Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------- ---------
NGUYỄN THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN
CỦA CÂY DẺ GAI ẤN ĐỘ (CASTANOPSIS INDICA A.D.C)
TẠI VƢỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO - VĨNH PHÚC CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. NGÔ QUANG ĐÊ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Lời nói đầu
Trong nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững của các
Vườn Quốc gia, việc bảo tồn các thực vật quý hiếm và có nguy cơ bị đe doạ giữ
một vị trí quan trọng đặc biệt không chỉ về mặt khoa học mà còn liên quan toàn
diện, lâu dài đến sự tồn tại và phát triển của các Vườn quốc gia.
Để góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật Vườn quốc gia Tam Đảo có
hiệu quả, nhất là nguồn gen quý hiếm và có nguy cơ đe doạ, tôi chọn đề tài luận
văn thạc sĩ “ Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Dẻ gai Ấn
Độ (Castanopsis Indica A.D.C) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo”.
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của GS. TS Ngô Quang Đê
trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, cùng với sự giúp đỡ của PGS. TS Đặng
Kim Vui và các thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, TS Hà Huy Thịnh Viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam và cán bộ
8
Chƣơng 2 – MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....
15
2.1 Mục tiêu nghiên cứu……………………………………………………..
15
2.1.1 Về mặt lý luận…………………………………………………………
15
2.1.2 Về mặt thực tiễn………………………………………………………... 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………….. 15
2.3 Nội dung nghiên cứu……………………………………………………... 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 16
2.4.1 Quan điểm về phương pháp luận………………………………………. 16
2.4.2 Phương pháp xác định vị trí nghiên cứu.................................................. 17
2.4.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu..................................................... 18
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU.........
30
3.1 Đặc điểm tự nhiên....................................................................................... 30
3.1.1 Vị trí địa lý, đất đai nơi có Dẻ gai Ấn Độ tái sinh phân bố.....................
30
3.1.2 Khí hậu, thủy văn....................................................................................
31
3.1.3 Đặc điểm về tài nguyên thực vật rừng....................................................
32
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội.............................................................................
34
3.2.1 Dân cư và lao động……………………………………………………..
34
3.2.2. Đời sống kinh tế......................................................................................
36
3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất…………………………………………………. 36
3
...................................................................
74
4.5.1 Điều kiện gây trồng cây Dẻ gai Ấn Độ.................................................... 74
4.5.2 Một số biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên cho cây Dẻ gai Ấn Độ........... 75
Chƣơng 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ TỒN TẠI............................................
76
5.1 Kết luận....................................................................................................... 76
5.2 Tồn tại......................................................................................................... 77
5.3 Kiến nghị…………………………………………………………………. 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ BIỂU…….....................................................
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
DANH MỤC BẢNG
Trang
Chƣơng III: Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu
Bảng 3.1 Các nhóm giá trị sử dụng 33
Bảng 3.2 Cơ cấu các loại đất vùng đệm VQG Tam Đảo 36
Chƣơng IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Bảng 4.1 Nhiệt độ (T) và lượng mưa (P) trung bình ở 2 khu vực 41
Bảng 4.2 Đặc điểm đất nơi có Dẻ gai Ấn Độ phân bố 42
Bảng 4.3
Tổ thành loài cây cao trạng thái rừng IIIA
2
46
Bảng 4.4 Tổ thành loài cây cao trạng thái rừng IIIA
Bảng 4.20 Đặc điểm tầng cây bụi thảm tươi 71
Bảng 4.21 Phân bố tần suất xuất hiện Dẻ gai Ấn Độ tái sinh xung quanh
gốc cây mẹ
73
Bảng 4.22 Cấp chất lượng tái sinh 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ ẢNH
Trang
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Phân bố số n/D
1.3
của 2 khu vực 58
Đồ thị 4.2 Phân bố số n/H
vn
của 2 khu vực 59
DANH MỤC ẢNH
Hình 4.1 Hình thái thân Dẻ gai Ấn Độ 38
Hình 4.2 Hình thái lá Dẻ gai Ấn Độ 39
Hình 4.3 Hình thái quả Dẻ gai Ấn Độ 40
Hình 4.4 Cành và quả Dẻ gai Ấn Độ 40
Hình 4.5 Thân Dẻ gai Ấn Độ 40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Bộ NN&PTNT
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
GIẤY XÁC NHẬN
(Về việc thực tập cuối khoá)
Kính gửi: Ban giám đốc Đại học Thái Nguyên
Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm
Khoa đào tạo sau đại học
Vườn Quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc xác nhận học viên Nguyễn Thị
Thu Trang, lớp CH14 Lâm học, Trường Đại học Nông Lâm đã hoàn thành đợt
thực tập cuối khóa tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, thời gian thực tập từ ngày
1/1/2008 đến ngày 01/1/2009.
không hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng và chất
lượng. Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che
phủ khoảng 43%. Đến năm 1999, theo số liệu thống kê chỉ còn 10,9 triệu ha
rừng, trong đó 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng với độ che
phủ tương ứng là 33,2%. Do vậy, việc tái sinh tự nhiên là một trong những biện
pháp và nhiệm vụ quan trọng.
Vườn Quốc gia Tam Đảo được thành lập theo quyết định 194/CT của Chủ
tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) với tổng diện tích là 36.883 ha. Tam
Đảo là phần cuối của dãy núi cánh cung thượng nguồn sông Chảy. Tam Đảo như
bức bình phong chắn gió mùa đông bắc cho vùng đồng bằng, gồm trên 20 mươi
đỉnh núi với độ cao trên 1000m. Cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc (1592m), vùng
trung tâm có 3 đỉnh: Thiên Thị (1375m), Thạch Bàn (1388m) và Phù Nghĩa
(1300m), sườn núi dốc, địa hình chia cắt mạnh. Sự phức tạp của địa hình, hướng
phơi, độ cao, khí tượng thủy văn, mức độ tác động của con người khác
nhau…cùng với đặc tính sinh vật học của từng loài cây đã tạo cho Tam Đảo có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
một hệ thực vật hết sức phong phú và đa dạng. Theo số liệu thống kê cho thấy
đã phát hiện ở đây 1288 loài thực vật bậc cao thuôc 179 họ, 660 chi nằm trong 3
ngành Dương Xỉ, Hạt trần và Hạt kín trong đó có nhiều loài được thu thập mẫu
và lần đầu tiên được mô tả ở Tam Đảo, 38 loài mang nguồn gien quý hiếm nguy
cấp cần ưu tiên bảo tồn [6]. Điều này đã nói lên tính đa dạng về số loài, số chi,
số họ và tầm quan trọng của hệ thực vật Tam Đảo.
Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu, đánh giá thành phần loài,
tính đa dạng thực vật tại Tam Đảo diễn ra tương đối mạnh mẽ. Tuy nhiên, các
công trình đó mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu sâu về đặc
điểm tái sinh, thành phần loài, sự phân bố và giá trị của từng họ từng loài.
Dẻ Gai Ấn Độ (Castanopsis indica A.D.C) thuộc Họ Dẻ (Fagaceae) là
một họ lớn gồm rất nhiều loài. Ở Việt Nam có 5 chi khoảng 120 loài, hầu hết là
cây thân gỗ. Họ Dẻ nói chung và loài Dẻ Gai Ấn Độ nói riêng không những có
tạo. Nhưng từ những thất bại tái sinh rừng nhân tạo ở Đức nhiều nhà khoa học
ủng hộ và đồng nhất quan điểm “Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên”.
Khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới, Van steenis.J (1956)[59]
đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến: Tái sinh phân tán liên tục của các loài cây
chịu bóng và kiểu tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng. Ngoài ra theo nhận xét
của A. Obrevin (1938) khi nghiên cứu các khu rừng nhiệt đới ở Châu Phi, còn
đưa ra lý luận bức khảm hay lý luận tái sinh tuần hoàn.
Đặc điểm tái sinh rừng được nhiều nhà lâm sinh quan tâm đến là thế hệ
cây tái sinh có tổ thành giống hay khác biệt với lớp cây mẹ, Richards,P,W
(1965)[57].
Ở rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích quá lớn, nên
kinh doanh tất cả các loài cây đó rất có thể mang lại hiệu quả mong muốn.
Trong thực tiễn lâm sinh, người ta chỉ khảo sát những loài cây có giá trị kinh tế
và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập những nguyên nhân ảnh
hưởng tới tái sinh tự nhiên và có thể chia thành hai nhóm tác động chính:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
a. Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh rừng không có sự
can thiệp con người.
Nhân tố sinh thái được nhiều tác giả quan tâm và tìm hiểu là sự thiếu hụt
ánh sáng của cây con dưới tán rừng. Nếu ở trong rừng, cây con chết vì thiếu
nước thì cũng không nên loại trừ do thiếu ánh sáng. Trong rừng mưa nhiệt đới,
sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển cây con, còn đối với sự
nảy mầm và phát triển mầm non thường không rõ (Baur G, N 1962)[2].
Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên (TSTN) của rừng, các tác giả nhận định
tầng cây cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng tới cây tái sinh các loài cây gỗ. Ở quần thụ
kín tán, tuy thảm cỏ phát triểm kém nhưng cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng
của chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh. Những lâm phần đã qua khai thác,
thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ sẽ trở ngại lớn cho tái sinh rừng. Ngoài
cạnh cấu trúc, độ dày, độ khép tán, tuổi lâm phần.
b. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con
người:
Đó là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm tác động có mục
đích vào các lâm phần rừng tự nhiên. Từ các xử lý lâm sinh tác động vào các
loài cây tái sinh mục đích, các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều
phương thức chặt tái sinh điển hình như: Công trình của Kennedy (1935), Taylor
(1954), Rosevear (1974) ở Nigiêria và Gana (1960) ở Xurinam với phương thức
chặt dần tái sinh dưới tán lá, Brooks (1941), Ayolife (1952) với phương thức
chặt dần nhiệt đới ở Trinidat, Wayatt Smith (1961, 1963)[62] với phương thức
chặt rừng đều tuổi ở Malaysia, Donis và Maudouz (1951, 1954) với phương
thức đồng nhất hóa tầng trên ở Zava.
Catinot (1974) một chuyên gia hàng đầu về lâm sinh nhiệt đới với nhiều
thập kỷ kinh nghiệm ở rừng nhiệt đới Châu Phi, khi áp dụng các biện pháp lâm
sinh cho rừng tự nhiên, ông rất quan tâm đến lớp cây tái sinh phía dưới tán rừng.
Ông cho rằng các nhà lâm sinh nhiệt đới sẽ không hoàn thành trách nhiệm của
mình nếu họ chỉ thay thế rừng tự nhiên bằng các khu rừng trồng Thông và Bạch
Đàn, ông cũng cho rằng bắt buộc phải làm, tuyệt đối cần thiết là tìm ra phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
pháp cho phép sử dụng các hệ sinh thái nguyên sinh vốn có của nhiệt đới một
cách có hiệu quả mà không phá vỡ nó.
Theo quan điểm như vậy, Rovet (1984) đã đưa ra những yêu cầu tối thiếu,
bắt buộc các giấy phép khai thác rừng phải thể hiện được cụ thể là: muộn nhất là
2 năm trước khai thác phải tiến hành điều tra kết hợp với chặt bỏ dây leo cây
bụi; chỉ được khai thác những lâm phần có ít nhất 10 - 15 cây thuộc loại giá trị
kinh tế có D
1.3
≥ 60cm và phải có tái sinh đạt yêu cầu; phải để lại ít nhất 5 - 7
cây mẹ gieo trồng có kích thước lớn, phân bố đều trên diện tích; trong trường
tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. Phương pháp này được áp dụng nhiều
hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng rừng cụ thể.
Về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới. M.
Loeschau (1977)[43] đã đưa ra một số đề nghị như: để đánh giá một khu bằng
cách rút mẫu ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét
tổng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn. Các số liệu
này sẽ là cơ sở cho các quyết định trong từng kế hoạch lâm sinh cụ thể, đặc biệt
là xét lâm phần có xứng đáng được chăm sóc hay không? việc chăm sóc cấp
bách đến mức độ nào? cường độ chăm sóc phải ra sao? Tác giả cũng đề nghị
những chỉ tiêu cần phải điều tra gồm có mật độ, chất lượng cây tái sinh cũng
như đường kính ngang ngực của những cây có giá trị kinh tế lớn trong khoảng từ
1 cm (cây tái sinh đã đảm bảo) đến 12,6 cm (giới hạn dưới của kích thước sản
phẩm).
Từ những tính toán về mặt sai số cũng như về mặt tổ chức thực hiện thì
các ô được chọn là những hình vuông có diện tích là 25 m
2
dễ dàng xác lập bằng
gậy tre. Tất cả những cây tái sinh của những loài có giá trị kinh tế (đường kính
gốc = 1 ÷ 2,5 cm) có nguồn gốc hạt và thân thẳng đẹp sẽ được đếm và đo hay
ước lượng đường kính theo hai cấp 1 - 5cm và 5 - 12,5cm. Các ô đo đếm được
xác lập theo từng nhóm, mỗi nhóm gồm 4 ô, bố trí liên tiếp theo kiểu phân bố hệ
thống không đồng đều. Như vậy các ô vừa đại diện được đầy đủ toàn bộ khu vực
điều tra, mặt khác những nhân tố điều tra vừa có dạng gần với phân bố chuẩn.
Nhìn chung những kết quả nghiên cứu về tái sinh rừng ở trên đã làm sáng
tỏ phần nào các đặc điểm tái sinh, các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh và những
nguyên lý chung để xây dựng phương thức xúc tiến tái sinh rừng. Tuy nhiên
những nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới nói chung vẫn chưa thật đầy đủ hệ
thống cho từng loại rừng cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
phần chính của một loại hình phải có số lượng cá thể bằng hoặc lớn hơn
X
. Đây
là một cách đánh giá thuận tiện trong khi phân tích nghiên cứu phân bố các loài,
diễn thế và sự phân bố các quần lạc thực vật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Vũ Đình Huề (1975)[29] kết luận: Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt
Nam có đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới. Trong rừng nguyên sinh tổ thành
cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm
kém giá trị. Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đều
trên mặt đất rừng. Từ những kết quả trên tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá
tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta.
Phùng Ngọc Lan (1984)[36] đã nghiên cứu về bảo đảm tái sinh trong khai
thác rừng, tác giả cho biết do cây mẹ có tính chịu bóng, cho nên một số lượng
lớn cây tái sinh phân bố chủ yếu ở cấp chiều cao thấp, trừ một số loài cây ưa
sáng cực đoan, tổ thành loài tái sinh dưới tán rừng ít nhiều đều lặp lại giống tổ
thành tầng cây cao của quần thể. Kết quả điều tra khu rừng chưa khai thác ở
Tam Tấu, Lâm trường Bắc Sơn - Lạng Sơn cho thấy có gần 30 loài tái sinh với
số lượng từ 14.000 - 16.000 cây/ha. Điều đó chứng tỏ tiềm năng phong phú của
tái sinh rừng ở nước ta, tác giả cũng đã nhận xét phương thức khai thác có ảnh
hưởng quyết định đến tái sinh rừng và thực tiễn đã cho thấy: Thông qua việc xác
định tổ thành loài cây giữ lại gieo giống, điều tiết độ khép tán hợp lý không chỉ
có tác dụng điều khiển số lượng, chất lượng tái sinh mà còn điều khiển được tổ
thành loài cây tái sinh phù hợp với ý muốn và tác giả cũng đã đưa ra đề nghị.
Nếu số lượng và chất lượng cây mục đích tái sinh hiện có không đủ thì cần tiến
hành trồng dặm để đảm bảo trữ lượng cho các luân kỳ khai thác tiếp theo và
phương án tối ưu là lựa chọn những loài cây mục đích phù hợp với loài cây ưu
thế của quần thể vì nguồn giống có nhiều và đã thích hợp với hoàn cảnh sinh
thái.
hệ số tổ thành tầng cây tái sinh cũng vậy và chúng có quan hệ đường thẳng theo
phương trình: n% = a + b.N% (với n% và N% lần lượt là hệ số tổ thành tính theo
phần trăm số cây của tầng tái sinh, tầng cây tự nhiên và tác giả có đưa ra đề
nghị: Do khó nhận biết tên cây của tầng tái sinh nên có thể sử dụng quan hệ giữa
hệ số tổ thành tầng tái sinh và tầng cây cao để xác định hệ số tổ thành tầng tái
sinh.
Nguyễn Duy Chuyên (1995)[10] đã nghiên cứu quy luật phân bố cây tái
sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu - Nghệ An: Kết
quả nghiên cứu về phân bố cây tái sinh theo chiều cao, nguồn gốc và chất lượng,
tác giả cho biết trong tổng số 13.657 ô đo đếm có 8.444 ô có ít nhất một cây tái
sinh. Thống kê tập hợp số lượng cây này theo chiều cao, nguồn gốc và chất
lượng tác giả cho thấy 35% cây tái sinh có chiều cao từ 2m trở lên, 80% cây tái
sinh có nguồn gốc hạt, 20% cây chồi, 47% cây tái sinh chất lượng tốt, 37%
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
cây tái sinh có chất lượng trung bình và 16% cây chất lượng xấu. Phân bố tổ
thành cây tái sinh tác giả cho thấy cây tái sinh tự nhiên trong khu vực gồm 46
loài thuộc 22 họ. Trong đó có 24 loài cây có giá trị kinh tế và 22 loài cây có giá
trị kinh tế thấp, Ràng ràng và Máu chó là 2 loài có tần số xuất hiện thực tế lớn
nhất trên 20%. Về phân bố số lượng cây tái sinh tác giả cho thấy ở rừng giàu, có
chất lượng tốt (rừng loại IV và IIIB) có số cây tái sinh lớn nhất (3.200 - 4.000
cây/ha). Ở rừng nghèo số cây tái sinh chỉ có 1.500 cây/ha (rừng IIIA
1
), trong
rừng thuần tre nứa số cây lá rộng tái sinh tự nhiên thấp nhất 527 cây/ha. Trong
toàn lâm phần phân bố lý thuyết của cây tái sinh tự nhiên ở rừng trung bình
(IIIA
2
) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Possion, các loại rừng khác cây tái
sinh có phân bố cụm.
Trám, Sồi phảng, Sau sau, Lõi thọ,…phát triển thành cây tái sinh có triển vọng
(H ≥ 1,5m). So với các vùng khác, vùng Đông Bắc có khả năng tái sinh tự nhiên
tốt. Đối với các vùng Bắc Trung Bộ tác giả nhận xét tái sinh tự nhiên ở vùng này
khá thuận lợi và đây là vùng có tái sinh tự nhiên tốt nhất ở miền Bắc nước ta. Số
lượng cây tái sinh từ 7.000 ÷ 10.000 cây/ha, trong đó 25% là số cây có triển
vọng trở thành gỗ lớn, rừng IIIA
1
nghèo tái sinh nhất là ở Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình cũng đạt được đến 4.000 ÷ 5.000 cây/ha với số cây triển vọng từ
1.000 ÷ 1.200 cây/ha, về chất lượng tỷ lệ cây gỗ tái sinh xuất hiện với tần suất
cao.
Lâm Công Định (1987)[18] trong nghiên cứu về tái sinh, ông cho rằng tái
sinh là chìa khóa để quyết định nội dung điều chế rừng. Tác giả kết luận hiệu
quả của việc điều chế đối với một khu rừng cụ thể là phải hướng tới đạt được 3
yêu cầu mấu chốt sau đây: 1- Giữ vững được vốn rừng về cả mấy mặt hiện tại
trong đó: Địa bàn, diện tích, thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học,
sản lượng, phẩm chất vật liệu và giá trị môi sinh. 2 - Đảm bảo được sản lượng
khai thác hàng năm theo chu kỳ ổn định. 3 - Nâng thêm được giá trị vốn rừng
chủ yếu về 3 mặt: Thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học và sản
lượng thu hoạch. Ông nhấn mạnh tất cả 3 yêu cầu trên hoàn toàn tùy thuộc vào
khả năng phương pháp và điều kiện đảm bảo tái sinh. Nghĩa là cuối cùng tùy
thuộc vào đặc tính sinh học của từng loài cây, quy luật lâm học của rừng, hiệu
lực tác động của các biện pháp kinh tế và ảnh hưởng tốt xấu của từng cách thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
khai thác cùng với từng loại dụng cụ máy móc thi công, không có đầy đủ hiểu
biết trên để làm cơ sở lựa chọn con đường tái sinh khai thác tối ưu chắc chắn
không thể đảm bảo được tái sinh.
Ngô Văn Trai (1999)[54] đã nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên
sau khai thác chọn làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kinh tế xúc tiến tái sinh
Vườn Quốc Gia Tam Đảo từ báo cáo của Đinh Việt Phương, danh mục thực vật
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vườn Quốc gia Tam Đảo như đã nói
trên các thông tin đại chúng về loài Dẻ còn nhiều hạn chế cần được nghiên cứu
sâu hơn.
Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của Việt Nam
nói chung và khu vực Tam Đảo nói riêng còn ít. Đặc biệt là các công trình
nghiên cứu riêng về loài Dẻ Gai Ấn Độ chưa có, phần lớn các tác giả mới chỉ
nghiên cứu về đặc điểm lâm học. Vì vậy, để bổ xung thêm cho các nghiên cứu
trên, luận văn này tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của
cây Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis Indica A.D.C) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo -
Vĩnh Phúc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
Chƣơng 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
, n/H
vn
của Dẻ gai Ấn Độ.
- Cấu trúc độ tàn che tầng câu cao.
2.3.4 Một số đặc điểm tái sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ ở trạng thái rừng
IIIA2 và IIIA3.
- Cấu trúc tổ thành loài cây tái sinh.
- Mật độ cây tái sinh.
- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và theo nguồn gốc.
- Ảnh hưởng của tầng cây bụi, thảm tươi.
- Phân bố tần suất cây tái sinh.
- Chất lượng cây tái sinh.
2.3.5 Đề xuất một số biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên cho cây Dẻ gai
Ấn Độ ở các trạng thái rừng IIIA
2
và IIIA
3
.
2.4 Phƣơng pháp nghiên cứu.
2.4.1 Quan điểm về phƣơng pháp luận
- Về quan niệm tái sinh rừng: Rừng là một hệ sinh thái, tái sinh rừng là tái
sinh của một hệ sinh thái. Tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản
của rừng, biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây
con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, lỗ trống trong rừng,
rừng sau khai thác, trên đất rừng sau nương rẫy….Phùng Ngọc Lan (1986) [35]
tái sinh rừng thúc đẩy quá trình hình thành cân bằng sinh học trong rừng, đảm
bảo cho rừng tồn tại liên tục và sử dụng tài nguyên rừng bền vững.
- Khái niệm về cây tái sinh được quan niệm trong đề tài này bao gồm
những cây con của loài Dẻ gai Ấn Độ sống dưới tán rừng, chiều cao thấp hơn
tán rừng chính.