chất lượng cuộc sống dân cư huyện định quán (tỉnh đồng nai), thực trạng và giải pháp - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Hoàng Hải

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
HUYỆN ĐỊNH QUÁN (TỈNH ĐỒNG NAI):
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Hoàng Hải

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
HUYỆN ĐỊNH QUÁN (TỈNH ĐỒNG NAI):
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Địa lí học
Mã số
: 60 31 05 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. Trương Phước Minh

tác giả hoàn thành luận văn của mình.
o

Quý thầy cô trong Ban giám hiệu, phòng sau đaị học, khoa Địa lý -

trường đại học sư phạm TP.HCM và quý thây cô các trường khác đã tận
tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của
tác giả tại trường.
o

Quý cơ quan, ban ngành của huyện Định Quán (tỉnh Đồng Nai) đã tận

tình giúp đỡ tôi trong việc thống kê, tính toán các số liệu phục vụ cho việc
hoàn thành luận văn.
o

Xin gởi lời biết ơn chân thành đến bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã

tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được tham gia học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09/2013
Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Hải

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1

2.3.3. Tiêu chí về giáo dục ..............................................................................................63
2.3.4. Vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe .........................................................................66
2.3.5. Điều kiện sống của các hộ gia đình .......................................................................68
2.3.6. Mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần ........................................................................70
3


2.3.7. Vấn đề môi trường.................................................................................................73
2.4. Đánh giá tổng hợp về CLCS dân cư huyện Định Quán ..........................................74
2.5. Nguyên nhân của thực trạng CLCS dân cư ở huyện Định Quán ...........................76
2.5.1. Nguyên nhân chủ quan ..........................................................................................76
2.5.2. Nguyên nhân khách quan ......................................................................................77

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGCUỘC
SỐNG DÂN CƯ HUYỆN ĐỊNH QUÁN ................................................................. 80
3.1. Căn cứ xây dựng định hướng các định hướng và giải pháp ..................................80
3.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến CLCS dân cư .............................80
3.1.2. Kết quả nghiên cứu hiện trạng CLCS dân cư huyện Định Quán giai đoạn 1999–
2010 .................................................................................................................................81
3.2. Định hướng phát triển kinh tế xã hội nhằm nâng cao CLCS của dân cư ..............81
3.2.1 Các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội .....................................................................81
3.2.2. Một số định hướng phát triển kinh tế xã hội ..........................................................83
3.3. Một số giải pháp nâng cao CLCS dân cư huyện Định Quán .................................86
3.3.1. Nhóm giải pháp về tăng trưởng kinh tế .................................................................86
3.3.2. Xóa đói giảm nghèo ..............................................................................................87
3.3.3. Nhóm giải pháp về đảm bảo nhu cầu lương thực và dinh dưỡng .........................88
3.3.4. Nhóm giải pháp về phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe .....................................89
3.3.5. Nhóm giải pháp về giáo dục,đào tạo nghề và giải quyết việc làm ........................90
3.3.6. Nhóm giải pháp nâng cao điều kiện sống và môi trường ......................................92
3.3.7. Nhóm giải pháp nâng cao đời sống tinh thần và an ninh xã hội ...........................93


GDP

Tổng thu nhập quốc nội

4

HDI

Chỉ số phát triển con người

5

HDR

Báo cáo phát triển con người

6

PPP

Phương pháp sức mua tương đương

7

THCN

Trung học chuyên nghiệp

8

đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài lòng hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội. Chất
lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần.
Khi xã hội ngày càng phát triển thì chất lượng cuộc sống (CLCS) ngày càng được con
người quan tâm chú trọng. Hiện nay, để biết được trình độ phát triển kinh tế xã hội của một
quốc gia hay khu vực, người ta thường dựa vào các chỉ số của CLCS. Vì thế mà việc nâng
cao CLCS đã được sự quan tâm không chỉ ở tầm quốc gia mà cả trên bình diện thế giới.
Điều đó được thể hiện rất rõ trong mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium
Development Goals - MDGs) toàn cầu do chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (United
Nations Development Programme -UNDP) đề xuất. Ở nước ta, chính phủ cũng đã ban
hành chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (2001-2010). Tuy nhiên,
đó vẫn là những định hướng ở tầm vĩ mô.
Sự chênh lệch về CLCS luôn thể hiện rất rõ giữa nhiều quốc gia trên thế giới. Trong
khi tại nhiều nước phát triển phải lo lắng về tình trạng thừa dinh dưỡng thì lại có tới gần 1/3
dân số thế phải đương đầu với tình trạng thiếu lương thực và nghèo khổ. Vậy, CLCS là gì?
Phải sử dụng những tiêu chí nào để đánh giá chất lượng cuộc sống? Cần làm gì để nâng cao
CLCS. Đó chính là những vấn đề đặt ra hiện nay đòi hỏi phải được giải quyết.
Là một huyện miền núi của tỉnh Đồng nai, trong khoảng 10 năm trở lại đây, với nhiều
phấn đấu để hoàn thành những mục tiêu đề ra, huyện đã đạt được những thành tựu nhất
định, đặc biệt là trong công tác xóa đói giảm nghèo. Tuy vậy, hiệu quả từ những chương
trình Mục Tiêu Thiên Niên Kỷ, các dự án xóa đói giảm nghèo tại huyện Định Quán vẫn
chưa cao, chưa xứng với tiềm năng của địa phương. Với mong muốn góp một phần nhỏ vào
việc xây dựng huyện nhà ngày một giàu đẹp tương xứng với vị trí và tiềm năng vốn có của
huyện trong sự phát triển chung của tỉnh và cả nước. Vì thế, tôi chọn đề tài :“Chất lượng
cuộc sống dân cư huyện Định Quán (tỉnh Đồng Nai): Thực trạng và giải pháp” cho đề tài
luận án của mình.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
 Vận dụng cơ sở lí luận và nhận thức về thực tiễn nghiên cứu chất lượng cuộc sống
dân cư.

trạng và giải pháp”của Nguyễn Thị Linh (2012) đã theo hướng nghiên cứu CLCS trong mối
quan hệ biện chứng với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Nai.
Như vậy, có thể thấy lĩnh vực CLCS dân cư trong thời gian qua đã được nghiên cứu
dưới nhiều phạm vi và góc độ khác nhau. Tuy vậy, việc tiếp cận một cách trực tiếp, tổng thể
về CLCS dân cư của một huyện dưới góc độ địa lý kinh tế xã hội vẫn còn rất hạn chế. Đề tài
“Chất lượng cuộc sống dân cư huyện Định Quán (tỉnh Đồng Nai): Thực trạng và giải pháp”
kế thừa những thành quả của những công trình nghiên cứu trước đó nhưng cũng đồng thời
đưa ra những ý kiến, quan điểm và kết quả nghiên cứu của mình nhằm bổ sung vào lĩnh vực
nghiên cứu CLCS dân cư dưới góc nhìn địa lý kinh tế xã hội.

7


4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1. Các quan điểm nghiên cứu
4.1.1. Quan điểm hệ thống
Huyện Định Quán là một đơn vị lãnh thổ tự nhiên, dân cư, kinh tế xã hội và hành
chính thuộc tỉnh Đồng Nai nói riêng và của cả nước nói chung. Có mối quan hệ mật thiết
với các lãnh thổ khác trong tỉnh. Sự phát triển kinh tế xã hội và nâng cao CLCS của dân cư
huyện đặt trong bối cảnh chung của sự phát triển kinh tế xã hội và CLCS của cả tỉnh và cả
nước ta hiện nay.
Các yếu tố xã hội, vật chất, dịch vụ vừa là yếu tố riêng biệt nhưng luôn vận động trong
mối liên hệ chặt chẽ theo hệ thống nhất tự nhiên, kinh tế xã hội. sự phát triển của các yếu tố
chuyên biệt vừa chịu sự tác động bởi những qui luật riêng lại vừa chịu sự tác động của
những qui luật thuộc hệ thống cao hơn.
4.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Đây là quan điểm truyền thống của Địa Lý học.Trong nghiên cứu, không thể không coi
việc nghiên cứu các đối tượng trên một lãnh thổ thống nhất.Tuy vậy, ở các lãnh thổ này vẫn
có sự khác biệt nhất định mà nhờ đó có thể phân định thành những lãnh thổ nhỏ hơn có mức
sống đồng nhất cao hơn. Chính các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tác động lẫn nhau


5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Không gian nghiên cứu: huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
5.2. Thời gian nghiên cứu: 1999-2011
5.3. Nội dung nghiên cứu
Khảo sát và điều tra những chỉ số cơ bản của CLCS: thu nhập bình quân, lương thực, y
tế, giáo dục, mức độ hưởng thụ văn hóa, môi trường sống của con người để cho thấy CLCS
ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp để đưa CLCS
nơi đây phát triển bền vững.

6. Cấu trúc đề tài: bao gồm mở đầu, nội dung và kết luận, cụ thể:
A. Phần Mở đầu
B. Phần Nội dung: chia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về nghiên cứu chất lượng cuộc sống
Chương 2: Các nhân tố tác động đến CLCS và thực trạng CLCS dân cư huyện Định Quán.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao CLCS dân cư huyện Định Quán.
C. Kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo

9


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
CUỘC SỐNG
1.1. Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống
1.1.1. Quan niệm về chất lượng cuộc sống
 Chất lượng
Nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) dân cư là mục tiêu phấn đấu của thế giới
nói chung cũng như các quốc gia, các vùng nói riêng, đặc biệt là những vùng nghèo khó

CLCS của con người. CLCS được xem là mục đích trong việc tạo điều kiện thuận lợi giúp
con người có một cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú.
Theo R.C.Sharma (1988) thì CLCS là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa
mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của
chính bản thân xã hội. Trong tác phẩm nổi tiếng “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất
lượng cuộc sống”, ông đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng
(hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được
coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người. Thêm vào đó, chất lượng là sự
cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được. Nó như là cảm giác của sự
đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống”. Theo R.C.Sharma thì mức sống của mỗi cá
nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS.
Trong xã hội hiện đại, khái niệm chất lượng cuộc sống thường được đồng nhất với
khái niệm thoải mái tối ưu. Trong đó, mối quan tâm chính của việc nâng cao chất lượng
cuộc sống là tạo ra một trạng thái thoải mái về vật chất và tinh thần, là tăng cường thời
gian nghỉ ngơi. Sự tối ưu hóa mức độ thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các
sản phẩm tiêu dùng mà mỗi cộng đồng xã hội, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân có được.
Để định lượng khái niệm CLCS, ở Thái Lan đã xây dựng 37 chỉ tiêu phản ánh các
nội dung cốt lõi của CLCS là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và thông
tin, an toàn, việc làm. Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống theo 3
mức: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao).
Một khái niệm mang tính chất đơn giản hơn nhằm đánh giá CLCS là vấn đề phát
triển con người. Theo UNDP, “phát triển con người” là quá trình nâng cao năng lực cho
các cộng đồng và cá nhân, sự gia tăng cơ hội cho mọi người để có thể tiếp cận với các điều
kiện sống, học tập tốt hơn. Phát triển con người phải đảm bảo tính bền vững, bình đẳng
và nâng cao vị thế của nó. Vấn đề phát triển con người được cải thiện sẽ là điều kiện cho
con người cải thiện cuộc sống của mình và tạo ra sự kết hợp các nguồn vật chất và nguồn
vốn con người có hiệu quả hơn.
Như vậy, có thể hiểu chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu
11


Chỉ số phát triển giới (GDI). Trong khuôn khổ đề tài này cho rằng chỉ số HDI là tổng hợp
và phù hợp nhất để đánh giá CLCS dân cư huyện Định Quán.
HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển của con người, phản ánh mức độ đạt được
12


những khát vọng chung của họ. Đó là có sức khỏe dồi dào, có tri thức và mức thu nhập cao.
Chỉ số HDI đo thành tựu của mỗi quốc gia trên ba lĩnh vực cơ bản:
 Một cuộc sống dài lâu và mạnh khỏe được đo bằng tuổi thọ trung bình dự kiến từ
lúc sinh.
 Kiến thức của dân cư được đo bằng tỉ lệ người biết chữ (với trọng số 2/3) và tỉ lệ
nhập học các cấp (tiểu học, THCS, THPT và Đại học với trọng số 1/3), cụ thể là:

G=

2a + b
3
Trong đó:

G: chỉ số phát triển giáo dục
a: tỉ lệ người lớn biết chữ (%)
b: tỉ lệ nhập học các cấp (%)
 Mức sống của con người được đo bằng tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic
Product – GDP) bình quân đầu người và điều chỉnh theo phương pháp sức mua tương
đương (Purchasing Power Parity – PPP), tính bằng USD.
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng
mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, trong một thời kỳ nhất định, thường là
một năm.
- Phương pháp sức mua tương đương (PPP) do Liên Hợp Quốc đưa ra cho phép có
sự so sánh chuẩn về giá trị thực tế giữa các quốc gia. Tại mức giá PPP, 1 USD có sức mua

người
lớn biết
chữ

Tỉ lệ
nhập học
các cấp

Chỉ số giáo dục
(I2)

Mức sống

GDP thực tế
bình quân đầu
người
(PPP/USD)

Chỉ số GDP
(I3)

Chỉ số phát triển con người
(HDI)
Hình 1.1 Chỉ số phát triển con người
(Nguồn: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên - 2007), Địa lí kinh tế xã hội đại cương, Nhà xuất
bản Đại học Sư phạm - Hà Nội).
Để tính được giá trị HDI, trước hết cần tính ba chỉ số thành phần: tuổi thọ, kiến thức và
thu nhập. Quy tắc chung để tính các chỉ số thành phần này là sử dụng các giá trị tối thiểu
và tối đa cho từng chỉ số theo công thức sau:
Giá trị thực – Giá trị tối thiểu


I1 + I 2 + I 3
3

Trong đó: I1: Chỉ số tuổi thọ I2: Chỉ số giáo dục I3: Chỉ số thu nhập
Bảng 1.2. Bảng xếp hạng một số quốc gia về HDI năm 2010 (trong 169 quốc gia)
Quốc gia

Xếp hạng

GDP/người Tuổi thọ trung

Tỉ lệ người

HDI

Na Uy

HDI
1

(PPP)
58 810

bình (năm)
81

biết chữ (%)
99


29 518

79,8

99

0,877

Singapore

27

48 893

80,7

95

0,846

Trung Quốc

89

7258

73,4

94


1201

67,5

58

0,428

Dambia

138

1359

47,3

71

0,395

(Nguồn UNDP 2010)
Chỉ số HDI cho thấy quốc gia nào có thu nhập cao, chính sách giáo dục và chăm
sóc sức khỏe dân cư tốt thì HDI sẽ cao, một số nước có thu nhập cao nhưng không
quan tâm đầy đủ tới việc nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe người dân thì vị trí HDI
sẽ giảm.
Một số quốc gia khác có mức thu nhập thấp nhưng chính phủ quan tâm đến y tế,
giáo dục nên giá trị HDI tăng lên.
Bảng 1.3. Các nước có thu nhập như nhau nhưng có sự khác nhau về HDI
Quốc gia


có giá trị từ 0,500 - 0,799

o Nhóm HDI cao:

có giá trị từ 0,800 - 1,000.

Trong số 169 quốc gia cung cấp số liệu để xây dựng HDI năm 2010, 42 quốc gia xếp
hạng rất cao, 43 quốc gia xếp hạng HDI cao, 42 quốc gia xếp hạng HDI trung bình, 42
quốc gia xếp hạng HDI thấp, trong đó Việt Nam xếp hạng 113 với giá trị 0,728.
Bảng 1.4. So sánh mức thu nhập và chỉ số HDI giữa các quốc gia năm 2010
Quốc gia

Giá trị HDI

GDP/người theo PPP

Kuwait

0,771

55 719

Croatia

0,767

16 389

Trung Quốc


sự bất bình đẳng, cung cấp các dịch vụ cho người dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
1.1.2.2. Chỉ số thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập là một phương tiện rất quan trọng để mở rộng sự lựa chọn của con người
và được sử dụng trong chỉ số HDI như một yếu tố phản ánh mức sống đầy đủ. Thu nhập
có tầm quan trọng nhất định trong việc quyết định khả năng con người sử dụng các
nguồn lực cần thiết để tiếp cận được với nhu cầu thiết yếu của con người và mang đến
16


nhiều lựa chọn hơn.
 GDP và GDP bình quân đầu người
Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều lựa chọn tiêu chí thu nhập bình quân
theo đầu người (GDP/người hay GNI/người hoặc GNP/người) là tiêu chí chính để đánh
giá chất lượng cuộc sống dân cư.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, không phân biệt người
trong nước hay người nước ngoài làm ra ở một thời kỳ nhất định, thường là một năm. GDP
là một trong 3 chỉ số đánh giá phát triển nhân bản HDI. Tổng sản phẩm trong nước thể
hiện số lượng nguồn của cải làm ra ở bên trong quốc gia, thể hiện sự phồn vinh và khả
năng phát triển kinh tế.
Vậy, GNI = GDP + nguồn thu từ nước ngoài – nguồn thu nhập phải chuyển cho người
nước ngoài. (Thu nhập từ nước ngoài do có vốn đầu tư ra nước ngoài, nguồn thu do người
lao động từ nước ngoài gửi về, thu nhập phải chuyển cho người nước ngoài do vốn đầu tư
của họ trong nước). Do đó, GNI là thước đo tổng hợp lớn của thu nhập quốc dân. GNI chỉ
rõ sở hữu và hưởng thụ được nguồn của cải làm ra.
GNI và GDP bình quân đầu người được tính bằng GNI và GDP chia cho tổng dân số
của quốc gia đó ở cùng thời điểm. Việc tính GNI/người và GDP/người có ý nghĩa rất
lớn, thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá khả năng và trình độ phát triển kinh tế và
mức sống của người dân ở từng nước.
Trên thế giới, ngoài GDP và GDP/người của mỗi nước được quy đổi sang USD quốc

Nhật Bản
Mexico
Nga
Brasil
Trung Quốc
Indonesia
Ấn Độ
Pakistan
Banglades

GDP thực tế
Tuổi thọ
Tỷ lệ biết chữ của
đầu người
trung bình
người trưởng thành
(USD)
(năm)
(%)
47.094
80
99
34.692
83
99
13.971
77
93
15.258
67

bao gồm:
- Thu từ tiền công, tiền lương.
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (đã trừ chi phí và thuế sản xuất).
- Thu từ sản xuất ngành nghề.
- Thu khác.
 Chỉ số nghèo đói
Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, thiếu thốn về thu nhập, về cơ
hội, về tài sản vật chất, thể chất cũng như tinh thần... gây cản trở cho sự phát triển một
cách đầy đủ mọi tiềm năng của con người.
Nghèo đói là một khái niệm đã được sử dụng từ rất lâu trên thế giới để chỉ mức sống
của một nhóm dân cư, một cộng đồng, một nhóm quốc gia so với mức sống của cộng
18


đồng hay các quốc gia khác.
Nghèo đói là không có khả năng đảm bảo được sức khỏe và cuộc sống, không có
khả năng có thể tiếp cận đến các nguồn tri thức, thu nhập thấp không được đảm bảo các nhu
cầu tối thiểu của cuộc sống như sử dụng nước sạch, không được tiếp cận dịch vụ khám
chữa bệnh, không được đảm bảo mức dinh dưỡng. Theo quan niệm trên, để đo lường một
cách tổng hợp tình trạng đói nghèo hiện nay người ta sử dụng chỉ số nghèo đói tổng hợp
HPI (Human Poverty Index). Chỉ số HPI được phân thành hai loại: HPI-2 dùng cho các
nước công nghiệp hóa và HPI-1 dùng cho các nước đang phát triển. Chỉ số HPI-1 được
tính dựa vào ba thước đo cơ bản là:
- Tính dễ tổn thương dẫn đến cái chết ở độ tuổi tương đối trẻ được đo bằng xác suất
không thọ quá 40 tuổi (P1).
- Sự bị loại trừ ra khỏi thế giới của những người biết chữ và có khả năng giao tiếp,
được đo bằng tỉ lệ người lớn mù chữ (P2).
- Sự thiếu khả năng tiếp cận với những thành quả kinh tế chung (P3) được đo lường
bằng ba biến số: tỉ lệ người dân không có khả năng tiếp cận với nguồn nước sạch (P31),
tỉ số người dân không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế (P32) và tỉ lệ trẻ em dưới 5

chung trên thế giới các nước phát triển xác định chuẩn nghèo dựa trên 1/2 thu nhập bình
quân còn các nước đang phát triển là 1/3 thu nhập bình quân.
Chuẩn nghèo tuyệt đối tức là chuẩn nghèo 1-2 USD/ngày/người. Chuẩn nghèo quốc
tế do Liên hiệp quốc công bố và quy định 2 USD/ngày/người cho các nước phát triển, 1
USD/ngày/người cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nước đang
phát triển cũng nâng dần chuẩn lên 2 USD/ngày/người.
Việc tồn tại đồng thời hai chuẩn nghèo với phương pháp tiếp cận và nội dung tính
toán khác nhau dẫn đến có sự khác biệt lớn về tỉ lệ đói nghèo trong một quốc gia. Vì vậy,
việc xây dựng chuẩn nghèo mới là có tính cấp thiết cần được thực hiện. Bộ LĐ-TB-XH,
Tổng cục thống kê và các cơ quan liên quan đã nghiên cứu đưa ra chuẩn nghèo thống nhất
cho cả nước. Tỉ lệ hộ nghèo được tính theo thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của hộ
gia đình.
Bảng 1.6. Chuẩn nghèo của Việt Nam qua một số giai đoạn từ 2002-2015
(VNĐ/tháng)
Loại hộ
Giai đoạn

Nông thôn

Thành thị

Trước 2002

149.000

2002 – 2004

160.000

2004 – 2006

Là một trong những chỉ số cơ bản nói lên CLCS, trình độ học vấn của mỗi nước phản
ánh mức độ phát triển của quốc gia và mức độ hưởng thụ dịch vụ giáo dục của dân cư.
20


Trình độ học vấn cao là điều kiện rất quan trọng để con người phát triển toàn diện, dễ
thích ứng với điều kiện phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật. Do đó, ngày nay trên
thế giới, nhiều quốc gia trên thế giới đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Chỉ số về giáo dục được dùng làm thước đo trình độ dân trí làm nên CLCS của dân
cư bao gồm các chỉ tiêu về tỷ lệ người lớn biết chữ, trình độ văn hóa và tay nghề, số năm
đến trường, tỷ lệ người mù chữ...
 Tỷ lệ người lớn biết chữ
Tỷ lệ người lớn biết chữ là tỷ lệ những người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết
thông thạo một đoạn văn đơn giản bằng tiếng quốc ngữ.
Tỷ lệ người lớn biết chữ có liên quan nhiều đến các chỉ số thu nhập và mức sống của
từng cộng đồng và từng quốc gia.
 Trình độ văn hóa và tay nghề
Trình độ văn hóa hay trình độ học vấn nói lên khả năng tích lũy kiến thức của khối
dân cư và được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ người lớn biết chữ, số người tốt nghiệp
các cấp học từ thấp đến cao. Trình độ tay nghề là trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực
lượng lao động chính trong khối dân cư được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ lực lượng
lao động có trình độ chuyên môn (sơ cấp, công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp,
cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) trong tổng số lao động đang hoạt động trong các
ngành kinh tế của đất nước.
Trình độ văn hóa và trình độ tay nghề luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau đồng
thời có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập của từng quốc gia. Các nước có nền kinh tế
phát triển thì các chỉ số phản ánh về trình độ văn hóa và trình độ tay nghề trong khối dân cư
thường rất cao, ngược lại ở các nước chậm phát triển thì các chỉ số này thường rất thấp.
Hiện nay, trình độ văn hóa và tay nghề của lực lượng lao động đang có sự chuyển

sống dân cư. Sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự phát triển. Việc chăm sóc
tốt sức khỏe sẽ làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng nhờ kéo dài tuổi thọ. Các quốc
gia trên toàn thế giới không chỉ quan tâm về mặt số lượng mà còn chú ý đến chất lượng
dân số, chất lượng nòi giống, trong đó có mục tiêu nâng cao thể lực cho con người.
Để đánh giá trạng thái sức khỏe và mức độ bảo đảm y tế cho dân cư của một quốc gia,
người ta thường sử dụng các tiêu chí như tỉ lệ người chết, tuổi thọ bình quân, tình trạng
dinh dưỡng, tỉ lệ người có bệnh, số bác sĩ, y tá - y sĩ trên 1 vạn dân, số giường bệnh trên 1 vạn
dân, ngân sách đầu tư cho y tế (% GDP và bình quân đầu người)...
 Tuổi thọ bình quân: Là số năm trung bình của một người có khả năng sống
được. Chỉ số tuổi thọ bình quân có liên quan chặt chẽ với tỉ lệ tử vong, đặc biệt là tử
vong ở trẻ em. Các phương pháp tính tuổi thọ trung bình:
- Phương pháp lập bảng sống và tính tuổi thọ trung bình dựa trên số liệu về người
22


chết và dân số chia theo độ tuổi (tỉ suất chết đặc trưng theo độ tuổi).
- Phương pháp hệ số sống giữa hai cuộc điều tra (sử dụng dân số chia theo độ tuổi
của hai cuộc Tổng điều tra dân số).
- Phương pháp ước lượng qua số liệu về tỉ suất chết của trẻ sơ sinh và bảng sống
mẫu. Mức độ chính xác của tuổi thọ tính theo phương pháp này phụ thuộc vào mức độ
chính xác của tỉ suất chết của trẻ sơ sinh và phải chọn được bảng sống mẫu phù hợp.
Tuy nhiên, do số trẻ chết dưới 1 tuổi và số trẻ sinh trong năm thường dễ thu thập nên tỉ
suất chết của trẻ sơ sinh có thể xác định tương đối chính xác. Vì vậy, phương pháp này
được các nước đang phát triển có trình độ thống kê yếu sử dụng một cách phổ biến.
Nhìn chung, khi thu nhập bình quân theo đầu người càng cao thì tuổi thọ trung bình
càng tăng. Trong những năm gần đây tuổi thọ đã tăng cao ở một số nước, nhưng đặc biệt
lại giảm mạnh ở một số nước mà nguyên nhân không chỉ do mức thu nhập thấp mà còn
do ảnh hưởng nặng nề bởi các bệnh tật gây tử vong, trong đó nơi ảnh hưởng nặng nề
nhất vẫn là các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia ở châu Phi.
 Các dịch vụ y tế: Các dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status