giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư huyện ninh phước tỉnh ninh thuận - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
______________________

Phan Thị Xuân Hằng
GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
______________________

Phan Thị Xuân Hằng

Thống kê huyện Ninh Phước, Phòng kế hoạch đầu tư, Phòng LĐ-TB-XH huyện Ninh Phước. Xin chân
thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường CĐ Sư Phạm Ninh Thuận, gia đình, đồng nghiệp, bạn hữu đã giúp đỡ,
động viên tôi hoàn thành luận văn này.
.

Tác giả
Phan Thị Xuân Hằng

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á
BQĐN : Bình quân đầu người
CBYT : Cán bộ y tế
CSYT : Cơ sở y tế
CLCS : Chất lượng cuộc sống
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
DTTS : Dân tộc thiểu số
GD-ĐT : Giáo dục - đào tạo
GDP : Tổng sản phẩm trong nước
HDI : Chỉ số phát triển con người
HDR : Báo cáo phát triển con người

Tuy nhiên, là một nước đang phát triển có thu nhập thấp; nguồn lực để thực hiện các MDG
còn bị hạn chế, mặt bằng dân trí chưa cao, chênh lệch mức sống và thu nhập, điều kiện sống của
người dân tại các khu vực, giữa đô thị và nông thôn còn lớn, nhất là đời sống của nhân dân vùng
sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số. Vậy liệu cơ hội tiếp cận các mục tiêu và thụ hưởng những
thành quả KTXH mang lại cho các vùng, các địa phương đã thật sự hiệu quả chưa khi điều kiện
sống của người dân vùng sâu, vùng xa, người DTTS còn chưa được cải thiện nhiều? (nếu so với tỷ
lệ nghèo đói trên toàn quốc giảm một nửa, thì đối với các DTTS tỷ lệ này chỉ giảm khoảng 15%).
Hơn nữa, ở nước ta mỗi địa phương có đặc thù riêng, có hoàn cảnh kinh tế xã hội, vị trí địa lý khác
nhau nên có mức độ tiếp cận và thực hiện các mục tiêu không giống nhau.
Ninh Phước là một huyện của tỉnh Ninh Thuận, khí hậu khô hạn và nắng nóng, có nhiều
đồng bào dân tộc sinh sống. Trong mười năm trở lại đây, với nhiều nỗ lực phấn đấu để hoàn thành
mục tiêu đề ra, huyện đã đạt được những thành tựu nhất định, nhất là nghèo đói đang giảm nhanh.
Theo các số liệu thống kê chính thức, CLCS của người dân địa phương đã được cải thiện thể hiện
qua thu nhập bình quân đầu người. Năm 2005, GDP bình quân đầu người đạt 5,2 triệu đồng, năm
2009 tăng lên 12,6 triệu đồng [22]. Các yếu tố chủ yếu tạo ra thay đổi này bao gồm hoạt động kinh
tế gia tăng, người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ y tế và giáo dục, cơ sở hạ tầng cũng như các lợi
ích khác do các chương trình giảm nghèo hiện nay mang lại. Tuy nhiên tình trạng nghèo đói và mức
sống cùng cực vẫn còn tồn tại trong huyện nói riêng và tỉnh Ninh Thuận nói chung. Hiệu quả đạt

được của các chương trình MDG, dự án xóa đói giảm nghèo tại huyện Ninh Phước chưa cao, chưa
tương xứng với tiền của và công sức bỏ ra, đặc biệt tình trạng đói nghèo của người dân vùng nông
thôn, vùng DTTS vẫn diễn ra phổ biến và trầm trọng. Nghiên cứu “Giải pháp nâng cao chất lượng
cuộc sống dân cư huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận” để phân tích những chỉ tiêu định lượng về
CLCS, qua đó nhận diện cơ hội tiếp cận và thực hiện các MDG của huyện, từ đó có những định
hướng phát triển và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục xóa đói giảm nghèo hiệu quả và
nâng cao CLCS của dân cư huyện Ninh Phước là nhu cầu bức xúc đặt ra hiện nay.
2. Mục tiêu - nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Thông qua nhận thức cơ sở lý luận về CLCS để vận dụng vào đánh giá
thực trạng CLCS của dân cư huyện Ninh Phước; từ đó làm cơ sở khoa học để đề ra những giải pháp
thích hợp nhằm nâng cao CLCS của dân cư huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận từ nay đến năm

1997-1998, 2001-2004, 2007-2008. Các cuộc điều tra này cung cấp những thông tin về thu nhập,
chi tiêu và các chỉ tiêu khác về mức sống hộ gia đình Việt Nam trong các năm 1993, 1998, 2004 và
2008. Mỗi một cuộc Tổng điều tra sẽ cho thấy rõ sự thay đổi mức sống của dân cư Việt Nam theo
thời gian và sự tiến bộ vượt bậc của Việt Nam trong việc giảm nghèo và nâng cao mức sống. Những
số liệu này chứng tỏ tính hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách ở các cơ quan phát triển của
cả chính phủ lẫn quốc tế. Tuy nhiên, các cuộc tổng điều tra này chỉ dừng lại trong việc khảo sát mức
sống của dân cư Việt Nam bằng những số liệu cụ thể, chưa đi sâu phân tích mức sống một địa
phương nào trên cả nước.
Đến những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu có sự quan tâm tìm hiểu đối với
mức sống, CLCS của dân cư một địa phương. Trước hết, phải kể đến nhóm tác giả của Viện Kinh tế
Tp.HCM tiến hành đề tài “ Diễn biễn mức sống dân cư và phân hóa giàu nghèo tại Tp.HCM”.
Nhóm tác giả này đã trình bày và đi sâu phân tích một cách rất cụ thể và chi tiết về việc làm, thu
nhập và chi tiêu của dân cư Tp.HCM, từ đó tác giả minh chứng cho sự phân hóa giàu nghèo ngày
càng rõ nét ở đô thị phát triển vào bậc nhất Việt Nam hiện nay. Đây được xem là công trình có tính
chuyên khảo đầu tiên về phân tích thực trạng mức sống dân cư ở một địa phương.
Xen kẽ giữa công trình của Viện Kinh tế Tp.HCM, còn phải kể đến các công trình nghiên
cứu đáng chú ý khác, đó là Đỗ Thiên Kính với “Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố học
vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam” vào năm 2003; PGS.TS. Đặng Quốc Bảo,
TS. Trương Thị Thúy Hằng (2005), “Chỉ số tuổi thọ trong HDI, một số vấn đề thực tiễn Việt Nam”;
PGS.TS. Đặng Quốc Bảo (chủ biên) (2008) “Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt
Nam”. Đây là những công trình quan trọng, được nhóm nghiên cứu các nhà Việt Nam tổng hợp từ
nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau về lĩnh vực
phát triển con người ở Việt Nam.
Bên cạnh cách tiếp cận mức sống của dân cư chủ yếu dựa trên đánh giá thu nhập BQĐN,
trong bối cảnh phát triển KTXH thời gian qua, một hướng nghiên cứu và tiếp cận khác đã được đặt

ra đó là xem xét sự thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống con người. Khoá luận tốt nghiệp thạc sĩ “Chất
lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Thuận-thực trạng và giải pháp” của Bùi Vũ Thanh Nhật có thể
được xem như một trong những công trình đầu tiên. Trong khoá luận, CLCS đã được nghiên cứu,
tìm hiểu trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển KTXH của tỉnh Bình Thuận. Cùng với

5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Như đã giới thiệu ở phần mở đầu, đề tài nghiên cứu dưới góc độ địa lý kinh tế-xã hội, phân
tích chính sách , nên ngoài phương pháp kiến tạo chỉ số theo hướng nghiên cứu định lượng do
UNDP đề xuất từ những năm 1990 như các chỉ số đo lường phát triển vĩ mô (cấp quốc gia và toàn
cầu) đã được xây dựng và sử dụng rộng rãi trong các bảng Báo cáo Phát triển Con người của UNDP
hàng năm như HDI (chỉ số phát triển con người), HPI (chỉ số nghèo con người), GDI (chỉ số phát
triển giới) .v.v thì các chỉ số trong luận án còn được xây dựng từ nguồn số liệu định lượng có được
nhờ công tác thống kê của địa phương. Đây là những số liệu tin cậy và khách quan mà bất cứ nhà
nghiên cứu nào cũng sử dụng.
Vì là đề tài nghiên cứu địa lý KTXH, nên các luận điểm có được đều chủ yếu dựa trên các
con số thống kê và sử dụng các phương pháp truyền thống của ngành địa lý học.
5.2.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích lý thuyết
Nhằm hiểu được cơ sở nền tảng của địa bàn và hoàn cảnh cụ thể nơi dân cư sinh sống; lý
thuyết ứng dụng liên quan đến luận văn. Chúng tôi đã sử dụng tư liệu sẵn có qua thu thập thông tin
từ các công trình nghiên cứu về CLCS và mức sống của nhiều nhà khoa học và những bài viết có
liên quan đến luận văn. Tác giả còn sử dụng nguồn thông tin từ cơ quan hành chính huyện, xã và
thông tin của từng làng thuộc huyện Ninh Phước, đặc biệt những nơi có người DTTS sinh sống.
Ngoài ra tác giả còn thu thập tài liệu qua sách báo, tạp chí, các văn bản, báo cáo, đặc biệt qua tư liệu
cá nhân viết tay của cán bộ nghiên cứu ở Phòng thống kê huyện Ninh Phước. Những nguồn trên là
tư liệu quý giá để chúng tôi phân tích thực trạng CLCS dân cư huyện Ninh Phước và đưa ra các giải
pháp.
5.2.2. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Nghiên cứu Địa lý kinh tế-xã hội không thể thiếu phương pháp bản đồ, biểu đồ. Những kết
quả có được như đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng theo ngành và theo lãnh
thổ nếu được phản ánh lên bản đồ, bằng biểu đồ sẽ được thể hiện cụ thể, trực quan và toàn diện
hơn. Thông qua đó sẽ dễ dàng so sánh, phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành CLCS giữa
các địa phương trong huyện.
5.2.3. Phương pháp thực địa
Thực địa là phương pháp nền của ngành Địa lý học. Tư liệu thu được bằng phương pháp thực
địa hiện nay được xem là nguồn tư liệu tốt nhất dành cho các tác giả muốn tìm kiếm một sự hiểu

hoạt động KTXH của mỗi quốc gia cũng như cả thế giới hướng tới. Do vậy, việc nâng cao CLCS
của con người đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của hầu hết các nước; và việc nghiên cứu các
giải pháp nhằm nâng cao CLCS dân cư trong thời đại hiện nay lại càng trở nên cần thiết. Vì vậy
công trình nghiên cứu về CLCS dân cư huyện Ninh Phước không chỉ mang nhiều ý nghĩa khoa học
mà còn có ý nghĩa thực tiễn cao.

Về mặt khoa học, góp phần nhất định vào việc làm rõ hơn những lý thuyết và quan điểm
đang được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu Địa lý Kinh tế-xã hội, mà đặc biệt là Địa lý nhân văn
và Địa lý dân cư.
Về mặt thực tiễn, những kết quả có được từ sự phân tích, đánh giá các dữ kiện trong đề tài hy
vọng sẽ có giá trị nhận thức và thực tiễn cao, đóng góp những ý kiến đề xuất và giải pháp cụ thể,
nhận định cho các ban ngành có liên quan của huyện Ninh Phước tham khảo và có chính sách phù
hợp với thực tế từng địa phương nhằm mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân.
Mặt khác, tuy rằng không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện, đề tài
“Giải pháp nâng cao CLCS dân cư huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận” là một nguồn tư liệu có hệ
thống, được thực hiện trên cơ sở có khoa học và thực tiễn, góp phần vào công việc nghiên cứu
chung về cuộc sống dân cư ở địa phương Ninh Thuận.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về CLCS dân cư ở các nước trên thế giới và Việt Nam
Chương 2. Thực trạng CLCS của dân cư huyện Ninh Phước.
Chương 3. Giải pháp nhằm nâng cao CLCS dân cư huyện Ninh Phước.


Bên cạnh đó, CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường. Một
cuộc sống sung túc là cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết, như cơ sở hạ tầng
hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ. Đồng thời con người phải được sống trong một
môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môi trường xã hội lành mạnh và
bình đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các vấn nạn xã hội. Do đó, CLCS là đặc trưng cơ bản của một
xã hội văn minh có trình độ phát triển cao về nhiều mặt.
Một khái niệm có tính chất đơn giản hơn nhằm đánh giá CLCS là vấn đề phát triển con
người. Theo UNDP, Phát triển Con người là quá trình nâng cao năng lực cho các cộng đồng và cá
nhân, gia tăng cơ hội cho mọi người có thể tiếp cận với các điều kiện sống, học tập, sáng tạo tốt
hơn. Tuy nhiên, quá trình phát triển và an sinh của con người không chỉ dừng lại là “mở rộng sự lựa
chọn cho con người được sống khỏe mạnh, được học hành và được hưởng một mức sống tốt” mà đã
vượt xa hơn, bao gồm nhiều nội dung, trong đó có quyền tự do chính trị, nhân quyền. Phát triển con

người phải đảm bảo tính bền vững, bình đẳng, và nâng cao vị thế của nó. Phát triển con người còn
có nghĩa là tạo điều kiện cho con người thực hiện sự lựa chọn cá nhân đồng thời tham gia vào, hình
thành nên và hưởng lợi từ các quá trình ở cấp hộ gia đình, cộng đồng và quốc gia – nghĩa là họ được
nâng cao vị thế.
Như vậy, vấn đề phát triển con người càng được cải thiện, một mặt nó sẽ là điều kiện cho
mọi người có thể cải thiện cuộc sống của riêng mình, và mặt khác (nhất là trong điều kiện kinh tế tri
thức hiện nay) điều này sẽ làm cho sự kết hợp các nguồn vật chất và nguồn vốn con người có hiệu
quả hơn.
Từ những cách hiểu và phân tích trên, tác giả quan niệm về CLCS như sau: Chất lượng cuộc
sống là một chỉ tiêu tổng hợp bao gồm trong đó mức độ thỏa mãn của cá nhân hay một cộng đồng
về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, là mục tiêu nhân bản hướng đến con người. Khi con
người được thụ hưởng CLCS tốt sẽ tạo điều kiện nâng cao vị thế của họ và đáp ứng sự phát triển
bền vững của quốc gia.
1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá CLCS
CLCS là một vấn đề định tính hơn là vấn đề định lượng, và đánh giá CLCS là một vấn đề
phức tạp, rất khó có chỉ tiêu nào có tính chất tổng hợp để đo lường và so sánh về CLCS. Phần dưới
đây chúng tôi đánh giá CLCS thông qua một số chỉ tiêu liên quan như thu nhập bình quân đầu

gia đối với sự cải thiện đời sống dân cư. Chỉ số này được đo lường dựa trên sự tính toán tổng hợp
các thành tựu ở 3 khía cạnh cơ bản của phát triển con người
– sống lâu và mạnh khỏe, tiếp cận với tri thức, và một mức sống tốt [32].
- Để tính được giá trị HDI, trước hết cần phải tính 3 chỉ số thành phần: tuổi thọ, kiến thức và
thu nhập. Quy tắc chung để tính các chỉ số thành phần này là sử dụng các giá trị tối thiểu và tối đa
cho từng chỉ số theo công thức sau:
Giá trị thực – Giá trị tối thiểu
Giá trị tối đa – Giá trị tối thiểu
Giá trị biên (tối đa – max và tối thiểu – min) của tuổi thọ, kiến thức và GDP/người thực tế
theo PPP là chung cho tất cả các nước, là giá trị quốc tế.
Bảng 1.1. Các giá trị quốc tế để tính chỉ số HDI
Chỉ tiêu
Max
Min
Tuổi thọ (năm)
Tỷ lệ người biết chữ (%)
Tỷ lệ nhập học các cấp (%)
GDP thực tế/người (PPP. USD)
85
100
100
40.000
25
0
0
100
Nguồn: Địa lý Kinh tế-xã hội Việt Nam
Việc tính chỉ số thu nhập có phức tạp hơn, được thống nhất tính theo công thức sau:
log (giá trị thực) – log (giá trị tối thiểu)
log (giá trị tối đa) – log (giá trị tối thiểu)

HDI

Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục, GDP và HDI đều nhận giá trị từ 0 đến 1. Giá trị của các chỉ số
này càng gần tới 1 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng càng cao (với 1 là thứ hạng cao nhất),
trái lại, các chỉ số càng gần 0 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng càng thấp [19].
Trong số 169 quốc gia cung cấp số liệu để xây dựng HDI cho năm 2010, 42 quốc gia xếp
hạng HDI rất cao; 43 quốc gia xếp hạng HDI cao; 42 quốc gia xếp hạng HDI trung bình, trong đó có
Việt Nam được xếp hạng 113 với giá trị 0,572 và 42 quốc gia xếp hạng HDI thấp.
Bảng 1.2. Một số xếp hạng quốc gia về HDI năm 2010 (trong số 169 quốc gia)
Quốc gia
Xếp
hạng
HDI
GDP đầu
người thực
tế (PPP)
Tuổi thọ
trung bình
(năm)
Tỷ lệ người lớn
biết chữ (%)*
Chỉ số
HDI
Na Uy
1
58.810
81
99
0,938
Hoa Kỳ

92
8.001
69,3
94
0,654
Việt Nam
113
2.995
74,9
93
0,572
Nêpan
138
1.201
67,5
58
0,428
Dămbia
150
1.359
47,3
71
0,395
Nguồn: UNDP, 2010, (*2008)
Chỉ số HDI cho thấy quốc gia nào có thu nhập cao, có chính sách giáo dục và chăm sóc sức
khỏe dân cư thích đáng thì vị trí HDI sẽ cao. Một số nước có mức thu nhập cao, nhưng không quan
tâm đầy đủ tới việc nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe dân cư thì vị trí HDI sẽ giảm đi. Một số
quốc gia khác, tuy mức thu nhập thấp nhưng do nhà nước quan tâm đến y tế, giáo dục nên giá trị
HDI tăng lên.
Có điều cần chú ý là mối quan hệ giữa các chỉ số thành phần tạo nên giá trị HDI ở mỗi quốc

4886
Inđônêsia
South Africa
0,600
0,597
3957
9812
Nguồn: HDR năm 2010.
Năm 2010, Trong HDR năm 2010, UNDP đã bổ sung thêm 3 chỉ số mới vào hệ thống các chỉ
số của HDR – Chỉ số Phát triển Con người có điều chỉnh khía cạnh bất bình đẳng, Chỉ số Bất
bình đẳng Giới, và Chỉ số Nghèo đa chiều. Các chỉ số tiên tiến này được lồng ghép những tiến bộ
mới đây trong lý thuyết và đo lường, khuyến khích việc đưa bất bình đẳng và nghèo đói trở thành
các vấn đề trung tâm trong khuôn khổ phát triển con người.
Những cách đo lường mới nêu trên đem lại nhiều kết quả và thêm cách nhìn nhận mới cho xã
hội, đó là cần tập trung hơn vào công tác xây dựng chính sách phát triển nhằm cải thiện sự bình
đẳng; vào công tác cung cấp các dịch vụ cơ bản cho người dân, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em.
1.1.2.2.Thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập là một phương tiện rất quan trọng để mở rộng sự chọn lựa cho con người và được
sử dụng trong chỉ số HDI như một yếu tố phản ánh mức sống đầy đủ. Thu nhập có vai trò trọng yếu
trong việc quyết định khả năng con người sử dụng các nguồn lực cần thiết để tiếp cận được với
lương thực, nơi ở và quần áo, và đem lại nhiều sự lựa chọn hơn.
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lựa chọn tiêu chí chính để đánh giá CLCS
dân cư là chỉ số thu nhập quốc dân tính bình quân đầu người (GNP/người hay GNI/người) hoặc tổng
sản phẩm quốc nội tính bình quân đầu người (GDP/người).

- Tổng sản phẩm quốc nội (viết tắt tiếng Anh GDP – Gross Domestic Product): là tổng sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia,
không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài làm ra ở một thời kì nhất định, thường
là một năm.
GDP là một trong ba chỉ số đánh giá phát triển nhân bản – HDI (cùng với chỉ số giáo dục và

GDP có tương quan chặt chẽ với các chỉ tiêu về CLCS, vì GDP lớn sẽ dẫn đến có một mức
sống cao hơn. Và trong thực tế, chúng ta cũng nhận thấy rõ điều này. Giữa những nước giàu và
nước nghèo có GDP bình quân đầu người chênh lệch rất lớn.
Bảng 1.5. Xếp hạng chênh lệch GDP giữa các nước giàu và nước nghèo năm 2010
Nước
GDP thực tế đầu
người (đô la)*
Tuổi thọ trung
bình (năm)
Tỷ lệ biết chữ của người
trưởng thành (%)**
Hoa Kỳ
47.094
80
99

Nhật
34.692
83
99
Mêhicô
13.971
77
93
Nga
15.258
67
100
Braxin
10.607

chúng cũng đem lại cho chúng ta những thông tin tương tự. Các nước với GDP bình quân đầu người
thấp thường có số lượng lớn trẻ em được sinh ra với trọng lượng thấp, tỷ lệ chết của bà mẹ, trẻ sơ
sinh và tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em cao và ít có khả năng tiếp cận nguồn nước uống an toàn,
những con đường trải nhựa và điện lưới quốc gia; có ít trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường
và những đứa trẻ đi học phải học trong các lớp đông học sinh hơn. Những nước này cũng ít được sử
dụng đồ dùng lâu bền (ti vi, điện thoại, internet v.v ). Không nghi ngờ gì nữa, các số liệu quốc tế
đã cho thấy rằng GDP của một quốc gia có liên quan chặt chẽ với mức sống của người dân nước đó.
1.1.2.3.Chỉ số về giáo dục
Giáo dục là một trong những chỉ số cơ bản nói lên CLCS. Trình độ học vấn của mỗi nước
phản ánh mức độ phát triển của quốc gia và mức độ hưởng thụ dịch vụ giáo dục của dân cư. Trình
độ học vấn cao là điều kiện rất quan trọng để con người phát triển toàn diện, dễ thích ứng với điều
kiện phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật. Vì vậy, ngày nay nước ta và nhiều nước trên thế
giới đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nâng cao CLCS
cho người dân.
Chỉ số về giáo dục được dùng làm thước đo trình độ dân trí làm nên CLCS của dân cư bao
gồm các chỉ tiêu về tỷ lệ người lớn biết chữ, trình độ văn hóa và tay nghề, số năm đến trường, tỷ lệ
người mù chữ.v.v

* Tỷ lệ người lớn biết chữ: là tỷ lệ những người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết thông
thạo một đoạn văn đơn giản bằng tiếng quốc ngữ. Tỷ lệ người lớn biết chữ có liên quan nhiều đến
các chỉ số thu nhập của từng cộng đồng và từng quốc gia [1].
* Trình độ văn hóa và tay nghề:
Trình độ văn hóa hay trình độ học vấn nói lên khả năng tích lũy kiến thức của khối dân cư và
được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ người lớn biết chữ, số người tốt nghiệp các cấp học từ thấp
đến cao. Trình độ tay nghề là trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động chính trong khối
dân cư được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn (sơ cấp,
công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) trong tổng số lao
động đang hoạt động trong các ngành kinh tế của đất nước.
Trình độ văn hóa và trình độ tay nghề luôn có mối quan hệ khắng khít với nhau đồng thời có
liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập của từng quốc gia. Các nước có nền kinh tế phát triển thì các chỉ

có bệnh, số bác sĩ, y tá - y sĩ trên 1 vạn dân, số giường bệnh trên 1 vạn dân, ngân sách đầu tư cho y tế
(% GDP và bình quân đầu người)
* Tuổi thọ bình quân:là số năm trung bình của một người có khả năng sống được.
Căn cứ vào tuổi thọ, người ta có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống,
mức thu nhập, điều kiện bảo vệ sức khỏe ở các nước khác nhau.
Chỉ số tuổi thọ bình quân có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ tử vong, đặc biệt là tử vong ở trẻ em.
Tỷ lệ tử vong của trẻ em phản ánh đầy đủ trình độ nuôi dưỡng và tình hình về sức khỏe nói chung
của trẻ em trên lãnh thổ quốc gia.
* Các dịch vụ y tế: Các dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và
CLCS. Các dịch vụ y tế làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả trong hiện tại lẫn tương lai. Các
tiêu chí phản ánh mức độ được đáp ứng về dịch vụ y tế như: số bệnh viện, trạm xá, số giường bệnh,
số cán bộ y tế/10.000 dân
Xu hướng chung hiện nay trên toàn thế giới là tỷ lệ tử vong của trẻ em ngày càng giảm. Song
tỷ lệ này còn chênh lệch khá lớn giữa các nước. Theo thống kê, tỷ lệ tử vong ở trẻ em sơ sinh trong
các nước đang phát triển cao gấp 6 lần các nước phát triển. Nói chung trình độ phát triển kinh tế xã
hội càng cao thì tỷ lệ tử vong ở trẻ em càng thấp, do đó tuổi thọ bình quân ở trẻ em càng cao. Tuổi
thọ bình quân có mối liên hệ mật thiết với GDP/người.
Các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân theo đầu người cao, có mức độ đầu tư
cho y tế cao và chăm sóc sức khẻo tốt, thì tuổi thọ trung bình sẽ tăng cao. Đối với các nước đang
phát triển, có thu nhập thấp thì tình hình ngược lại. Chi cho y tế ở các nước này chỉ bẳng 1/5 so với
các nước có thu nhập cao. Và các dịch vụ y tế rất ít, phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành
thị. Do đó, tuổi thọ bình quân của các nước có nền kinh tế phát triển luôn cao hơn các nước đang
phát triển khoảng 13 tuổi. Tuổi thọ trung bình của các nước đang phát triển là 66,1 tuổi.

Trong những năm gần đây tuổi thọ đã tăng cao ở một số nước, nhưng đặc biệt lại giảm mạnh ở
một số nước như Swaziland, Lesotho… mà nguyên nhân không chỉ do mức thu nhập thấp mà còn
do ảnh hưởng nặng nề bởi 3 nhóm bệnh phổ biến gây tử vong (là bệnh truyền nhiễm, bệnh hô hấp,
bệnh do ký sinh trùng chiếm gần nửa số nguyên nhân gây tử vong), nơi ảnh hưởng nặng nề nhất vẫn
là các quốc gia đang phát triển ở Châu Phi. Trong khi đó, ở những nước phát triển thì những bệnh
này được kiểm soát khá tốt.

trung bình
Zambia
1,927
45,5
Hoa Kỳ
3,744
78
Liberia
1,900
58
Portugal
3,741
78,5
Ethiopia
1,857
55
Greece
3,721
81,5
Tajikistan
1,828
66,5
Australia
3,673
81,5
Comoros
1,754
64,1
Italy
3,671

3,587
79,1
Nguồn: Encarta 2007
Nếu trong khẩu phần ăn ở các nước công nghiệp phát triển là 90g/ngày/người với 3.000 calo
trong đó có 50% là protein động vật thì ở các nước đang phát triển chỉ có chưa đến 60g/ ngày/ người
với 2.100 calo và 15% là protein động vật. Điều này đã và đang dẫn đến nạn suy dinh dưỡng trầm
trọng.
Chính có sự cách biệt trong thu nhập giữa các nhóm nước đã dẫn đến khoảng cách rất lớn về
nhu cầu dinh dưỡng cũng như các khía cạnh khác của con người như tuổi thọ trung bình (Bảng 1.6).
Tuy nhiên theo Tổ chức Lương Nông của Liên Hợp Quốc đưa ra lượng thức ăn tối thiểu cần
thiết để cung cấp khả năng lao động chân tay và trí óc có hiệu quả là 2.360 caolo/người/ngày, đây
được coi là khẩu phần vừa phải, là ranh giới cho sự nghèo đói. Như vậy, các nước đang phát triển ở
Châu Phi và Châu Á là các nước nghèo đói.
1.1.2.6.Điều kiện nhà ở và sử dụng điện, nước sinh hoạt
* Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt:
Vấn đề sử dụng năng lượng điện trong sinh hoạt cũng là yếu tố quan trọng tạo ra CLCS trong
thời đại hiện nay. Trong các tài liệu thống kê có thể cho thấy các chỉ tiêu sau đây phản ánh điều kiện
sử dụng điện: tỷ lệ các xã có điện; tỷ lệ số hộ dùng điện; số kw.h tiêu thụ tính bình quân một
người/tháng.
*Điều kiện sử dụng nước sạch:
Sử dụng nước sạch luôn là một nhu cầu bức thiết và cơ bản của con người. Đây là yếu tố
quan trọng để xem xét CLCS dân cư.
Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện nước sạch có ảnh hưởng tới CLCS là xét từ chỉ số tỷ lệ
người dân được sử dụng nguồn nước sạch (bao gồm nguồn nước máy, nước ngầm), nước khai thác
từ nguồn lộ thiên đã qua xử lý…
*Điều kiện nhà ở:
Khi đánh giá điều kiện nhà ở người ta thường căn cứ vào hai chỉ tiêu là diện tích nhà ở và
chất lượng nhà ở. Diện tích nhà ở thường được diễn đạt bằng chỉ số m
P
2

Bảng 1.7. Mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người trên thế giới năm 2004

Mức tiêu thụ điện
năng (kWh)
Mức độ điện khí
hóa (%) 2000 -2005

Khu vực Toàn thế giới
Các nước phát triển
Các nước đang phát triển
Các nước kém phát triển
2.701
8.795
1.221
119
76
100
68

Thu
nhập
Thu nhập cao
Thu nhập trung bình
Thu nhập thấp
10.210
2.039
449

Các nước giàu hơn vẫn tăng trưởng nhanh hơn các nước nghèo. Khoảng cách chênh lệch về thu
nhập giữa nhóm nước giàu và nhóm nước nghèo vẫn còn lớn (Năm 2006 khoảng cách này là 13,07
lần, năm 2008 tăng lên 26,4 lần). Kể từ năm 1980, bất bình đẳng về thu nhập đã gia tăng ở nhiều
quốc gia. Cứ mỗi quốc gia có sự cải thiện trong vấn đề bất bình đẳng thu nhập trong vòng 30 năm
qua thì có trên 2 quốc gia lại thụt lùi, đáng lưu ý nhất là các quốc gia thuộc Liên Xô cũ. Nguyên
nhân do mỗi nước có điểm khởi đầu khác nhau và tùy thuộc vào chính sách, thể chế và địa lý khác
nhau của từng nước nên có những bước tiến triển rất khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status