Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN
CỦA CÂY DẺ GAI ẤN ĐỘ (CASTANOPSIS INDICA A.D.C)
TẠI VƢỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO - VĨNH PHÚC CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. NGÔ QUANG ĐÊ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3
Lời nói đầu
Trong nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững của các
Vườn Quốc gia, việc bảo tồn các thực vật quý hiếm và có nguy cơ bị đe doạ giữ
một vị trí quan trọng đặc biệt không chỉ về mặt khoa học mà còn liên quan toàn
diện, lâu dài đến sự tồn tại và phát triển của các Vườn quốc gia.
Để góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật Vườn quốc gia Tam Đảo có
hiệu quả, nhất là nguồn gen quý hiếm và có nguy cơ đe doạ, tôi chọn đề tài luận
văn thạc sĩ “ Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Dẻ gai Ấn
Độ (Castanopsis Indica A.D.C) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo”.
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của GS. TS Ngô Quang Đê
trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, cùng với sự giúp đỡ của PGS. TS Đặng
Kim Vui và các thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, TS Hà Huy Thịnh Viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam và cán bộ
8
Chƣơng 2 – MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
15
2.1 Mục tiêu nghiên cứu……………………………………………………
15
2.1.1 Về mặt lý luận…………………………………………………………
15
2.1.2 Về mặt thực tiễn………………………………………………………
15
2.2 Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………
15
2.3 Nội dung nghiên cứu……………………………………………………
15
2.4 Phương pháp nghiên cứu
16
2.4.1 Quan điểm về phương pháp luận……………………………………….
16
2.4.2 Phương pháp xác định vị trí nghiên cứu
17
2.4.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
18
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
30
3.1 Đặc điểm tự nhiên
30
3.1.1 Vị trí địa lý, đất đai nơi có Dẻ gai Ấn Độ tái sinh phân bố
30
3.1.2 Khí hậu, thủy văn
31
3.1.3 Đặc điểm về tài nguyên thực vật rừng
43
4.3.2 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
44
4.3.3 Cấu trúc tầng thứ
49
4.3.4 Cấu trúc mật độ tầng cây cao của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ
51
4.3.5 Thành phần loài cây đi kèm với Dẻ gai Ấn Độ
52
4.3.6 Đặc điểm phân bố số cây theo đường kính của lâm phần
55
4.3.7 Cấu trúc độ tàn che tầng cây cao
59
4.4 Một số đặc điểm tái sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ ở 2 khu vực
60
4.4.1 Cấu trúc tổ thành cây tái sinh
60
4.4.2 Mật độ cây tái sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ
64
4.4.3 Số lượng cây tái sinh
65
4.4.4 Ảnh hưởng của tầng cây bụi, thảm tươi với tái sinh tự nhiên
69
4.4.5 Phân bố tần suất cây tái sinh của Dẻ gai Ấn Độ
72
4.4.6 Chất lượng cây tái sinh của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ
73
4.5 Đề xuất một số biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên cho cây Dẻ gai Ấn Độ
ở các trạng thái rừng IIIA
2
Cơ cấu các loại đất vùng đệm VQG Tam Đảo
36
Chƣơng IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Bảng 4.1
Nhiệt độ (T) và lượng mưa (P) trung bình ở 2 khu vực
41
Bảng 4.2
Đặc điểm đất nơi có Dẻ gai Ấn Độ phân bố
42
Bảng 4.3
Tổ thành loài cây cao trạng thái rừng IIIA
2
46
Bảng 4.4
Tổ thành loài cây cao trạng thái rừng IIIA
3
48
Bảng 4.5
Chiều cao của lâm phần và Dẻ gai Ấn độ
50
Bảng 4.6
Mật độ tầng cây cao của lâm phần và Dẻ gai Ấn độ
51
Bảng 4.7
Thành phần loài cây đi kèm với Dẻ gai Ấn độ trạng thái IIIA
2
Bảng 4.16
Số lượng cây tái sinh của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ phân
theo từng cấp chiều cao
66
Bảng 4.17
Số lượng và tỷ lệ tái sinh theo nguồn gốc
68
Bảng 4.18
Ảnh hưởng của cây bụi thảm tươi đến TSTN theo các trạng thái rừng
70
Bảng 4.19
Tổng hợp cây bụi theo đai khí hậu
71
Bảng 4.20
Đặc điểm tầng cây bụi thảm tươi
71
Bảng 4.21
Phân bố tần suất xuất hiện Dẻ gai Ấn Độ tái sinh xung quanh
gốc cây mẹ
73
Bảng 4.22
Cấp chất lượng tái sinh
73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7
DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ ẢNH
Trang
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
TSTN - Tái sinh tự nhiên
VQG - Vƣờn Quốc gia
NN & PTNT - Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
OTC - Ô tiêu chuẩn
ODB - Ô dạng bản
KV - Khu vực
BQ - Bình quân
XH - Xuất hiện
H
vn
- Chiều cao vút ngọn
D
1.3
- Đƣờng kính đo ở vị trí 1,3m
Thu Trang, lớp CH14 Lâm học, Trường Đại học Nông Lâm đã hoàn thành đợt
thực tập cuối khóa tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, thời gian thực tập từ ngày
1/1/2008 đến ngày 01/1/2009.
Trong thời gian thực tập, học viên Nguyễn Thị Thu Trang đã:
- Chấp hành tốt nội quy, quy chế làm việc của cơ quan có tính kỷ luật cao.
- Quan hệ tốt với cán bộ và nhân dân tại địa điểm nghiên cứu.
- Thực hiện quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp nghiêm túc
- Hoàn thành đúng tiến độ đề ra của đợt thực tập Vĩnh Phúc, ngày 17 tháng 04 năm 2009
TM/ BGĐ VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
Phó Giám Đốc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
10
Đặt vấn đề
Khoa học ngày nay đã chứng tỏ các biện pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạo
lại rừng chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết đầy đủ về
bản chất các qui luật sống của rừng trước hết là các quá trình tái sinh, sự hình
thành và động thái biến đổi của rừng tương ứng với những điều kiện tự nhiên
môi trường khác nhau.
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái.
Nó bảo đảm cho nguồn tài nguyên rừng có khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu
chúng ta nắm được qui luật tái sinh, chúng sẽ điều khiển qui luật đó phục vụ cho
các mục tiêu kinh doanh. Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong
việc xác định các phương thức kinh doanh rừng.
Dẻ Gai Ấn Độ (Castanopsis indica A.D.C) thuộc Họ Dẻ (Fagaceae) là
một họ lớn gồm rất nhiều loài. Ở Việt Nam có 5 chi khoảng 120 loài, hầu hết là
cây thân gỗ. Họ Dẻ nói chung và loài Dẻ Gai Ấn Độ nói riêng không những có
vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng mà còn có ý nghĩa quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân. Sự có mặt của loài Dẻ Gai Ấn Độ góp phần làm phong
phú đa dạng về thành phần loài, giúp cho các quá trình chuyển hóa vật chất và
năng lượng trong hệ sinh thái rừng được ổn định, phát huy tốt chức năng bảo vệ
môi trường. Đối với nền kinh tế quốc dân, loài cây này có khả năng cung cấp gỗ
cho xây dựng nhà cửa, đóng đồ đạc [3] …
Ở Vườn Quốc gia Tam Đảo loài Dẻ Gai Ấn Độ được phân bố hầu như
khắp các trạng thái rừng, các đai khí hậu, nên khả năng tái sinh tương đối tốt. Đó
là lý do tại sao tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên
của cây Dẻ Gai Ấn Độ (Castanopsis Indica A.D.C) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo
- Vĩnh Phúc”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
12
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới.
Các chuyên gia sinh thái học đã khảng định rừng là một sinh thái hoàn
chỉnh nhất. Thực vật rừng có sự biến động cả về chất và lượng khi yếu tố ngoại
cảnh thay đổi. Rừng cây và con người hệ mật thiết với nhau. Chính lẽ đó, cây
rừng được con người quan sát, xem xét, nghiên cứu từ thủa xa xưa. Một trong
khía cạnh con người nghiên cứu để phục hồi lại rừng là tái sinh rừng. Nghiên
cứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hang trăm năm, nhưng ở rừng nhiệt đới,
kín tán, tuy thảm cỏ phát triểm kém nhưng cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng
của chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh. Những lâm phần đã qua khai thác,
thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ sẽ trở ngại lớn cho tái sinh rừng. Ngoài
ra Ghent, A.W (1969)[60] còn nhận xét: Thảm mục, chế độ thủy nhiệt, tầng đất
mặt quan hệ với tái sinh rừng cũng cần được làm rõ. Hiển nhiên, trong những
trường hợp cụ thể ảnh hưởng của động vật và lửa rừng có thể gây những tác hại
đến TSTN ở mức độ khác nhau.
Cấu trúc của quần thụ ảnh hưởng tới tái sinh đã được Andel. S (1981)[58]
chứng minh độ dầy tối ưu cho sự phát triển bình thường cây gỗ là 0,6-0,7m. Độ
khép tán của quần thụ có quan hệ với mật độ và sức sống của cây con. Trong sự
cạnh tranh giữa thực vật về dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, ẩm độ tùy thuộc vào
đặc tính sinh vật học, tuổi của mỗi loài và điều kiện sinh thái của quần thể thực
vật.
Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần
thụ V.G Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về
dinh dưỡng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất thuần nhất của quan hệ qua lại
giữa các thực vật tùy thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của
quần thể thực vật. Năm 1973 I.N.Nakhteenko cho rằng sự trùng hợp cao của sự
hấp thụ dinh dưỡng giữa 2 loài có thể gây cho nhau sự kìm hãm sinh trưởng và
làm tăng áp lực cạnh tranh giữa 2 loài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
14
Trong đa số các nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng, người ta đều nhận
thấy rằng cỏ và cây bụi, qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh
dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây tái sinh của các loài
cây gỗ. Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, thảm cỏ
phát triển kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ non không đáng kể. Ngược
lại những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát
sinh mạnh mẽ, trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái
sinh rừng Bannikov, 1967; Vipper 1973.
1.3
≥ 60cm và phải có tái sinh đạt yêu cầu; phải để lại ít nhất 5 - 7
cây mẹ gieo trồng có kích thước lớn, phân bố đều trên diện tích; trong trường
hợp cần thiết các lỗ trống hình thành do khai thác phải được mở rộng thêm để
thúc đẩy xúc tiến tái sinh tự nhiên. Quá trình sinh trưởng, phát triển cây tái sinh,
trên các lỗ trống phải được kiểm soát và cần thiết phải chăm sóc ít nhất 10 năm
sau khai thác.
Nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên cũng đã có rất nhiều công
trình đề cập đến, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards. P. W
(1965)[57], tác giả cuốn rừng mưa nhiệt đới, Bernard Roller (1974) tổng kết các
công trình nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các
ô tiêu chuẩn kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng
phân bố cụm, một số ít có phân bố poisson. Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu
thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong
rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo. Ngược
lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên nhiệt đới Châu Á như: Bava
(1954), Budowski (1956), Kationt (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới
nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp
lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng.
Về phương pháp điều tra tái sinh nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô
vuông theo hệ thống do Lowdermilk (1972) đề nghị, với diện tích ô dạng bản
thông thường từ 1 - 4m
2
. Bên cạnh đó cũng có nhiều tác giả đề nghị sử dụng
phương pháp điều tra theo dải hẹp với các ô đo đếm có diện tích biến động từ 10
- 100m
2
. Phương pháp này trong điều tra tái sinh sẽ khó xác định được quy luật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
16
thống cho từng loại rừng cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
17
2.2 Ở Việt Nam.
Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những
năm 1960. Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963, 1978) về “Thảm
thực vật rừng Việt Nam”, Ông đã nhấn mạnh ánh sáng là nhân tố sinh thái
khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh và
thứ sinh. §ång thêi theo ông, có một nhóm nhân tố sinh thái trong nhóm khí hậu
đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng,
đó là nhân tố ánh sáng. Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng,
nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh
không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong
không gian và thời gian như A.Ôbrêvin đã nhận định và diễn thế theo phương
thức tái sinh không có quy luật “nhân quả” giữa sinh vật và hoàn cảnh. Vì lẽ
trên P.W Risa đã nói rất có lý: “Lý luận tuần hoàn tái sinh đã ứng dụng rộng rãi
được đến mức độ nào, vấn đề này hiện nay phải tạm gác lại chưa giải quyết
được”.
Từ năm 1962 - 1969, Viện Điều tra Qui hoạch rừng đã có điều tra tình
hình tái sinh tự nhiên cho các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam
như: Yên Bái (1965), Quỳ Châu sông Hiếu Nghệ An (1962 - 1964), Quảng Bình
(1969), Lạng Sơn (1969).
Nguyễn Hữu Hiến (1970)[20] đã đưa ra phương pháp đánh giá tố thành
rừng nhiệt đới, tác giả cho rằng loài cây tham gia vào loại hình thì nhiều, trên
diện tích một ha có khi có tới hàng trăm loài, cùng một lúc không thể kể hết
được. Vì vậy, người ta chỉ kể đến loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất trong
các tầng quan trọng (tính theo loài cây ưu thế hoặc nhóm loài ưu thế) tác giả đã
đưa ra công thức tính tổ thành là
X
≥ N/a với
phương án tối ưu là lựa chọn những loài cây mục đích phù hợp với loài cây ưu
thế của quần thể vì nguồn giống có nhiều và đã thích hợp với hoàn cảnh sinh
thái.
Nguyễn Hồng Quân (1984)[45] đã nghiên cứu kết hợp chặt chẽ khai thác
với tái sinh và nuôi dưỡng rừng, đối với rừng không đồng tuổi cần thực hiện cả
4 nội dung chủ yếu là: Thu hoạch cây thành thục, chặt tái sinh, chặt nuôi dưỡng
và chuẩn hóa cấu trúc rừng về trạng thái mong muốn. Đối chiếu 4 nội dung nói
trên vào thực tế kinh doanh rừng ở nước ta thì cách khai thác của ta chỉ đạt được
một nội dung duy nhất là thu hoạch sản phẩm còn 3 nội dung kia hầu như bị bỏ
rơi nên đã thể hiện rất nhiều nhược điểm như chủng loại cây phi mục đích
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
19
ngày càng tăng, kích thước cây tái sinh ngày càng giảm và từ đó tác giả cũng đã
đưa ra những biện pháp trước mắt khắc phục tình trạng trên để khai thác vẫn bảo
đảm được tái sinh và nuôi dưỡng rừng.
Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên tác giả Vũ Tiến Hinh
(1991)[24] đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng và ý
nghĩa của nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng. Tác giả đã sử dụng
phương pháp chặt hết cây gỗ D
1.3
≥ 8cm ở hai ô tiêu chuẩn (một ô là lâm phần
sau phục hồi trên đất rừng tự nhiên sau khai thác kiệt và một ô thuộc trạng thái
rừng IIIA
3
. Kết quả nghiên cứu tác giả cho biết: Với đối tượng rừng Sau sau
phục hồi phân bố số cây theo đường kính và theo tuổi đều là dạng phân bố giảm.
Điều đó, chứng tỏ mặc dù là loài cây ưa sáng mạnh, loài Sau sau vẫn có đặc
điểm tái sinh liên tục qua nhiều thế hệ, càng về sau tốc độ tái sinh càng mạnh.
Đối với rừng tự nhiên thứ sinh hỗn giao thì phân bố số cây theo tuổi của cây cao
và cây tái sinh đều có dạng phân bố giảm và nhìn chung toàn lâm phần tự nhiên
2
) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Possion, các loại rừng khác cây tái
sinh có phân bố cụm.
Nguyễn Văn Trương (1993)[55] đã đề cập đến cơ sở sinh thái rừng trong
tái sinh rừng, tác giả cho rằng muốn phát huy tái sinh tự nhiên và nhân tạo thì
phải hiểu biết hoàn cảnh sinh thái của các loài cây mục đích mà chúng ta cần tái
sinh. Khi khai thác cây đủ kích thước cho phép đã gây nên một sự thay đổi đột
ngột nguy hại cho cây tái sinh, chỗ trống mở ra làm cho đất nóng và khô, không
cho phép hạt nảy mầm, những hạt nảy mầm thì bị nắng đốt; đất khô mà chết rụi
hết, ngược lại chỗ có ít cây lớn thì lại quá rậm rạp, cây thảm tươi, dây leo, cây
bụi chằng chịt, hạt nảy mầm được thì cây con lại không có khoảng sống. Tác giả
cho rằng ta vẫn đánh giá đúng ý nghĩa kinh tế và sinh thái của tái sinh tự nhiên
nhưng trong hành động thực tiễn thì chính chúng ta lại vi phạm quy luật sinh
thái chi phối chặt chẽ sự tái sinh và tăng trưởng cây rừng vốn lâu đời thích nghi
với hoàn cảnh sinh thái rừng. Vì thế, tác giả đã nhấn mạnh cần hiểu biết đầy đủ
về hoàn cảnh sinh thái để phát huy tái sinh tự nhiên được tốt nhất.
Trần Xuân Thiệp (1996) [51] đã tiếp tục nghiên cứu vai trò của tái sinh và
phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã
cho biết: Ở vùng Tây Bắc, dù ở vùng thấp hay vùng cao đều có khả năng tái sinh
tự nhiên khá tốt về số lượng cây từ 500 - 8.000 cây/ha. Rừng Tây Bắc thể hiện
rõ các mặt ảnh hưởng đến chất lượng tái sinh: Nghèo về trữ lượng, diễn thế rừng
ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng, chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
21
nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm loài cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại
do thiếu lớp cây mẹ. Vùng trung tâm tác giả nhận xét sự nghèo kiệt nhanh chóng
của rừng đưa đến số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên vào loại thấp, số
lượng cây tái sinh thấp hơn nhiều so với khu vực Tây Bắc nhưng khác với Tây
Bắc vùng này môi trường rừng còn giữ được tốt hơn nên ít thể hiện chiều hướng
cây ưa sáng chịu hạn xuất hiện trong tái sinh. Vùng Đông Bắc, tác giả cho thấy
không thể đảm bảo được tái sinh.
Ngô Văn Trai (1999)[54] đã nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên
sau khai thác chọn làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kinh tế xúc tiến tái sinh
tự nhiên cho kinh doanh gỗ lớn ở Lâm trường Trạm Lập huyện K’ Bang – Gia
Lai. Tác giả đã có một số kết luận: Cấu trúc cấu thành loài cây gỗ lớn ở rừng
IIIB và IVB trước và sau khai thác không có sự thay đổi lớn. Tổ thành cây mẹ
sau khai thác có quan hệ chặt chẽ với tổ thành loài cây tái sinh. Mật độ cây tái
sinh sau khai thác ở trạng thái IIIB và IVB ở các rừng độ khai thác khác nhau
biến động từ 6.500 - 16.480 cây/ha. Đặc biệt có một số loài cây tái sinh lớn có
tái sinh cao đạt trên 500 cây/ha như: Ràng ràng mít, Re bầu, Giổi xanh, Thông
nàng,…về chất lượng thì tỷ lệ cây tốt ở 2 trạng thái trên chiếm trên 62,46%, cây
cao nhất ở rừng IVB đạt 79%, tỷ lệ cây tái sinh xấu đều dưới 15%. Các loài cây
tái sinh gỗ lớn xuất hiện lớn hơn 50% ở trạng thái IIIB (cường độ khai thác
26%) là 6 loài và cường độ khai thác là 45% là 6 loài còn trạng thái IVB với
cường độ khai thác là 30% là 8 loài và cường độ khai thác 39% là 7 loài thấp
nhất là ở cường độ khai thác 51% chỉ có 5 loài từ đó tác giả cũng đưa ra một số
đề nghị về các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên để kinh doanh gỗ lớn ở Lâm
trường Trạm Lập.
Các nghiên cứu có liên quan đến khu vực Vƣờn Quốc gia Tam Đảo:
Đinh Việt Phương (1998) đã nghiên cứu, điều tra thành phần loài, phân bố
các loài trong họ Dẻ và đã phát hiện, mô tả đặc điểm hình thái, đánh giá được sự
phân bố của 13 loài Dẻ có ở đây. Theo tác giả số lượng 13 loài Dẻ nơi diện tích
rộng lớn, địa hình phức tạp như Tam Đảo chưa phản ánh được đầy đủ thành
phần loài trong họ Dẻ ở VQG Tam Đảo.
Lê Anh Công (2003) đã nghiên cứu, điều tra phát hiện thành phần loài,
đặc điểm phân bố và tình hình tái sinh các loài trong họ Dẻ và đã phát hiện, mô
tả, điều tra đánh giá phân bố của 17 loài Dẻ có trong khu vực VQG Tam Đảo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
23
Họ Dẻ tuy đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Song do địa hình,
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu.
2.1.1 Về mặt lý luận:
Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh của cây Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis
Indica A.D.C) tái sinh tự nhiên ở Vườn quốc gia Tam Đảo.
2.1.2 Về mặt thực tiễn:
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất các biện pháp bảo vệ tái sinh của
cây Dẻ gai Ấn Độ tái sinh tự nhiên tại Vườn Quốc gia Tam Đảo.
2.2 Đối tƣợng nghiên cứu.
Là cây Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis Indica A.D.C) thuộc phân khu phục hồi
sinh thái VQG Tam Đảo - huyện Tam Đảo - Vĩnh Phúc.
2.3 Nội dung nghiên cứu.
Căn cứ vào mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, nội dung của đề tài được
xác định như sau:
2.3.1 Một số đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Dẻ gai Ấn Độ.
2.3.2 Một số đặc điểm sinh thái nơi loài Dẻ gai Ấn Độ phân bố.
2.3.3 Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng ảnh hưởng đến
TSTN của cây Dẻ gai Ấn Độ ở các trạng thái IIIA
2
và IIIA
3
:
- Một số đặc điểm cấu trúc của rừng
- Cấu trúc tổ thành tầng cây cao.
- Cấu trúc tầng thứ.
- Mật độ tầng cây cao.
- Thành phần loài cây đi kèm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
- Khái niệm về cây tái sinh được quan niệm trong đề tài này bao gồm
những cây con của loài Dẻ gai Ấn Độ sống dưới tán rừng, chiều cao thấp hơn
tán rừng chính.
- Tái sinh rừng có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Tái sinh hạt trải qua 3 giai đoạn : Ra hoa kết quả và phân tán hạt giống, giai
đoạn hạt giống nảy mầm, giai đoạn sinh trưởng cây tái sinh. Giai đoạn sinh