Nhân vật nữ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du đọc theo lý luận về giới - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ PHƢỢNG

NHÂN VẬT NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN
NGUYỄN DU ĐỌC THEO LÝ LUẬN VỀ GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƢỢNG


PGS.TS. Trần Nho Thìn - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Xin chân thành cám ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài.

Nguyễn Thị Phƣợng MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

TÍNH NỮ QUYỀN THẾ KỶ XVIII - ĐẦU THẾ KỶ XIX 95
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Văn học là nhân học. Nghiên cứu văn học là môn khoa học về con người thì cần
chú ý đến con người với các nhân tố cấu thành khác nhau, trong đó có nhân tố giới
(gender). Giới là vấn đề văn hóa xã hội. Sự hình thành những chuẩn mực lý tưởng về
người nam/ người nữ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố văn hóa xã hội, như kinh tế,
đạo đức, tập tục… Lẽ tất yếu, ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi dân tộc lại có quan niệm
giới khác nhau.
Cách ứng xử, hành động, vị trí và số phận của người phụ nữ trong một thời kỳ,
giai đoạn lịch sử đều bị chi phối bởi quan điểm về giới. Bên cạnh đó, văn học là
nhân học, văn học là tấm gương phản chiếu sống động nhất về đời sống, văn hóa
thực tại. Vì vậy, các nhân vật nữ trong một thời đại văn học là sản phẩm tất yếu của
cách nhìn về giới trong giai đoạn này. Nghiên cứu nhân vật nữ trong một loạt tác
phẩm của một tác giả trong giai đoạn văn học cụ thể chính là tìm hiểu quan niệm
nghệ thuật về con người của tác giả. Nhiệm vụ của người nghiên cứu là vạch ra
quan niệm ấy như là cái lý bên trong của hình tượng. Từ đó hiểu được tư tưởng
quan điểm của nhà văn, nhà thơ đối với các số phận tính cách cá nhân mà quan
niệm về con người cá nhân được mở ra, mỗi tác giả, mỗi thời đại đều có thêm
những đường nét mới.
Trong xã hội phương Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng, đã có một
thời kỳ dài giữa người đàn ông và người phụ nữ không có sự công bằng từ địa vị,

bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội, về quan điểm tư tưởng, cách nhìn nhận của ông đối
với xã hội, với giới nói chung và với người phụ nữ nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Về vấn đề Nhân vật nữ trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du đọc theo lý luận về
giới, luận văn tìm hiểu về những nghiên cứu, những thành tựu đã có khi các nhà
nghiên cứu, phê bình tiếp cận với mảng thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Nếu tác phẩm
Truyện Kiều, Văn chiêu hồn đã có bề dày nghiên cứu với hàng trăm vấn đề được
khai thác để thấy được tinh hoa văn hóa cũng như thành công trong tư tưởng, nghệ
thuật của Nguyễn Du thì thơ chữ Hán của ông lại chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà nghiên cứu. Hầu hết các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung sưu
tầm, giới thiệu, in lại, dịch mới… thơ chữ Hán của Nguyễn Du.
Người có công mở đường cho việc nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du là
Đào Duy Anh. Trong bài viết Thi tập của Nguyễn Du trong công trình Khảo luận về
Kim Vân Kiều, lần đầu tiên vị trí của thơ chữ Hán Nguyễn Du được khẳng định “về
hình thức cũng nhƣ về nội dung, thơ chữ Hán Nguyễn Du có thể đề vào hàng với
thơ Cao Bá Quát và có thể đem so sánh với thơ Đƣờng". (Sđd. tr.207).
Đặc biệt Đào Duy Anh là người đầu tiên khẳng định rằng những sáng tác chữ
Hán này "là nguồn tƣ liệu quí giá đế tìm hiểu cái phẩm cách phức tạp và bi đát" của
Nguyễn Du. Có thể nói đây là những ý kiến có giá trị gợi mở cho nhiều nhà nghiên
cứu, phê bình ở các giai đoạn sau.
Trước hết, phải kể đến các bộ lịch sử văn học mới được biên soạn mà ở đó,
thơ chữ Hán Nguyễn Du đã có được một vị trí xứng đáng. Trong cuốn Lƣợc thao
lịch sử văn học Việt Nam (nhóm Lê Quý Đôn, Nxb. Xây đựng, H. 1957), Trương
Chinh khẳng định thơ chữ Hán chẳng những "là nguồn tƣ liệu rất quý để tìm hiểu
tác giả Truyện Kiều", mà còn “phải đƣợc kể là những tác phẩm bậc nhất trong văn
thơ chữ Hán của cha ông ta ngày trƣớc”. Theo ông, những sáng tác đó không phải
làm để tiêu khiển thù ứng "mà là thứ thơ chân thành, xuất phát tự tâm can" Ông
còn nhấn mạnh rằng giá trị độc đáo nhất trong thơ chữ Hán Nguyễn Du là “đã có

bao trùm thế giới nhân vật mà ông tạo dựng trong thơ chữ Hán. Nguyễn Du không
dừng lại ở sự thương khóc họ - mà còn khái quát được bản chất của một xã hội: chà
đạp lên mọi nhân phẩm tha hóa mọi tính cách làm tan vỡ mọi giá trị cao đẹp
nhất. Bài viết của Nguyễn Huệ Chi đã mơ ra một hướng đi trên hành trình nghiên
cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du: kiếm tìm chân dung của chính tác giả - như một hình
tượng được biếu hiện trực tiếp qua những bài thơ viết về mình và biểu hiện gián tiếp
qua các đôi tượng trữ tình
Nguyễn Thị Nương, giảng viên khoa Văn trường Đại học sư phạm Hà Nội đã
có chuyên luận Con ngƣời Nguyễn Du qua thơ chữ Hán (NXB Đại học Sƣ Phạm, H.
2010). Ở chuyên luận này, tác giả đã bao quát được khá toàn diện chân dung con người Nguyễn Du qua chính cách nhìn của ông ở cả hai phương diện: hướng nội
(thơ tự họa) và hướng ngoại (hệ thống nhân vật). Tác giả đã sử dụng tư liệu chính
đó là văn bản thơ chữ Hán làm cơ sở, tiền đề hiểu thêm về chính phong cách thơ
cũng như con người Nguyễn Du đặt trong bối cảnh của thời đại.
Có thể nói, ở giai đoạn đầu một số tác giả còn khuôn hẹp giá trị của bộ phận
sáng tác này vào việc thể hiện tâm sự của Nguyễn Du đối với triều đại phong kiến
đương thời. Sau đó các nghiên cứu mới tiếp tục khai thác những nội dung cảm xúc
sâu xa hơn như niềm trăn trở của nhà thơ trước thân phận con người và cuộc đời.
Mỗi nhà nghiên cứu, bằng vốn sống, vốn văn hóa của mình đã làm sống dậy những
tình cảm, tư tưởng mà Nguyễn Du ký thác trong thơ. Lê Thước, Đào Duy Anh
khẳng định giá trị của thơ chữ Hán trong việc phản chiếu cuộc đời và tâm sự
Nguyễn Du; Nguyễn Huệ Chi phát hiện con ngƣời tƣ tƣởng và hình tƣợng tự họa
đặc sắc…; Nguyễn Lộc khẳng định vấn đề trung tâm trong sáng tác chữ Hán của
Nguyễn Du là nỗi đau đời… Nhìn chung, khi nghiên cứu tập thơ chữ Hán của
Nguyễn Du, các nhà nghiên cứu đều chú trọng nghiên cứu con người nhà thơ thể
hiện trong các tác phẩm mà hầu như chưa có sự quan tâm thỏa đáng tới các hình
tượng nhân vật nữ trong tập thơ này.
Góc nhìn nhân vật nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du được đề cập trong

Hương, Nguyễn Công Trứ…
4. Mục đích nghiên cứu:
Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu chính là hình tượng người phụ nữ
trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du nhìn từ góc nhìn lý luận giới, luận văn làm nổi
bật điểm tương đồng cũng như góc nhìn mới của Nguyễn Du so với cái nhìn nam
quyền truyền thống mang tinh thần Nho giáo, qua đó mà xác định bản chất chủ
nghĩa nhân đạo, nhân văn của Nguyễn Du.
Trên cơ sở đó luận văn chỉ ra những biểu hiện của tư tưởng nữ quyền, biểu
hiện rõ rệt của tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa của Nguyễn Du, điểm khác biệt và nhất
quán trong hành trình sáng tác của Nguyễn Du, từ thơ chữ Hán đến thơ Nôm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài như: khái
niệm giới; khái niệm giới tính, quan điểm văn hóa về nữ giới ở Việt Nam thời trung
đại; nữ giới trong văn học viết Việt Nam thời kì trung đại; tư tưởng nhân đạo cũng
như đặc điểm văn hóa, xã hội thời kỳ trung đại qua sáng tác của Nguyễn Du.
Phân loại, phân tích, cắt nghĩa các hình tượng phụ nữ trong Thơ chữ Hán
Nguyễn Du từ góc nhìn giới gồm người phụ nữ chính diện lý tưởng và người phụ nữ
phản diện theo quan điểm Nho giáo, cái mới, phi Nho giáo của Nguyễn Du khi nhìn
các nhân vật này. Theo quan niệm Nho gia, cái đẹp gắn liền với phạm trù đạo đức,
gắn liền với những chuẩn mực mà chính nam giới quy định. Nhân vật chính diện từ
đó được xem như những người phụ nữ tiết hạnh, trinh liệt, có thể lấy cái chết để
minh chứng hay bảo vệ cho quan niệm này. Ngược lại, những yếu tố thiên về đời
sống bản năng tự nhiên, không phù hợp chuẩn mực được đặt ra sẽ bị coi là xấu, tầm
thường. Đó là những người phụ nữ có lối sống tự do, nhất là tự do yêu đương, tình
yêu mang đậm nét yếu tố thân xác. Qua hình tượng người phụ nữ nhìn từ góc độ
Giới, bằng tinh thần nhân đạo của mình, Nguyễn Du vẫn cố gắng chỉ ra bi kịch và
sự bất công của xã hội nam quyền đã gây nên những số phận đầy xót xa và bi kịch
cho người phụ nữ.

pháp so sánh. Chúng tôi dự kiến sẽ so sánh người phu nữ trong Thơ chữ Hán
Nguyễn Du với nhân vật nữ trong Truyện Kiều. Bên cạnh đó, chúng tôi còn so sánh
với cách nhìn nhận vị trí, số phận của các hệ thống nhân vật nữ trong các tác phẩm
của các tác giả trước và sau Nguyễn Du cả chữ Hán và chữ Nôm. Điều đó giúp luận
văn đưa ra những quan điểm khách quan, toàn diện về tư tưởng tiến bộ của đại thi
hào Nguyễn Du.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai
thành 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tìm hiểu ngƣời phụ nữ trong thơ
chữ Hán của Nguyễn Du từ quan điểm giới.
Chƣơng 2: Hình tƣợng nhân vật ngƣời phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn
Du. Chƣơng 3: Cái mới của hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong thơ chữ Hán của
Nguyễn Du trong trào lƣu văn học mang tính nữ quyền thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ
XIX NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
VIỆC TÌM HIỂU NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN
DU TỪ QUAN ĐIỂM GIỚI

1.1. Quan điểm giới (gender)
Khái niệm thuật ngữ Giới cùng những công trình nghiên cứu dựa trên lý
thuyết về giới đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây. Không chỉ trong thực
tế xã hội mà trong văn học, các nhà nghiên cứu đều vận dụng những quan điểm về
giới làm tiền đề cho những công trình của mình. Trong luận văn Nhân vật nữ trong

thành và phát trỉnh trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân do sự tƣơng tác của
các nhân với mội trƣờng xã hội (gia đình, nhà trƣờng, thông tin đại chúng ). Các
đặc điểm này đƣợc xây dựng do sự phối hợp giữa yếu tốc khách quan là sự mong
đợi của xã hội đối với ngƣời nữ hay nam và yếu tố chủ quan là cách mà ngƣời nữ
hay nam đó muốn xã hội nhìn nhận họ. Chính vì thế, trong khi các đặc điểm giới
tính rất ít thay đổi thì các đặc điểm về giới lại rất đa dạng tùy thuộc vào điều kiện
địa lý, thể chế, xã hội, lịch sử
Qua việc liệt kê một số quan điểm về giới, chúng ta có thể hiểu Giới là một
thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những đòi hỏi, yêu cầu đối
với nam và nữ. Nó là sản phẩm của xã hội, văn hóa. Giới là những đặc điểm mà xã
hội đã tạo nên ở người nam và người nữ, là quy định của xã hội về người nam và
người nữ, là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ. Giới thường bao gồm nhiều vấn
đề như: vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội… Những vấn đề này thường do xã hội quy định và biến đổi theo từng giai đoạn
lịch sử, từng quốc gia, tuỳ theo truyền thống, phong tục tập quán của mỗi dân tộc…
Tuy nhiên, một thực tế còn tồn tại trong cách hiểu của các công trình nghiên
cứu, Giới (Gender) lại thường bị dùng lẫn lộn với Giới tính (sex). Giới tính chỉ nhấn
mạnh đến tính (nam/ nữ) thì Giới nhấn mạnh sự phân biệt nam, nữ trên phương diện
xã hội. Tức là quan điểm giới mà chúng tôi sử dụng không những bao gồm Giới
tính mà còn bao gồm cả phương diện văn hóa - xã hội của họ như trong mối quan
hệ gia đình, quan hệ nam nữ. Văn hóa là đa dạng trong không gian và biến đổi
không ngừng trong thời gian nên một khi thừa nhận gender là một kiến tạo văn hóa
thì chúng ta tất yếu phải chấp nhận một thực tế: không có một quan niệm duy nhất,
phổ quát cho cái gọi là nam tính (masculinity) hay nữ tính (femininity). Nam tính
hay nữ tính biến đổi một cách đa dạng từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác;
và ngay trong một nền văn hóa thì nam tính và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì
này sang thời kì khác.
Nữ tính chủ yếu tồn tại trong không gian của gia đình, nam tính chủ yếu được

miêu tả các mối quan hệ giữa vạn vật. Trong vũ trụ luận của Lão-Trang, âm được
đồng nhất với tự nhiên và đàn bà – các nguyên lý được đánh giá cao hơn là dương,
văn hóa và nam tính. Trái lại, trong Nho giáo chính thống, âm và dương lại liên
quan tới các mối quan hệ mang tính tôn ti của con người và quan hệ quyền lực giữa
những gì mang tính âm và tính dương lại bị đảo ngược. Người vợ bị coi là thấp kém
hơn người chồng, như là âm so với dương. Ngay cả một bề tôi hoặc một ông quan
nhà nho cũng được xem là âm trong mối tương quan với tính dương của vua chúa,
và điều đó vẫn đúng ngay cả khi cả hai người trong mối quan hệ cặp đôi này đều là
đàn ông. Âm và dương thể hiện những mối quan hệ có tính tôn ty, phụ thuộc lẫn
nhau không nhất thiết là giữa đàn ông và đàn bà, mặc dù những gì thuộc dương
thường có đặc trưng là thường gắn với những nguyên lý của đàn ông và âm thì gắn
với những nguyên lý của phụ nữ. Vì thế, nam tính và nữ tính không phải là những
giá trị “nhất thành bất biến” mà có tính lịch sử, tính khu vực. Chúng vừa là những qui ước xã hội về giới áp đặt lên cá nhân từ bên ngoài vừa là ý thức và cách ứng xử
theo giới của chính họ.
Trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu giới để tìm hiểu các kiểu hình tượng
nam, nữ. Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều được nghiên cứu từ quan điểm
giới để thấy được quan niệm trinh tiết nghiệt ngã của Nho giáo đã trói buộc nàng
Kiều, khiến nàng mang mặc cảm tội lỗi vì mình không còn trong trắng. Từ đó chi
phối đến hành động, nàng từ chối tình vợ chồng với Kim Trọng. Qua đó ta có thể
hiểu được một cách toàn diện những nguyên nhân dẫn đến bất hạnh của Kiều, từ
nguyên nhân xã hội đến nguyên nhân thuộc về quan niệm giới.
Từ những khái niệm tổng quát nhất, cơ bản nhất về Giới và Giới tính (gồm
nam tính và nữ tính) sẽ phần nào giúp luận văn tìm hiểu, khai thác triệt để cách nhìn
nhận theo quan điểm về Giới một cách toàn diện và khách quan nhất về các hình
tượng nhân vật nữ trong Tập thơ chữ Hán Nguyễn Du. Từ quan điểm về Giới, luận
văn sẽ có thêm cơ sở phân tích, khái quát được những đặc trưng về người nữ, cách
nhìn nhận của người nam đối với người nữ trong một bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã

như ông trời của mình. Nghĩa vụ của họ là phải sinh được con trai nối dõi và “nâng
khăn, sửa túi” cho chồng.
Trong văn hoá người Việt, giới có tác động không nhỏ đến sự phân công lao
động giữa người phụ nữ và người đàn ông trong gia đình. Người đàn ông luôn là
người giữ vai trò trụ cột trong gia đình. Mọi lĩnh vực có liên quan đến đời sống gia
đình như: làm nhà, dạm vợ, gả chồng cho con cái, chăn nuôi, trồng trọt… nhất nhất
đều do người đàn ông chủ gia đình quyết định. Tư tưởng trọng nam khinh nữ của
Nho giáo góp phần làm cho chế độ phụ hệ gia trưởng trong người Việt thêm củng
cố. Phản ánh lại xã hội Việt Nam thời phong kiến, văn học trung đại Việt Nam trong
cái nhìn lịch sử, nhất là từ khi hệ thống văn tự được xác lập, phái nam gần như giữ
vai trò thống trị tuyệt đối. Họ áp đặt các chuẩn mực về cái đẹp, về hành vi, về đức
hạnh cho người phụ nữ, bất công bất lợi cho người phụ nữ và có lợi cho nam giới.
Văn học trung đại nói chung là nền văn học của nam giới, tác giả của những thành
tựu văn học cũng như hạn chế đều chủ yếu là nam giới. Và những tác phẩm của họ

Trích đoạn Hình tƣợng ngƣời phụ nữ phản diện So sánh ngƣời phụ nữ trong Thơ chữ Hán với ngƣời phụ nữ trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status