1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá của quốc gia,là lá phổi xanh của nhân loại.
Rừng không những là tài nguyên có thể tự tái tạo và phục hồi mà còn có chức
năng sinh thái vô cùng quan trọng. Rừng có ý nghĩa đặc biệt lớn, không chỉ
cung cấp của cải cho nền kinh tế của đất nước mà còn có vai trò quan
trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ, cải thiện môi trường
và cân bằng sinh thái. Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong
những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm
sút cả về số lượng và chất lượng.
Hiện nay nước ta có khoảng 13.4 triệu ha rừng, trong đó có khoảng
hơn 11 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 2 triệu ha rừng trồng. Không chỉ
riêng ở Việt Nam mà cả các nước trên thế giới diện tích rừng ngày càng
bị tàn phá nặng nề, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Theo thống
kê của cục kiểm lâm tính điến tháng 11/2011 cả nước ta đã có 2023.76 ha,
trong đó có khoảng 872.28 ha là rừng tự nhiên và 828.98 ha rừng trồng
[6]. Rừng Việt Nam nói chung và rừng vùng núi phìa bắc nói riêng đã bị
mất đi bởi nhiều nguyên nhân khác nhau rừng tự nhiên còn rất ít, chủ
yếu là rừng thứ sinh ở những mức độ suy thoái khác nhau.
Nguyên nhân là do ý thức tác động bất hợp lý của người dân như
đốt nương làm rẫy, tình trạng khai thác và sử dụng bừa bãi rừng nên
thảm thực vật đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng. Từ đó gây ra hậu
quả làm đất bị xói mòn rửa trôi, gây bồi lắng lòng hồ, hạn chế khả năng
chứa nước . Mặt khác, rừng sau khai thác hầu như bị đảo lộn toàn bộ về
cấu trúc, quá trình tái sinh diễn thế theo chiều hướng thoái bộ so với ở
tình trạng nguyên sinh hoặc trước khi khai thác, nhất là ở các lâm phần
không được quản lý tốt.
Mất rừng gây hậu quả nghiêm trọng, như diện tích đất trống đồi núi
trọc tăng lên, là nguyên nhân gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên rừng phục hồi trạng thái
IIB tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
2
2
3
Bổ sung thêm cơ sở dữ liệu về tái sinh tự nhiên rừng phục hồi trạng thái
IIB tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở đề xuất những giải pháp
lâm sinh phù hợp xúc tiến tái sinh rừng.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được một số đặc điểm cấu trúc của rừng phục hồi tự nhiên
trạng thái IIB tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất được một số giải pháp lâm sinh nhằm nâng cao hiệu quả của
rừng phục hồi IIB tại khu vực nghiên cứu.
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu khoa học
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
Bổ sung những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của
thảm thực vật rừng phục hồi trạng thái IIB tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên góp phần vào việc nghiên cứu về đa dạng sinh học. Đồng thời giúp
cho sinh viên tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề
thực tiễn của khoa học đặt ra.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Trên cơ sở các quy luật cấu trúc đề xuất một số giải pháp nhằm phục
hồi rừng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và quản lý nguồn tài
nguyên rừng tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ngày hiệu quả hơn.
3
3
4
Phần 2
thái cân bằng mới (gần giống với trạng thái ban đầu), quá trình này được gọi
là diễn thế phục hồi. Nhưng với những tác động quá mạnh vượt ra ngoài
4
4
5
ngưỡng tự điều chỉnh của hệ sinh thái rừng thì quá trình phục hồi lại sẽ rất
chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra. Lúc này cần những hoạt động của con
người nhằm thúc đẩy quá trình đó hoạt động mạnh nhất trong thời gian ngắn
nhất. Như vậy, hoạt động phục hồi rừng được hiểu là các hoạt động có ý thức
của con người nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng. Để phục hồi lại
các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hoá, chúng ta có rất nhiều lựa chọn tùy thuộc
vào từng đối tượng và mục đích cụ thể. Lamb và Gilmour (2003) đã đưa ra ba
nhóm hành động nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng là cải tạo,
khôi phục và phục hồi rừng. Các khái niệm này được hiểu như sau:
- Cải tạo hay là thay thế (reclamation or replacement): Khái niệm này được hiểu là
sự tái tạo lại năng suất và độ ổn định của một lập địa bằng cách thiết lập một thảm
thực vật hoàn toàn mới để thay thế cho thảm thực vật gốc đã bị thoái hoá mạnh. Ở
vùng nhiệt đới, các xã hợp thực vật được thay thế này thường đơn giản nhưng lại có
năng suất cao hơn thảm thực vật gốc. Các lập địa rừng nghèo kiệt, trảng cây bụi…
là đối tượng của hoạt động này và cũng là những cơ hội cho việc thiết lập các rừng
công nghiệp sử dụng các loài cây nhập nội sinh trưởng nhanh hơn và có giá trị kinh
tế cao hơn so với thảm thực vật gốc.
- Khôi phục (restoration): Hiểu một cách chính xác về mặt lý thuyết thì khôi
phục lại một khu rừng bị suy thoái (rừng nghèo) là đưa khu rừng đó trở về
nguyên trạng ban đầu của nó. Đưa về nguyên trạng bao gồm cả các thành
phần thực vật, động vật và toàn bộ các quá trình sinh thái dẫn đến sự khôi
phục lại hoàn toàn tính tổng thể của hệ sinh thái.
- Phục hồi (rehabilitation): Khái niệm phục hồi rừng được định nghĩa như là
gạch nối (trung gian) giữa cải tạo và khôi phục. Trong trường hợp này, một
vài cố gắng có thể được thực hiện để thay thế thành phần dễ thấy nhất của
sinh rừng nhiệt đới. Do đặc điểm thành phần loài cây của rừng nhiệt đới phức
tạp nên trong quá trình nghiên cứu hầu như các tác giả chỉ tập trung vào các
loài cây gỗ có ý nghĩa nhất định. Tái sinh phục hồi là một trong những vấn đề
chiến lược của nghành Lâm nghiệp.
Trên thế giới, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu
nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác
động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng.
Baur G.N.(1976) [11] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học
nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng,
trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt
lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên.
6
6
7
Odum E.P (1971) [17] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ
sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935. Khái niệm
hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên
quan điểm sinh thái học.
Cotta H. (1817, người Đức) [13] đã xuất bản tác phẩm những chỉ dẫn về
lâm học, đã trình bày tổng hợp những khái niệm về rừng. Ông có công xây dựng
học thuyết về rừng có ảnh hưởng tới nước Đức và Châu Âu trong thế kỷ 19.
Morodop G.S (1912) [14] công bố tác phẩm học thuyết về rừng. Sự
phát triển hoàn thiện của học thuyết này về rừng gắn liền với những thành tựu
về sinh thái học.
Morozov (1930) [15] đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây gỗ,
có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt
đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ
phận của cảnh quan địa lý”
Cachenco M.E.T (1952) [16] Phát biểu: “Rừng làm một bộ phận của
cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ,
định hình thái và cấu trúc các kiểu thảm thực vật. Nhóm này gồm các yếu tố
quan trọng nhất là : Nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, chế độ gió…
Lamprecht H. (1989) căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây
trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa
sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng.
Kết cấu của quần thụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng.
L.D.Yurkevich (1960) đã chứng minh sự tàn che tối ưu cho sự phát triển bình
thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta đều nhận thấy rằng : Tầng cỏ
cây bụi qua thu nhận ánh sáng, ẩm độ và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng
của tấng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.
Những quần tụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ
và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh
không đáng kể. Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì
thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là nhân
tố gây trở ngại lớn nhất cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973).
Để xác định mật độ cây tái sinh, đã có nhiếu phương pháp khác nhau
như: Phương pháp ô dạng bản theo hê số kích thước (1 - 4m
2
) hoặc điều tra
theo dải hẹp với ô có kích thước (10 - 100m
2
) (Lowdermilk, 1927). Các nhà
nghiên cứu đếu có chung một quan điểm thống nhất là hiệu quả tái sinh rừng
8
8
9
được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con,
đặc điểm phân bố và độ dài của thời kỳ tái sinh rừng. Sự tương đồng hay khác
biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa
triển
rừng,
đề
ra
biện
pháp
lâm
sinh hợp
lý.
Công trình nghiên cứu về thảm thực vật rừng ở Việt Nam của Thái Văn
Trừng (những năm 1963, 1970, 1978). Theo ông “Có một nhân tố trong
nhóm sinh thái khí hậu đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên
trrong thảm thực vật rừng, đó là nhân tố ánh sáng”. Nếu các điều kiện khác
của môi trường như : đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi
thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không
diễn thế một cách “hoàn toàn” trong không gian và thời gian như Obrevin đã
nhận định. Diễn thế theo phương thức tái sinh không có quy luật “ nhân quả”
giữa sinh vật và hoàn cảnh.
Trần Đình Lý và các cộng sự (1996). Nghiên cứu xác định diện tích và
hệ thống biện pháp kỹ thuật cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng. Nghiên cứu
đưa ra một cách nhìn hệ thống và toàn diện về biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi
phục hồi rừng. Với việc phân biệt rõ ràng giữa rừng và thảm thực vật, nghiên
(1993) [4]
đã
căn
cứ
vào
tổ
thành
loài
cây
mục
đích
để
phân
loại
rừng
phục
phân
loại
của
Thái
Văn
Trừng
kết
hợp
với
hệ
thống
phân
loại
của
Loeschau,
chia
Lâm Phúc Cố (1994, 1996) [1], [2] nghiên cứu diễn thế rừng thứ sinh
sau nương rẫy ở Púng Luông, Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đã phân chia
thành 5 giai đoạn và kết luận: diễn thế thứ sinh sau nương rẫy theo hướng đi
lên tiến tới rừng cao đỉnh. Tổ thành loài tăng dần theo các thời gian phát triển
từ 4 loài (dưới 5 năm) tăng dần lên 5 loài (trên 25 năm). Rừng phục hồi có
một tầng cây gỗ giao tán ở thời gian 10 tuổi và đạt độ tàn che 0,4.
10
10
11
Đặng Kim Vui (2002) [9] khi nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi sau
nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với đối tượng là rừng phục hồi
tự nhiên ở các giai đoạn tuổi khác nhau, đã nghiên cứu về cấu trúc tổ thành
loài, cấu trúc dạng sống, cấu trúc hình thái, mật độ, độ phủ, của các trạng thái
rừng và kết luận: Tổng số loài cây của hệ sinh thái rừng phục hồi giảm dần khi
giai đoạn tuổi tăng lên, đồng thời số loài cây gỗ tăng dần, số loài cây cỏ, cây
bụi giảm nhanh. Theo quá trình phục hồi, trạng thái rừng có sự thay đổi về tầng
thứ và thành phần thực vật ở các tầng, ở giai đoạn cuối của quá trình phục hồi
(từ 10 - 15 tuổi) rừng có cấu trúc 5 tầng rõ rệt. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất
một số giải pháp nâng cao hiệu quả phục hồi rừng sau nương rẫy.
Nghiên cứu về rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên trên đất sau nương rẫy ở
tỉnh Sơn La tác giả Lê Đồng Tấn (2003) [8] cho biết kết cấu tổ thành rừng thứ
sinh phục hồi sau nương rẫy khá đơn giản. Được thể hiện ở hệ số tổ thành của
tổ hợp loài ưu thế cao, nhiều nơi chỉ 2 đến 3 loài đã chiếm ưu thế tuyệt đối.
Phân bố cây trên mặt đất là phân bố ngẫu nhiên, nhưng đối với từng loài cây
thì là phân bố cụm.
Vũ Tiến Hinh (1991) [3] Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của
rừng tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận
xét: hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên
hệ chặt chẽ. Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số
tổ thành tầng tái sinh cũng vậy.
kinh tế - xã hội trong đó bao hàm ý nghĩa lâm sinh học. Thể hiện ở chỗ phải
xác định tiêu chuẩn và điều kiện cho khoanh nuôi.
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1. Vị trí địa lý
Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, trung tâm huyện lỵ
cách trung tâm tỉnh lỵ 37 km.
- Phía Bắc giáp huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn.
-
Phía Tây giáp huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn và huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên.
- Phía Nam giáp huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang.
- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn
Toàn Huyện có 14 xã và một thị trấn.
2.3.1.2. Đất đai địa hình
Huyện Võ Nhai có diện tích tự nhiên là 84.510,41 ha. Địa hình tương
đối phức tạp đồi gò xen lẫn núi cao bị chia cắt. Do vị trí địa lý, toàn huyện
được chia thành 3 tiểu vùng:
12
12
13
Tiểu vùng 1:
Gồm các xã dọc quốc lộ 1 B là La Hiên, Lâu Thượng, Phú Thượng, thị
trấn Đình Cả. Thị trấn Đình Cả là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa - xã
hội của huyện, tập trung các cơ quan nhà nước và là đô thị thuộc loại 5. Tiểu
vùng 1 có đường giao thông, địa hình dọc theo tuyến Quốc lộ 1B tương đối
bằng phẳng, có điều kiện thuận lợi để xây dựng đô thị và các điểm vệ tinh
phục vụ cho đô thị phát triển.
Tiểu vùng 2:
Gồm 5 xã phía nam là Tràng Xá và Bình Long được quy định quản lý quy
- Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 tập trung chủ yếu vào tháng
6,7,8 chiếm trên 70% lượng mưa cả năm. Nhiệt độ trung bình ngày mùa này
là 27,8
0
C, số giờ nắng trung bình là 7,1 giờ/ngày.
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này có nhiệt độ
trung bình ngày là 14,9
0
C, lượng mưa ít, số giờ năng trung bình là 3,8 giờ/ngày.
- Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9
0
C) với tháng
lạnh nhất (Tháng 1: 15,2
0
C) là 13,7
0
C. Tổng số giờ nắng dao động từ 1.300
đến 1.750 giờ và không đều cho các tháng trong năm.
2.3.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
2.3.2.1. Kinh tế nông nghiệp
* Trồng trọt
- Cây lương thực
Trọng tâm của sự phát triển cây lương thực là tăng cường việc áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, thâm canh năng suất cao, tăng vụ để
tăng sản lượng và tăng hiệu quả kinh tế.
a. Lúa
Ổn định diện tích lúa nương, tận dụng các dải đất ven sông, suối, nơi có
điều kiện thủy lợi để mở rộng việc thâm canh lúa, tăng diện tích 2 vụ lúa ở
những vùng được nâng cấp, cải tạo thủy lợi đồng thời áp dụng những
giống
lượng chè trên địa bàn tỉnh hàng năm sản xuất ra khoảng 100.000 tấn chè búp,
trong đó lượng chè trên địa bàn huyện sản xuất ra là không nhỏ 3.080 tấn.
Chủ yếu đẩy mạnh việc phát triển chè tại các xã Tràng Xá, Liên Minh, Lâu
Thượng, La Hiên, Thần Sa Cần mở rộng diện tích trồng giống chè lai, chè
cành giống mới như LDP1, TRI777 để nâng cao chất lượng sản phẩm.
b. Cây ăn quả:
Trong giai đoạn 2011-2020 dự kiến quy hoạch vùng cây ăn quả hàng
hóa dự kiến như sau:
+ Mơ, mận, hồng: 100 ha bố trí ở cả 3 tiểu vùng
+ Nhãn, vải: 400 ha bố trí ở cả ba tiểu vùng.
15
15
16
+ Cam, quýt: 200 ha, trong đó vùng 1 bố trí 100-120 ha bằng giống cam
quýt Bắc Sơn.
+ Na, xoài: 40ha bố trí ở cả ba tiểu vùng, chủ yếu tập trung ở tiểu vùng 2, 3.
c. Cây đặc sản:
Dự kiến bố trí cây đặc sản ở tiểu vùng 1 và một ít ở tiểu vùng 3, nơi có
điều kiện thích hợp đối với cây trám trắng: 2.000 cây trám chủ yếu ở tiểu
vùng 3. Diện tích hồi, quế, trám bố trí chủ yếu trên đất lâm nghiệp và một
phần đất nông nghiệp có độ dày tầng đất, độ dốc thích hợp.
d. Cây lâu năm khác
Duy trì các loại cây lâu năm khác như hiện nay (175 ha). Bảng dưới đã
trình bày hiện trạng và dự báo diện tích, năng suất, sản lượng của một số cây
trồng chính của huyện Võ Nhai.
* Lâm nghiệp
Giai đoạn 2016-2020, tiếp tục đẩy mạnh công tác trồng rừng, chăm sóc
rừng và khai thác gỗ, sản lượng gỗ khai thác đạt khoảng 3.000 m
3
và khoảng
Thần Xa, Nghinh Tường, Sảng Mộc trước đây đi lại rất khó khăn, hiện nay đã được
cải tạo nâng cấp, dải nhựa vì vậy ô tô đã đi vào được đến trung tâm xã.
Các tuyến giao thông liên xã, liên thôn xóm cơ bản vẫn là các tuyến
đường đất, việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa.
2.3.3.2. Thủy lợi
Được sự hỗ trợ của nhà nước và sự đóng góp của nhân dân, Võ Nhai đã
đầu tư xây dựng một số công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ nhằm phục vụ tưới tiêu
cho sản xuất nông nghiệp, ngoài việc sử dụng nguồn nước thiên nhiên.
Toàn huyện có 54 công trình thuỷ lợi chính bao gồm: 8 hồ chứa, 36 đập
tràn và 24 trạm bơm, có tổng số 94,12 km kênh mương dẫn nước, trong đó
kênh xây kiên cố là 29,841 km, kênh đất là 64,28 km.
Các công trình thuỷ lợi tập trung đa số ở các vùng trung tâm và một số
xã phía Nam của huyện
Lượng nước của 8 hồ chứa với các công trình thuỷ lợi được xây dựng
gần đây đã hỗ trợ rất lớn cho việc thâm canh tăng năng suất cây trồng, đảm
bảo tưới cho 3.526 ha.
Tuy nhiên do phần lớn các công trình thuỷ lợi của huyện đều có quy
mô nhỏ, diện tích tưới ít và phân tán. Khả năng tưới của các công trình còn
thấp là do:
+ Nguồn vốn hạn hẹp, không đủ để đầu tư đồng bộ.
17
17
18
+ Đa số các công trình đã xây dựng từ lâu lại không được thường xuyên tu
bổ đến nay đã hư hỏng nhiều, các đập dâng, hồ chứa nước bị rò rỉ, các cống lấy
nước bị hở gây thất thoát nước, giảm khả năng tích nước của các đập, hồ chứa.
+ Do hệ thống kênh mương, rạch dẫn nước tưới chạy dọc theo sông
suối, theo sườn núi lại không được xây dựng kiên cố (chủ yếu là bằng đất)
nên tổn thất trên kênh rất lớn và thường hay bị hư hoặc bồi đắp khi có mưa lũ,
hiệu suất sử dụng thấp so với thiết kế ban đầu.
cộng đồng đã có nhiều tiến bộ. Chương trình tiêm chủng mở rộng đạt 99,6%,
tiêm AT cho phụ nữ có thai 1.036 người. Việc khám bệnh miễn phí cho
người nghèo, gia đình chính sách được quan tâm hơn, tỷ lệ người nghèo đựơc
khám chữa bệnh miễn phí đạt 100%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh
dưỡng giảm từ 28,6 % (2006) xuống còn 24,0 % (2010). Cán bộ dân số đã
làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện công tác Dân số -
KHHGĐ nhằm ổn định dân số, giảm tỷ lệ sinh, đặc biệt là tỷ lệ sinh con thứ
3. Nâng cao chất lượng dân số góp phần vào xoá đói giảm nghèo của địa
phương, tỷ lệ phát triển dân số qua 5 năm đã và đang có xu hướng giảm
dần.Nhìn chung công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân trên địa bàn huyện
Võ Nhai là tốt, tuy nhiên bên cạnh đó ngành y tế cũng còn gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay một số nhà trạm đã xuống cấp nghiêm trọng không đáp ứng được nhu
cầu chăm sóc sức khoẻ cho người dân trong xã, đặc biệt là khi người dân có nhu
cầu nằm điều trị tại trạm
2.3.3.4. Văn hoá, thông tin, thể dục thể thao
Trong giai đoạn 2006-2010, hàng năm các hoạt động văn hóa văn nghệ
thường xuyên được tổ chức từ huyện xuống xã, đặc biệt phục vụ đồng bào ở vùng
sâu, vùng xa. Văn hóa dân tộc truyền thống đã được xây dựng, được nghiên cứu và
phục hồi nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa, di tích lịch sử dân tộc.
Nếp sống văn minh trong cưới xin, việc tang, lễ hội và các hoạt động
tôn giáo tín ngưỡng đã được xây dựng. Đồng thời vận động phong trào toàn
dân xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa luôn được đặt lên hàng
đầu. Năm 2010 toàn huyện Võ Nhai tỷ lệ hộ đăng ký gia đình đạt chuẩn văn
hoá là 77 %; tỷ lệ làng, xóm, khu phố đạt chuẩn văn hoá là 53,4 %; tỷ lệ cơ
quan, đơn vị đạt chuẩn văn hoá là 78 %.
Hiện nay trên địa bàn huyện đã có 01 nhà văn hoá cấp huyện, 03 nhà
văn hoá cấp xã, 141/172 xóm có nhà văn hoá. Phong trào thể dục thể thao
luôn được đẩy mạnh, hàng năm huyện luôn tổ chức một số giải đấu cầu lông,
bóng đá, bóng chuyền, cấp huyện và cấp xã, thu hút đông đảo vận động
viên tham gia, và nhân dân hưởng ứng.
Đẩy nhanh và mở rộng mạng điện thoại, kết nối Internet rộng rãi, toàn
huyện máy điện thoại khoảng 30 máy trên 100 người dân vào năm 2020.
Duy trì và mở rộng việc cung cấp các dịch vụ công ích (thông tin cứu
hỏa, thông tin cứu nạn, cấp cứu y tế, thông tin khẩn cấp về an ninh trật tự xã
hội, )
20
20
21
Đảm bảo đến năm 2015 ít nhất 85 % số xã có điểm truy nhập Internet
công cộng và nâng tỷ lệ này lên 100 % vào năm 2020.
- Dịch vụ du lịch
* Định hướng chung phát triển du lịch ở Võ Nhai đến năm 2020
Thị trường du lịch: Tập trung khai thác theo thứ tự ưu tiên các thị
trường sau: khách du lịch từ Hà Nội; khách trong tỉnh và một số tỉnh lân cận.
Sản phẩm du lịch: Du lịch sinh thái; du lịch lịch sử đặc biệt là “Du lịch
về chiến khu xưa”; du lịch văn hóa - lễ hội - làng nghề.
Đầu tư vào du lịch: Tạo ra hệ thống cơ sở vật chất du lịch có chất
lượng tốt, khá đồng bộ; đa dạng hóa, tạo nhiều sản phẩm du lịch đặc thù có
khả năng cạnh tranh; kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của khách;
khai thác, bảo vệ, tôn tạo và phát triển nguồn tài nguyên và cải thiện môi
trường du lịch.
Khu vực ưu tiên đầu tư: Hang Phượng Hoàng - Suối Mỏ Gà, Khảo cổ
Thần Sa, Rừng Khuôn Mánh, Hang Huyện, Chùa Hoài.
Hướng hợp tác du lịch: Hình thành được tour du lịch dọc theo Quốc lộ
1B, điểm du lịch và các tuyến du lịch, liên kết giữa các điểm, khu du lịch nội
vùng, liên kết vùng.
- Dịch vụ vận tải, kho bãi
Với dự báo tăng trưởng kinh tế cao hơn hẳn giai đoạn hiện tại và những
bước đột phá trong phát triển một số ngành, lĩnh vực của huyện trong thời kỳ quy
hoạch, ngành dịch vụ vận tải, kho bãi có rất nhiều cơ hội để phát triển. Chiều hướng
hiểm trong mọi lĩnh vực sản xuất, đời sống, tập trung vào dịch vụ bảo hiểm
vận tải, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tiền gửi/tiền vay, bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế tự nguyện. Có cơ chế ưu đãi để
khuyến khích sự phát triển dịch vụ bảo hiểm nông dân.
2.3.3.6. Thành phần dân tộc, dân số
Theo số liệu thống kê của huyện đến năm 2010 trên địa bàn huyện có 64.958
nhân khẩu, bao gồm 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó: Người Tày, Nùng chiếm
21%; Người Kinh chiếm: 38 %; Người dân tộc thiểu số khác chiếm: 41 %. Dân số
trung bình của huyện Võ Nhai tăng bình quân 1,42 % /năm
- Số người sống ở thành thị: 3.526 người, chiếm 5,48 %
- Số người sống ở nông thôn: 60.816 người, chiếm 94,52 %
- Dân số nữ: 32.265 người, chiếm 49,67 %
- Dân số Nam: 32.693 người, chiếm 50,33 %
- Dân cư huyện Võ Nhai phân bố không đồng đều, ở vùng cao và vùng
núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở vùng thành thị dân cư lại dày đặc. Mật
22
22
23
độ dân số bình quân là 77,37 người/km
2
, cao nhất là ở thị trấn Đình Cả
(352,08 người/km
2
), thấp nhất là ở xã Thần Sa (23,45 người/km
2
). Mật độ dân
số này thuộc loại thấp so với các huyện khác trong tỉnh Thái Nguyên.
2.3.3.7. Thực trạng phát triển các khu dân cư
Mục tiêu của việc phát triển kinh tế - xã hội là đem lại mức sống cao về
vật chất, tinh thần cho cộng đồng dân cư của huyện. Việc phát triển các điểm
tái sinh trong trạng thái thảm thực vật trạng thái rừng IIA tại huyện Võ Nhai.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Xóm Nác xã Liên Minh
Xóm Mỏ Bễn xã Tràng Xá
- Thời gian: Tiến hành từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2012.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Khái quát đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc cây tái sinh
+ Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh.
+ Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng.
+ Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học (Shannon – Weaver).
+ Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh.
- Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh
+ Phân bố số cây theo cấp chiều cao.
+ Phân bố loài cây theo cấp chiều cao.
24
24
25
- Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên
+ Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng.
+ Ảnh hưởng của yếu tố địa hình đến tái sinh rừng.
+ Ảnh hưởng của yếu tố con người đến tái sinh rừng.
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho trạng thái trạng thái
rừng IIA tại khu vực nghiên cứu.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp luận
Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật
rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) [17]: Thảm thực vật rừng là tấm
gương phản chiếu một cách trung thành nhất mà lại tổng hợp được các điều
kiện của hoàn cảnh tự nhiên đã thông qua sinh vật để hình thành những quần