Khi trở về sống đời thanh bần giữa núi rừng, dù ở đâu thiên nhiên vẫn chiếm một địa
vị quan trọng, một người bạn tâm giao để Nguyễn Trãi kí thác nỗi lòng luôn quặn thắt
những ưu tư thời thế. Vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi giúp ta yêu hơn quê hương
đất Việt, hiểu hơn tấm lòng trung quân ái quốc cũng như sự nhạy cảm, tinh tế của thi sĩ, qua
đó tự hào về nền văn hóa dân tộc.
25