BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_____________________
Phạm Thị Hồng Duyên
ĐẶC ĐIỂM
THƠ VÀ TỪ ĐÀO TẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Hồng Duyên
ĐẶC ĐIỂM
THƠ VÀ TỪ ĐÀO TẤN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐOÀN THỊ THU VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
3.2.1. Thơ tứ tuyệt......................................................................................... 119
3.2.2. Từ khúc ............................................................................................... 127
3.3. Giọng điệu.................................................................................................. 133
3.3.1 Giọng trăn trở, cảm thương.................................................................. 134
3.3.2 Giọng châm biếm, phê phán ................................................................ 138
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 140
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 144
1
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Năm 1858, giặc Pháp chính thức nổ súng tấn công nước ta, bằng thủ đoạn
“tằm ăn dâu” nham hiểm, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng nhanh chóng chiếm
được sáu tỉnh Nam Kì. Trong lúc đất nước khốn nguy “Nước về Phú lãng lương
tiền cạn, Dân mắc cu li cốt nhục tàn”, chính quyền phong kiến nhà Nguyễn đã
chẳng hết lòng cùng nhân dân chống giặc lại còn vô cùng ươn hèn và khiếp nhược
khi liên tiếp kí các hiệp ước giao đất cho kẻ thù. Chẳng mấy chốc, giang sơn Việt
Nam hoàn toàn rơi vào tay giặc.
Trước sự xâm lăng của quân Pháp và sự đầu hàng của triều Nguyễn, tầng lớp
sĩ phu yêu nước đồng loạt nổi dậy lãnh đạo nhân dân chống giặc và chống chính
quyền. Trong không khí sục sôi nhiệt huyết cứu quốc đó, các văn sĩ chân chính đã
chọn cho họ những con đường đi khác nhau. Có người chọn con đường cứu nước,
cứu dân, sẵn sàng hi sinh tất cả vì sự nghiệp giải phóng quê hương như Trương
Định, Phan Bội Châu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Trọng
Trì… có người chọn con đường cáo quan về ở ẩn để giữ trọn khí tiết, kí thác bao
luyến tiếc cho giang sơn hào hùng một thuở vào thơ phú như Nguyễn Khuyến, Tú
của anh ta, vào những lời anh ta phát biểu đây đó, trong gia đình hay ngoài xã hội,
vào những tác phẩm chính luận nhưng “phần tư tưởng sâu kín và trung thực nhất
của anh ta, phần có sức thuyết phục nhất đối với người đọc lại nằm ngay trong tác
phẩm nghệ thuật”. Điều đó đúng với tất cả mọi nghệ sĩ và đúng với Đào Tấn. Vị
“trạng nguyên tuồng hát” (Nguyễn Hiến Dĩnh) ấy không có những tác phẩm chính
luận đanh thép, hùng hồn nhưng ông gói trọn tấc lòng ưu quân ái quốc, nỗi sầu
thương đất nước nô lệ, nhân dân cơ cực, lầm than trong rất nhiều kịch bản tuồng,
hàng trăm bài thơ, từ, văn biểu. Với hàng chục vở tuồng xuất sắc đã sáng tác, nhuận
sắc và những đóng góp to lớn cho sự phát triển nghệ thuật tuồng, Đào Tấn được
người đời yêu mến, kính trọng và tôn phong là hậu tổ của nghệ thuật hát bội.
Nhưng, bên cạnh vị thế tác giả xuất sắc của hàng chục kịch bản tuồng nổi tiếng, ông
còn được người đời xưng tụng với cương vị nhà thơ, “nhà viết từ khúc lỗi lạc” (Đỗ
Văn Hỷ). Tìm hiểu thơ và từ Đào Tấn, chúng ta không chỉ có cái nhìn trọn vẹn hơn
về con người, nhân cách, tư tưởng và tâm hồn “mai hoa” cao quý của nhà thơ, hiểu
3
thêm nỗi lòng, tâm trạng của một vị quan chính trực, có “đủ lương tri trí tuệ sáng
suốt để thấy rõ kẻ thù chủ yếu của mình nhưng bất lực và bế tắc trong một thời kì
hoàn toàn bế tắc” [52,231] mà còn thấy được bút pháp tinh tế, uyển chuyển, tài hoa
của tác giả khi sáng tác thơ ca và từ khúc. Đó cũng là lí do người viết chọn đề tài
“Đặc điểm thơ và từ Đào Tấn”.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Đào Tấn và sự nghiệp văn chương của ông đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu và không ít các bài phê bình, đánh giá. Đặc biệt, tháng 12
năm 1977, Ty Văn hóa và Thông Tin Nghĩa Bình đã tổ chức hội nghị khoa học
nghiên cứu nghệ thuật tuồng Đào Tấn để làm sáng tỏ thân thế và sự nghiệp của tác
giả, qua đó đánh giá toàn bộ con người và sự nghiệp của một nghệ sĩ lớn trót sinh
ngòi bút ông đều sinh động, đáng yêu như một tâm hồn quyến rũ” [16,443], thể hiện
“khối mâu thuẫn lớn trong ý thức hệ của bản thân tác giả” [16,446] Ngoài ra, còn
có một số nội dung được tác giả Thu Hoài nhắc đến như tình cảm bè bạn, tình cảm
với người vợ hiền. Trong phần cuối bản tham luận của mình, tác giả bài viết đã đưa
ra một nhận định về thơ và từ của cụ Đào: “Con người trong thơ chữ Hán của ông
đã bắt đầu có cá tính, thế giới nội tâm đã được miêu tả, tái hiện trung thực và đa
dạng. Trước kia Phạm Thái đã viết từ, song phải đến Đào Tấn, từ mới được sử
dụng một cách uyển chuyển tài tình” [16,449].
Cũng tại hội nghị khoa học nghiên cứu nghệ thuật tuồng Đào Tấn năm 1977,
tác giả Lê Xuân Lít đã trình bày những nghiên cứu của mình về nỗi lòng cụ Đào qua
những trang thơ và từ viết về đề tài mùa xuân. Trong bản tham luận “Mùa xuân
trong thơ và từ của Đào Tấn”, tác giả đã viết: “Đào Tấn mong đừng thay đổi ước
mơ hay đúng hơn là đừng thay lòng. Nhưng thực tại bộc con người lúc ấy phải thay
lòng, nếu không mọi ước mơ đều bị tan vỡ. Cái bi kịch của tâm trạng nhà thơ họ
Đào là chỗ ấy.” [26,433]
Nhà nghiên cứu Hồ Đắc Bích với bản tham luận “Đào Tấn qua thơ, từ và
kịch bản tuồng” (Kỷ yếu hội nghị Đào Tấn, nhà thơ, nghệ sĩ tuồng xuất sắc, Ty
Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình) cũng đã đưa ra một số ý kiến của mình về con
người và một vài nội dung cơ bản trong thơ và từ của Đào Tấn. Theo tác giả, “khi
được đi ra ngoài (ra khỏi bốn bức tường của thư phòng), được tiếp xúc với thực tế,
khi phải gánh vác vai trò phụ mẫu chi dân” tư tưởng của Đào Tấn đã có sự chuyển
5
đổi từ việc coi “ý vua là ý trời”, ca ngợi chính sách “dĩ hòa vi quý” của triều đình
trước thủ đoạn tằm ăn dâu của thực dân Pháp” sang băn khoăn, chông chênh với tư
tưởng trung quân. “Ông cảm thấy buồn cùng cái buồn của quê hương […] buồn cái
buồn của đất nước […] và Đào Tấn suy nghĩ về trách nhiệm của mình trước cảnh
đau buồn ấy” [3,169]. Tất cả những tâm sự, phiền muộn, những day dứt, trăn trở ấy
nước trước thảm kịch mới của lịch sử và nỗi buồn của đấng nam nhi chưa làm tròn
phận sự”. Ngoài ra, bài viết cũng điểm qua vài nét về nghệ thuật trong một số bài
thơ của cụ Đào: “Thơ Đào Tấn có nhiều bài như một bức tranh, một bức tranh có
một nét chấm phá. Người ta tổng kết thơ Trung Hoa có đặc điểm “thi trung hữu
họa”, có lẽ cũng đúng với nhà thơ họ Đào […] Nhân vật trữ tình trong thơ Đào Tấn
thường nói ít, im lặng nhiều. Dường như nhà thơ cố tình để “ý tại ngôn
ngoại””[62].
Trên tạp chí Sông Hương, số 104 (tháng 10), năm 1997, tác giả Đặng Hiếu
Trưng (cháu ngoại của Đào Tấn) đã đưa ra một vài ý kiến về thơ và từ của nhà thơ
họ Đào. Ở bài viết “Cảm nhận về tâm hồn và tài năng Đào Tấn qua thơ và từ của
ông”, tác giả đã nhận xét: “Về căn bản, dòng thơ ông Đào đẫm chất trữ tình. Ý thơ
buồn hơn vui, dòng thơ lãng mạn và đẹp đẽ của ông đã cống hiến cho người đọc,
người xem, người nghe những phút gần như xuất thần, […] những bài thơ hay như
những món bổ dưỡng tinh thần” [60]
Tác giả Trường Lưu với bài viết “Thơ Đào Tấn và nỗi lòng ưu thời mẫn
thế của ông (Qua tác phẩm Mộng Mai thi tập)” trên báo Văn nghệ Bình Định, Số
30 năm 2000 cũng đã đánh giá rất cao thơ Đào Tấn. Theo tác giả, nhiều bài thơ của
Đào Tấn đã “đạt đến chiều cao sâu của nghệ thuật ngôn từ” và qua việc tìm hiểu
“những gì trong kho tàng văn chương của ông được công bố, chúng ta bước đầu
thấy được tài nghệ và tâm sự của ông gửi gắm trong đó, và cảm động nhất là những
vần thơ ưu thời mẫn thế”.[28]
Ở mục “Đào Tấn” trong Từ điển Văn học (bộ mới), 2003, sau khi giới thiệu
sơ lược cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của cụ Đào, Nguyễn Lộc có bàn luận về thơ
và từ của ông. Tác giả viết: “Đào Tấn có một số bài thơ kín đáo ca ngợi những nhà
chí sĩ yêu nước chống Pháp lúc bấy giờ như Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Phan
Bội Châu. Nhiều bài thơ của ông nói lên nỗi buồn sâu lắng trước cảnh đất nước
ngày một rơi vào tay giặc mà mình vẫn bó tay, bất lực. Trong sáng tác thơ, Đào
7
8
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là các sáng tác thơ và từ của tác
giả Đào Tấn. Qua thơ và từ của Mộng Mai tiên sinh, luận văn hướng đến làm rõ
những nét cơ bản trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện của các sáng tác, đồng thời
góp phần khám phá vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao quý của tác giả.
Tài liệu khảo sát chủ yếu của luận văn là tập văn bản: Thơ và từ Đào Tấn,
Vũ Ngọc Liễn (chủ biên), Nguyễn Thanh Hiện, Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng,
Đỗ Văn Hỷ hiệu đính, Xuân Diệu giới thiệu, Hoàng Trung Thông bạt (Nxb Văn
học, Hà Nội, 1987)
4. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài Đặc điểm thơ và từ Đào Tấn, chúng tôi vận dụng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
− Phương pháp thống kê: phương pháp này được áp dụng để thống kê các nội
dung thường lặp đi lặp lại trong 110 bài thơ và từ của Đào Tấn. Kết quả thống
kê này cho phép người viết bước xác định được tâm trạng, những tình cảm,
suy tư, trăn trở chủ yếu của tác giả khi mượn thơ ca, từ khúc để ký thác nỗi
lòng.
− Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này được vận dụng nhằm
tiếp cận và khảo sát từng tác phẩm thơ và từ cụ thể, từ kết quả phân tích,
chúng tôi sẽ khái quát nên những luận điểm chính trong nội dung cũng như
nghệ thuật thể hiện của các tác phẩm.
− Phương pháp loại hình: Thơ của Đào Tấn là thơ cổ điển, mang những đặc
điểm của thơ chữ Hán (hàm súc, cô đọng, “ý tại ngôn ngoại”…), còn Từ thì
mang đặc điểm ngôn ngữ của thể loại từ (uyển ước, thanh tân, giàu nhạc
điệu). Luận văn sử dụng phương pháp loại hình nhằm xác định những điểm
gặp gỡ về nghệ thuật thể hiện của thơ, từ Đào Tấn so với thơ chữ Hán, từ
của nhà thơ cũng như tìm hiểu những tình cảm của ông với đất nước, dân tộc, với
gia đình, bằng hữu...
+ Chương 2: Những đặc điểm chính trong nội dung thơ và từ Đào Tấn
Ở chương hai, chúng tôi sẽ tập trung phân tích và chỉ rõ những đặc điểm
chính về nội dung của thơ và từ Đào Tấn, từ đó khám phá những miền tâm trạng ẩn
kín, những ưu tư, trăn trở trong suy nghĩ cũng như hiểu thêm nỗi lòng, tâm trạng
của một con người trung lương, chính trực.
+ Chương 3: Những đặc điểm chính trong nghệ thuật thơ và từ Đào Tấn
10
Trong chương ba, luận văn sẽ tìm hiểu những đặc điểm về mặt ngôn ngữ, thể
loại và giọng điệu của thơ và từ Đào Tấn. Việc phân tích những đặc điểm nghệ
thuật ở đây sẽ góp phần cùng với việc chỉ ra những đặc điểm nội dung làm sáng tỏ
con người, nhân cách, tư tưởng và tâm hồn thanh sạch của nhà thơ.
− Phần kết luận
− Danh mục tài liệu tham khảo
11
Chương 1: ĐÀO TẤN – CON NGƯỜI,
THỜI ĐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
1.1. Con người và thời đại
1.1.1. Con người
1.1.1.1. Thân thế
Đào Tấn tên thật là Đào Đăng Tấn, tự là Chỉ Thúc, hiệu là Mộng Mai và Tô
Giang, tiểu hiệu là Mai Tăng. Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm Ất Tỵ (1845) (năm
Thiệu Trị thứ 5), mất ngày rằm tháng 7 năm Đinh Mùi tức ngày 28 tháng 8 năm
ba người cao hứng làm thơ. Chuyện sẽ chẳng có gì nếu họ không kiêu căng, đắc ý,
không coi người xung quanh ra gì. Thấy điều chướng tai, gai mắt, cậu bé Đào Tấn –
khi ấy đang ngồi giúp mẹ quạt nước bên cạnh – liền lấy cây quạt lửa quạt lia quạt lịa
trước mũi. Một người khách thấy vậy bèn hỏi:
− Chú nhỏ biết làm thơ à?
Đào Tấn đáp:
− Biết chút chút.
Người khách lại nói:
− Vậy hãy vịnh Bát nước chè. Hễ hay thì thưởng tiền, dở thì đánh 10 cán quạt.
Đào Tấn nghĩ ngợi chốc lát rồi đọc:
Trên thời bọt nước lênh đênh nổi
Dưới lại con rồng dấp dới bay
Ba ông khách đều kinh ngạc, đang định lấy tiền thưởng thì cậu bé họ Đào ngăn lại
và đọc tiếp hai câu:
Mỗi chữ nghìn vàng cân mới xứng
Ba thầy một nhúm thấm chi khoe.
Nói xong bỏ chạy mất.
Lớn hơn một chút, Đào Tấn thường hay làm thơ, vè hài hước đem dán tại
chợ Gò Bồi để bài xích, giễu nhạo lũ cường hào, hương thân hay hà hiếp, sách
nhiễu dân lành. Năm Đào Tấn 18 tuổi, vua Tự Đức ban bố 10 điều răn (Thập điều)
để cải tạo tư tưởng, tổ chức xã hội và buộc nhân dân phải học tập. Hàng trăm nhân
khẩu làng Tùng Giản bị bắt đến đình làng nghe giảng những điều vô bổ, vừa mệt
vừa bất mãn song chẳng ai đủ can đảm lên tiếng phàn nàn. Một hôm, giữa chợ Gò
Bồi xuất hiện một bài thơ giễu như sau:
13
Thập điều là cái chi chi?
Hàng đêm nói mãi ra gì mà nghe!
vào đường công danh nên Đào Tấn đã cáo bệnh không đi cũng chẳng xin bổ quan.
Mãi đến năm 1871 (Tự Đức thứ 24), triều đình Huế mới xét lại danh sách cử nhân
còn chưa được bổ nhiệm để trưng tập, Đào Tấn được bổ vào Hàn Lâm Điển Tịch,
sung chức Hiệu thư ở Nội Các. Trong bốn năm thư rỗi ở quê nhà, Đào Tấn dành
phần lớn thời gian đi ngao du sơn thủy, thăm thú cảnh đẹp trong tỉnh đồng thời theo
đuổi văn chương và hát bội, tìm những người có học, có tài để kết bạn. Ông còn
thường cùng thầy học và các ca công rành nghề như ông bầu Thường (Quản ca
Thường), ông Mười Hiệp (Đội Hiệp)... trao đổi văn lý, tình lý, điệu nghệ…của nghệ
thuật hát bội, nhờ đó mà kiến thức về văn chương cũng như sự hiểu biết về tuồng
hát của Đào Tấn ngày một uyên thâm.
Khi còn ở Vinh Thạnh, lúc mới đậu cử nhân, Đào Tấn kết duyên cùng bà
Phạm Thị Trận. Trong suốt thời gian ông nhậm chức ở Kinh đô, bà ở lại quê nhà
Bình Định, thay ông phụng dưỡng mẹ cha. Sau đám tang cụ Đào Đức Ngạc, mặc dù
Đào Tấn muốn đưa bà cùng trở lại Huế để hưởng cuộc sống an nhàn nhưng người
vợ từ thuở tào khang ấy của ông từ chối. Bà nguyện ở lại quê nhà để coi sóc việc
khói hương, thờ phượng, lòng chẳng mơ phú quý, vinh hoa.
Trong thời gian làm quan ở Huế, Đào Tấn gặp hai người con gái tài sắc là bà
Tôn Nữ Ngọc Triêm và bà Tôn Nữ Nhuận Khanh (thường gọi là bà Diêu Tiên). Vậy
là, “Trai phong lưu Bình Định, Gái thanh lịch Thừa Thiên”, chẳng mấy chốc:
Ba sinh dù chẳng hương nguyền
Khuôn xanh sẵn mối lương duyên buộc ràng
Khi Đào Tấn được thăng Hiệp Biện Đại học sĩ và được phong Tử Tước thì
theo lệ của triều đình, vợ ông cũng sẽ được phong tặng tước hiệu. Tuy nhiên do bà
Phạm Thị Trận cảm thấy mình không thích hợp nhận lấy phẩm hàm quá cao nên từ
chối sắc phong Nhất phẩm mệnh phụ. Vinh dự ấy thuộc về bà Tôn Nữ Ngọc Triêm.
Lúc bấy giờ, do dư luận không hiểu nội tình nên chê bai Đào Tấn “đeo thói bạc của
kẻ giàu sang”, phụ bạc người vợ đã gắn bó với mình từ thuở hàn vi. Các vị túc nho
ở Bình Định cũng trách móc:
tuyệt (Thọ Diêu Tiên phu nhân ngũ thập sơ độ).
Theo tác giả của “Đào Tấn và hát bội Bình Định”, Đào Tấn có bốn người
con gái là bà Đào Thị Kim Anh, Đào Thị Kim Yến, Đào Thị Bích Tiên (tức Trúc
Tiên), bà Đào Thị Cẩm Cầu (tức Chi Tiên) và bảy người con trai. Ông Đào Bá
16
Quát, con bà Phạm Thị Trận, đỗ cử nhân nhưng mất sớm. Ông Đào Thụy Thạch đỗ
cử nhân, làm quan đến chức Án sát. Ông Thạch nổi tiếng hay chữ song cũng như
người anh trai cùng cha khác mẹ, ông mất khi chưa kịp thi thố tài năng với đời. Ông
Đào Nhữ Tuyên đỗ cử nhân, làm quan đến chức Án sát, sau khi về trí sĩ, ông được
phong Bố chánh. Ông Đào Nhữ Thuần đậu tú tài, làm ấm thọ và tri phủ Hàm Thuận
(nay là Bình Thuận). Ông Đào Nhữ Tiếu đỗ tú tài nhưng không ra làm quan. Ngoài
ra, Đào Tấn còn có hai người con trai nữa là Đào Khả Kiện và Đào Binh Thứ (tục
gọi là Ấm Bồ). Ấm Bồ tính nết đã hung hăng, diện mạo lại dữ tợn, thường hay cậy
quyền thế làm nhiều điều phi pháp. Để giữ gìn thanh danh cho Đào Tấn, người nhà
phải đem Ấm Bồ về Vinh Thạnh coi giữ nghiêm ngặt. Ấm Bồ ra đời khi Bồi Ba (tên
bồi Tây hống hách, hay ỷ thế chủ ức hiếp dân lành) bị Đào Tấn xử chém cho nên
dân gian thường truyền tai nhau rằng Ấm Bồ chính là do Bồi Ba đầu thai để báo thù
Đào Tấn. Khi nhắc đến người con trai này, bà Chi Tiên đã từng than thở rằng:
− Ấm Bồ là một cục bùn dơ ném vào dòng suối trong mát của họ Đào...!
Nhưng cuối cùng “bùn dơ đã trôi đi sạch, dòng suối trong mát họ Đào vẫn
trong mát nghìn thu” (Quách Tấn) bởi:
Thanh tuyền tế ẩm tri chân vị
Bất phụ nhân gian phất diệm truyền
(Nước suối trong uống từng ngụm nhỏ mới biết được chân vị
Chẳng phụ với người đời thì hương thơm mãi mãi truyền).
1.1.1.2. Quan nghiệp
Đào Tấn làm quan từ đời Tự Đức đến đời Thành Thái (1871 – 1904), kinh
còn vấn vương, day dứt với tư tưởng “trung quân” đã không còn phù hợp với hiện
thực mới của xã hội.
Năm 1874 (Tự Đức thứ 27), Đào Tấn được thăng Biên tu, sung chức Hiệu
thư, kế đó lĩnh chức tri phủ Quảng Trạch (Quảng Bình). Trong thời gian này, nhờ
làm việc trong Nội Các, được tiếp xúc với nhiều tập sách quý trong thư viện, vốn tri
thức của ông ngày càng thêm rộng mở. Vua Tự Đức cũng vì thế mà ưu ái ông hơn
dù khi ấy ông chỉ là một tiểu thần.
Trong những tháng ngày làm tri phủ Quảng Trạch, nhờ đức độ và nhân cách
cao đẹp của mình, Đào Tấn được nhân dân nơi đây hết lòng tôn kính, cảm phục.
18
Giữ chức tri phủ Quảng Trạch chưa lâu, đến năm 1876 (Tự Đức thứ 29), Đào
Tấn được triệu về kinh, thăng Thừa chỉ nội các, hai năm sau (1878) thăng Thị độc
học sĩ. Đây cũng là thời gian ông phụng chỉ sáng tác các vở tuồng: Tứ quốc lai
vương, Quần trân hiến thụy và viết tiếp vở Vạn bửu trình tường do Diên Khánh
vương chấp bút còn dang dở. Văn tuồng Đào Tấn lúc này chuyên chú hơn về mặt
văn chương thuần túy. Ba năm sau đó (1881), Đào Tấn được thăng Hồng lô tự
khanh nhưng vẫn chỉ là hữu danh vô thực. Năm 1882, Đào Tấn được lãnh chức
Thừa Thiên phủ doãn, không còn phải thuộc quyền quan trên như khi còn làm Hồng
lô tự khanh. Trong hai năm 1882 – 1883, ông phụ trách cai quản 6 huyện tỉnh Thừa
Thiên, lập nhiều công tích cho dân, cho nước, được triều đình tặng 3 chữ “Thanh,
Thận, Cần” (trong sạch, thận trọng, chuyên cần) và được vua Tự Đức phê tặng 4
chữ “bất úy cường ngự” (không sợ uy mạnh nhà vua).
Đầu xuân 1883, thế nước đã vô cùng nguy khốn. Mặc dù rất muốn cứu nguy
cho giang sơn nhưng vì lực bất tòng tâm, Đào Tấn chỉ đành đau lòng thở than cho
thời vận đất nước. Con người tận lực vì dân vì nước ấy tủi hổ vô cùng khi bản thân
hưởng lộc nước, chịu ơn vua mà không thể báo đền. Ít lâu sau, mượn cớ phụng
dưỡng cha mẹ già, Đào Tấn dâng sớ xin từ quan. Vua Tự Đức chẳng những không
giặc Pháp. Nhưng cuối cùng vì biết kẻ thù chẳng bao giờ để mình ở yên nơi núi
thẳm rừng sâu, hơn nữa mẹ già còn đó, phận làm con đâu thể buông xuôi, Đào Tấn
đành vâng chỉ về kinh. Đồng Khánh cho ông tái lĩnh chức Thừa Thiên Phủ doãn,
thăng hàm Quang lộc Tự khanh lại còn ban Thượng phương bảo kiếm, cho phép
ông được tiền trảm hậu tấu. Nhân cơ hội ấy, ông quyết tâm đem tài năng ra giúp
dân, giúp nước cho vẹn nghĩa sơ chung.
Trong thời gian Đào Tấn làm Phủ doãn ở Huế, có tên tay sai của viên Khâm
sứ Pháp (dân ta thường gọi là Bồi Ba) rất hống hách, ngang ngược, hay ỷ thế chủ hà
hiếp, sách nhiễu nhân dân, không coi triều đình, chính quyền sở tại ra gì. Các quan
lại ở Huế vì e ngại đụng chạm đến quan lớn của chính phủ Pháp nên đều kiêng dè
hắn, mặc cho hắn công nhiên lộng quyền. Người dân trong vùng bị hắn cưỡng bức,
bóc lột trắng trợn cũng chỉ đành im lặng, không dám hé môi phản ứng.
Biết chuyện, Thừa Thiên phủ doãn lặng lẽ cho người theo dõi Bồi Ba, hễ
thấy hắn ức hiếp dân lành, vi phạm luật pháp triều đình thì bắt ngay. Một hôm, vợ
20
Bồi Ba quen thói hiếp đáp dân lành, ngang nhiên đánh người giữa chợ Đông Ba.
Quan quân theo dõi bắt thị về phủ nhốt lại. Bồi Ba hay tin, hùng hổ dẫn người xông
đến phủ Đào công toan làm lộng thì bị tống giam. Y cho nô bộc về báo với chủ.
Viên Khâm sứ Pháp đến tận phủ đường ra mặt bênh vực. Lúc bấy giờ Đào Tấn mới
từ tốn luận tội của gã tay sai từ xưa đến nay. Viên khâm sứ biện minh:
−
Hiện thời còn một số người Việt Nam có não bài Pháp. Họ thấy tên Bồi Ba
trung thành với tôi nên ghét mà bịa đặt chuyện kia chuyện nọ, khiến ngài nghe trái
lẽ mà giận đó thôi, chớ hắn đâu dám làm chuyện phi pháp thế ấy.
Đào Tấn truyền lệnh dẫn Bồi Ba ra. Tên đầy tớ hống hách thấy chủ thân
Năm 1888 (Đồng Khánh thứ 3), Đào Tấn được thăng Tham tri Bộ Hộ, một
năm sau (1889 – Thành Thái nguyên niên), ông lĩnh chức Tổng đốc An Tịnh lần thứ
nhất. Trong thời gian làm Tổng đốc, ông rất chú trọng việc chăm lo cho bách tính,
cố gắng lựa chọn đường lối cai quản phù hợp để có thể làm cho nhân dân an cư lạc
nghiệp. Với những nhân sĩ cựu đảng Cần Vương, những học giả ưu tú, ông lấy tình
bằng hữu chân thành để kết giao. Với lê dân trăm họ, ông trải lòng phụ mẫu yêu
thương để đối đãi. Với những người nông nổi trót sa chân phạm tội ông lấy lượng
bao dung, nghiêm mà khoan để cải biến con người. Tình ấy, đức ấy của quan Tổng
đốc được đông đảo nhân dân, sĩ phu trong vùng hết lời ca ngợi.
Thời gian làm Phủ doãn Thừa Thiên cũng là thời gian người nghệ sĩ lớn
trong lốt ông quan to Đào Tấn được thỏa sở nguyện của mình. Nhậm chức Tổng
đốc chưa lâu, ông đã cho người lập rạp hát lấy tên là Như Thị Quan, mời tất cả các
danh ca Bình Định đưa ra đất Nghệ để vừa học nghề vừa diễn tuồng. Những lúc thư
rỗi, ông thường cùng con đọc sách, viết văn và tổ chức những đêm hát bội cho nhân
dân đến xem. Bên cạnh một Tổng đốc Đào Tấn hiền hậu, uy nghiêm, người ta còn
thấy một đạo diễn, một diễn viên Đào Tấn có tâm, có tài thực sự.
Năm 1894 (Thành Thái thứ 6), Đào Tấn về Thượng thư Bộ Công lần thứ
nhất, đến năm 1896 (Thành Thái thứ 8), ông đổi qua Binh Bộ Thượng thư. Qua năm
sau, ông giữ chức Hình Bộ Thượng thư. Tháng 5 năm ấy, cụ bà thân sinh ông mất
tại Kinh thành Huế, ông được cho về chịu tang mẹ.
Tháng 3 năm 1898 (Thành Thái thứ 10), Đào Tấn được thăng Hiệp biện đại
học sĩ, lãnh chức Nam Nghĩa Tổng đốc. Tại đây ông kết thâm giao với nhiều nhân
sĩ ưu tú như Nguyễn Thuật, Nguyễn Thành, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh...
Tám tháng sau ngày nhậm chức Tồng đốc Nam Nghĩa, Đào Tấn được đổi
sang làm Tổng đốc An Tịnh lần thứ hai, nắm quyền tiết chế trong tay, triều thần đều
nể trọng. Lần này, ông quảng giao không còn dè dặt nữa.