Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên trạng thái rừng phục hồi IIB tại huyện định hóa, tỉnh thái nguyên - Pdf 13

1
- 1 -
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng có ý nghĩa đặc biệt lớn, không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh
tế của đất nước mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh
học, bảo vệ, cải thiện môi trường và cân bằng sinh thái. Vai trò của rừng là rất
to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên ngày càng
giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Theo thống kê Cục Lâm nghiệp hàng
năm có hàng ngàn ha rừng bị mất. Hầu hết các diện tích rừng bị phá đều tập
trung ở các tỉnh miền núi vùng sâu, vùng xa, nơi sinh sống của đại đa số các
dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp.
Không chỉ dừng lại ở đó lũ lụt, hạn hán cũng là một trong những
nguyên nhân gây mất rừng. Vấn đề hiện nay là làm sao để phục hồi lại các
khu rừng đã mất khi mật độ che phủ của rừng đã bị suy giảm xuống dưới mức
an toàn sinh thái ảnh hưởng đến khả năng phát triển của đất nước.
Phục hồi rừng là quá trình tái lập lại rừng trên những diện tích đã bị
mất rừng. Đó là quá trình sinh địa phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn và kết
thúc bằng sự xuất hiện một thảm cây gỗ bắt đầu khép tán. Tuỳ theo mức độ
tác động của con người trong quá trình thiết lập lại rừng mà phân chia thành
các giải pháp phục hồi rừng: tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh, tái sinh nhân
tạo (trồng rừng). Như vậy, trừ trồng rừng các giải pháp khác đều liên quan
đến tái sinh tự nhiên .
Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng sẽ cho thấy tiềm
năng phát triển của rừng trong tương lai và khả năng sử dụng không gian dinh
dưỡng trên mặt đất rừng…Tái sinh rừng là một quá trình phức tạp, nghiên cứu
rừng là cần thiết, vừa có ý nghĩa về cả lý luận và cơ sở khoa học cho việc đề
xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm xúc tiến tái sinh rừng theo hướng
sử dụng rừng bền vững.
Định Hóa là một xã thuộc địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Trước kia, Định

nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có hiệu quả.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì tính đa dạng sinh học và cân
bằng sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do đó kết quả của nghiên cứu
này sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm tái sinh và khả năng phục hồi tự nhiên
trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu.
2
3
- 3 -
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Rừng IIB: rừng phục hồi sau khai thác kiệt, gồm những quần thụ non,
thành phần loài không phức tạp, không đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng.
Rừng phục hồi trong giai đoạn sau chủ yếu là cây ưa sáng mọc nhanh (Thẩu
tấu, Hu đay, Màng tang…) đã xuất hiện cây chịu bóng, cây gỗ lớn và có hiện
tượng cạnh tranh về không gian dinh dưỡng. Mật độ cây là 1000cây/hecta với
đường kính D
1.3
> 10cm, trữ lượng không vượt quá 50 m
3
/ha - ký hiệu: IIB.
Ngô Quang Đê (1992)[1]: Rừng IIB là rừng nghèo tổ thành chưa phù
hợp với yêu cầu mục đích kinh doanh tầng trên còn ít cây mục đích , gieo
giống, tán rừng cũng bị vỡ từng đám, phẩm chất cây xấu, ở lớp cây tái sinh có
một lượng nhất định đại diện cho của các loài cây mục đích.
Một số khái niệm và cơ sở lý luận về tái sinh phục hồi rừng :
Tái sinh rừng: Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang đặc thù
của hệ sinh thái rừng. Đó là sự xuất hiện các thế hệ cây con của những loài
cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như dưới tán rừng, khoảng trống

sự trợ giúp của con người. Do đó, hoạt động phục hồi rừng được hiểu là các
hoạt động có ý thức của con người nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái
rừng. Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hóa, chúng ta có rất
nhiều lựa chọn tùy từng đối tượng và mục đích cụ thể. Lamb và Gilmoer
(2003) đã đưa ra 3 nhóm hành động nhằm là đảo ngược quá trình suy thoái rừng
là: Cải tạo (reclamation), khôi phục (restoration) và phục hồi (rehabilitation).
Chỉ tiêu định lượng xác định rừng non thứ sinh phục hồi đối với rừng gỗ
sử dụng quan điểm của Trần Đình Lý (1995) là: độ tàn che của cây gỗ có chiều
cao từ 3m trở lên đạt 0,3. Đối với rừng vầu, nứa theo tiêu chuẩn tại điểm c mục
2 điều 7 quy phạm QPN 21-98 độ che phủ đạt trên 80%, nhưng điểm bổ sung
là độ che phủ tính cho cả vầu, nứa và cây gỗ hỗn giao.
Cơ sở sinh thái cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng: Cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật
sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo
không gian và thời gian (Phùng Ngọc Lan, 1986) [9]
2.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trên thế giới
2.2.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Khái niệm về cấu trúc không chỉ bao gồm những nhân tố cấu trúc về hình
thái mà cả những nhân tố cấu trúc về sinh thái. Giữa cấu trúc và sinh thái rừng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bất kỳ một quy luật cấu trúc quần thể nào cũng
đều có nội dung sinh thái học bên trong của nó. Không quán triệt quan điểm sinh
4
5
- 5 -
thái trong khi nghiên cứu cấu trúc rừng thì sẽ không có cơ sở khoa học để giải
thích những quy luật cấu trúc của quần thể thực vật. Cấu trúc rừng bao gồm cấu
trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
Baur. G. N. (1976) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học
nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng,

- 6 -
nhân tạo. Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt
đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận
định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá
trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát
triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng.
Van steenis (1956) [19] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ
biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây
chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng.
Như vậy, các kết quả nghiên cứu trên đã phần nào chỉ ra được một số
quy luật kết cấu và cũng như các biện pháp kĩ thuật tái sinh rừng ở một số nơi.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1. Nghiên cứu cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của
các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời
gian (Phùng Ngọc Lan, 1986) [9].
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trong sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể chung sống hài hòa và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn
phát triển nhất định của tự nhiên. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể
hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi
trường sinh thái và giữa các sinh vật rừng với nhau.
Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [18] khi nghiên cứu về thảm thực
vật rừng Việt Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và
điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng. Nếu các điều
kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa
thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng
không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà
diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân quả giữa sinh vật
và môi trường.

lớn nhất so với các vùng khác. Khả năng phục hồi hình thành các rừng
vườn, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng. Rừng Tây Bắc
phần lớn diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng
xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ
là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp
cây mẹ
Trần Ngũ Phương (1970) [12] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới
mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác
động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần
thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta
7
8
- 8 -
để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài
trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông
qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi
dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”.
Trần Ngũ Phương (2000) [13] khi nghiên cứu các quy luật phát triển
rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh
của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng
trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế, trường hợp nếu
chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và
sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung
gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này
sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế
thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây
thường thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề
xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến các yếu tố
sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài.

Tân Thịnh, Tân Dương. Vùng thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, trồng cây
gỗ lớn, kết hợp trồng rừng nguyên liệu.
- Tiểu vùng đồi thấp và thung lũng: Phân bố hầu hết ở các xã. Kiểu địa
hình là đồi bát úp (dưới 200 m) xen kẽ với các thung lũng. Vùng này thích
hợp cho phát triển cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp và trồng rừng
nguyên liệu.
2.3.3. Khí hậu thủy văn
a. Đặc điểm khí hậu
Huyện Định Hóa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, ảnh
hưởng của khí hậu vùng cao. Một năm chia thành 2 mùa: mùa mưa kéo dài từ
tháng 4 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
* Chế độ nhiệt
- Nhiệt độ bình quân năm 22,5
0
C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng
1) là 14,6
0
C, nhiệt độ tháng cao nhất (tháng 7) là 42,6
0
C. Biên độ nhiệt trung bình
giữa các tháng là 7,6
0
C, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm từ 8 đến 10
0
C.
- Số giờ nắng trung bình năm 1.560 giờ/năm, năm cao nhất là 1.750 giờ,
năm thấp nhất 1.470 giờ.
* Chế độ ẩm
- Lượng mưa trung bình năm 1.750 mm, năm cao nhất với 2.450 mm,
năm thấp nhất 1.250 mm. Lượng mưa phân bố không đều; Từ tháng 4 đến

a. Địa chất
Đá trầm tích cổ nhất ở đây có tuổi Cambri, chủ yếu gồm các hệ lục
nguyên, lộ ra các đá phiến, bột kết màu xám tím hoặc màu đỏ có nhiều vảy
Mica có rất ít lớp mỏng bột kết chứa vôi. Phân bố rộng rãi nhất là các đồi
được cấu tạo bằng các loại đá thuộc điệp sông Hiến, chủ yếu là cát kết, đá
khoáng và bột kết phân lớp mỏng xen kẽ với đá phiến sét, tuổi Palêôzôn. Tại
phía bắc của huyện còn có khối đá vôi màu xám tối, chứa Bitum có xen
những kẹp đá phiến, có tuổi Đêvôn trung.
b. Thổ nhưỡng
Thông qua kết quả điều tra, xác định huyện Định Hóa có 7 nhóm đất
dạng chính với các đặc trưng và tính chất cơ bản sau:
1. Nhóm dạng đất núi thấp (N3), dốc 25
0
tầng mỏng đá trung bình, đất
Feralit phát triển trên đa macsma axit. Bao gồm một số dạng đất N3VFa,
N3IVFa với diện tích 8.148 ha, chiếm 15,6% diện tích tự nhiên.
Nhóm dạng đất này phân bố trên độ cao 300-700m thuộc sườn dãy phía
tây huyện Định Hóa, phần giáp Tuyên Quang, có địa thế khá phức tạp, chia
cắt mạnh, độ dốc lớn.
10
11
- 11 -
Hệ thực bì khá dày, tỷ lệ che phủ cao, phát huy được tác dụng phòng hộ,
chống xói mòn.
2. Nhóm đất đồi núi dốc thấp < 25
0
, tầng mỏng đến trung bình, đất
Feralit phát triển trên nhóm đá (Fr). Bao gồm các nhóm dạng lập địa
N3NFK, Đ1IIIFk, Đ1IIFFFk,…với diện tích 4.875 ha chiếm 9,3% diện tích
tự nhiên.

là đối tượng chủ yếu của sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất màu và đất trồng
lúa nước, với diện tích 6.232,3 ha chiếm 11,9 ha.
7. Loại đất này phân bố rải rác theo các khe suối, chân đồi thấp, có độ
dốc <8
0
và tầng dày >100 cm, thành phần cơ giới trung bình đến nặng.
11
12
- 12 -
Nhóm địa hình Kastơ-núi đá vôi: nhóm này có diện tích 2.479,89 ha,
chiếm 4,74 % tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu vùng trung tâm huyện.
2.3.5. Hiện trạng đất đai và tài nguyên rừng
a. Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Định Hóa
Qua điều tra, thống kê hiện trạng đất trên địa bàn và hiện trạng sử dụng
đất rừng cảnh quan ATK Định Hóa.
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn (57,83%), diện tích đất sản xuất
nông nghiệp chiếm (19,9%), diện tích đất chưa sử dụng chiếm (16,99%) tổng
diện tích đất tự nhiên trên địa bàn huyện. Với quỹ đất dồi dào, diện tích rừng
tương đối lớn là tiềm năng và thế mạnh nhất để phát triển kinh tế xã hội trên
địa bàn huyện trong thời gian tới.
Bảng 2.1.Thống kê diện tích đất đai huyện Định Hóa năm 2011
TT
Loại đất, loại rừng Tổng (ha)
Tỉ lệ
(%)
DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN 52.272,23 100,00
A Đất nông nghiệp 40.635,47 77,74
I Đất sản xuất nông nghiệp 10.404,54 19,90
II Đất lâm nghiệp 30.230,93 57,83
1

khắc nghiệt, chủ yếu là đá, tầng đất rất mỏng, do đó các loài cây thường phân
bố không đều. Các loài cây chính như: Bồ câu vẽ, Sầm sì, Bọt Ếch, Đom
đóm… Trạng thái rừng hiện tại trên núi đá chủ yếu là dây leo như: Đùm đũm,
Dạ cẩm lông, Trinh nữ, Dây bình vôi, Tóc tiên, Móc câu, dây Muồng… Các
loại cỏ như: cỏ Lào, Lau, Lách…
c. Rừng núi đất
*. Về tầng cây gỗ
- Số loài cây xuất hiện trên các OTC dao động từ 11-20 loài, trung bình
có 15 loài cho một trạng thái rừng. Như vậy chứng tỏ rừng ở đây đang có xu
hướng phục hồi tốt, vì vậy cần phải có giải pháp kỹ thuật kịp thời nhằm bổ
sung loài cây vào đối tượng rừng núi đất ở địa phương.
Trữ lượng rừng ở đây ở mức độ trung bình, trữ lượng trạng thái IIA trung
bình 38,77 m
3
, trữ lượng trung bình trạng thái IIB là 69,12 m
3
. Như vậy cần
có những chính sách phù hợp để bảo vệ khôi phục các trạng thái rừng hiện có.
Có như vậy thì trạng thái rừng mới dần được phục hồi nhanh chóng.
* Về trảng cây bụi và thảm tươi
13
14
- 14 -
Đây là kiểu phổ biến thường gặp các vùng trong 06 xã điều tra. Các loài
cây bụi chính như: Huyết giác, Lấu, Bồ câu vẽ, Găng, Chòi mòi lông, Mua bà,
Mẫu đơn…
Các loài dây leo như: Cỏ lông, Mâm xôi, Cuồng cuồng, Đùm đũm, dây
Bình vôi…
Thảm tươi gồm các loài cây cỏ như: Cỏ lông, Đơn buốt, Cỏ lá, Ngải cứu….
* Rừng trồng trên núi đất

tàn phá nặng do hoạt động khai thác gỗ, củi, khai thác đá,…,điều kiện trên núi
đá lại khắc nghiệt, vì thế quá trình tái sinh diễn ra chậm. Mặt khác quá trình
trồng rừng núi đá là tương đối khó khăn.
2.3.6. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.3.6.1. Dân tộc, dân số và lao động
a. Dân tộc
Trên địa bàn huyện có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống bao gồm: Tày,
Thái, Kinh, Sán Chí, Nùng, Cao Lam, H’mông. Trong đó, dân tộc Tày chiếm
đa số với tỷ lệ 19,5%, ít nhất là dân tộc Sán Chí chiếm 7,45%. Mỗi dân tộc có
tập quán sinh hoạt riêng nhưng đều có điểm chung nổi bật là vẫn giữ được nét
văn hóa truyền thống đặc trưng của dân tộc mình, sinh sống hòa thuận. Nơi
đây hàng năm vẫn còn những lễ hội lớn thu hút khoảng vài ba chục vạn người
đến thăm cũng như được nhiều khắp cả nước biết đến đó là: Lễ hội Lồng
Tồng (xuống đồng) lớn nhất vùng Việt Bắc, du khách sẽ được tận mắt nhìn
thấy lễ Cầu Thần Nông, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu…thi
bắn nỏ, tung còn, đi cà kheo vượt suối, múa sư tử, hát Then, Lượn Sli, múa
rối Tày, thi làm bánh…và còn rất nhiều lễ hội khác nữa (lễ hội Gầu Tào của
dân tộc H’Mông) đều mang đậm bản sắc dân tộc của người dân nơi đây.
Những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc đó cần được giữ gìn và phát huy
tạo nên sự đa dạng về bản sắc dân tộc trong huyện. Đó là những giá trị văn
hóa phi vật thể quý giá, là nguồn tài nguyên nhân văn có thể khai thác phục
vụ cho phát triển du lịch, nhiều bản sắc dân tộc đang được các du khách ưa
chuộng và tìm hiểu. Đến với Định Hóa, không chỉ có các lên hội mà nơi đây
còn là quần thể của các di tích, thắng cảnh đẹp in dấu lịch sử thời kì kháng
chiến chống thực dân Pháp.
b. Dân số và lao động
Trên địa bàn huyện mật độ dân số bình quân là 185 người/km
2
, nhìn
chung Định Hóa là một trong những huyện có mật độ dân số thấp so với các

- Giáo dục: Thực hiện đề án phổ cập giáo dục bậc tiểu học và trung học
trong toàn huyện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, năm 2008
công tác dạy và học được đẩy mạnh, triển khai nghiêm túc tại các trường
thông qua các chương trình thi đua dạy tốt học tốt, đổi mới phương pháp dạy
và học. Hiện nay toàn huyện có 73 trường học trong đó: (Mầm non: 24
trường; Tiểu học: 24 trường; Trung học cơ sở: 23 trường; Trung học phổ
thông: 2 trường)
Trong những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của các cấp, các ngành
trong việc đào tạo và nâng cao chất lượng giáo dục của cán bộ, giáo viên cũng
như đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng (trường, lớp, phòng học,…) đã mang
lại hiệu quả cao và có tác động tích cực đến người dân. Nhìn chung trình độ
dân trí của người dân trong huyện đã được nâng cao, nhận thức của người dân
về việc học của con em mình có chiều hướng tích cực hơn vì vậy mà số trẻ
em đến trường đạt tỷ lệ cao (98%). Bên cạnh đó vẫn còn một số hiện tượng bỏ
học giữa chừng, phần lớn thuộc những hộ gia đình đói nghèo, hoàn cảnh gia
đình gặp nhiều khó khăn không có điều kiện cho con cái đi học.
16
17
- 17 -
2.3.6.3 Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Trên địa bàn huyện Định Hóa có 33 km đường tỉnh lộ
chạy qua nối với các huyện của tỉnh Bắc Kạn và Tuyên Quang. Tuyến đường
liên tỉnh là đường nhựa, đường liên xã bao gồm cả đường nhựa và đường cấp
phối, còn lại là đường liên thôn chủ yếu là đường đất. Định Hóa có hệ thống
giao thông đường bộ tương đối thuận tiện, có đường ô tô chạy đến trung tâm
các xã. Tổng chiều dài các tuyến đường giao thông trong huyện là 280 km
trong đó: Đường tỉnh lộ: 33 km ; Đường liên huyện, liên xã: 59 km ; Đường
liên thôn: 188 km. Định Hóa đã và đang từng bước đầu tư, nâng cấp các tuyến
đường giao thông nội vùng nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội,
giao thông trao đổi hàng hóa và nhất là phục vụ du lịch.

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cây tái sinh dưới tán rừng phục hồi tự
nhiên trạng thái IIB. Các thảm cây bụi, cây trồng nông nghiệp, công
nghiệp, trang trại, vườn cây ăn quả và rừng trồng đều không thuộc phạm vi
nghiên cứu của đề tài.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về một số đặc điểm cấu trúc tổ
thành cây tái sinh (tần suất xuất hiện, độ phong phú loài cây, xác định tính đa
dạng loài); Quy luật phân bố số loài, số cây theo cấp chiều cao; Những nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng cây tái sinh trong trạng thái rừng IIB tại khu vực
nghiên cứu.
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Phú Đình và xã Quy Kỳ huyện Định Hóa,
tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2012.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc cây tái sinh
+ Đặc điểm cấu trúc tổ thành, cây tái sinh
+ Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh
+ Mật độ và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng.
+ Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học (Shannon - Weaver).
- Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh
+ Phân bố số cây theo cấp chiều cao.
18
19
- 19 -
+ Phân bố loài cây theo cấp chiều cao.
- Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho trạng thái rừng phục hồi
trạng thái IIB tại khu vực nghiên cứu.

- Đường kính ngang ngực (D
1,3
, cm) được đo bằng thước kẹp kính với độ
chính xác đến mm, đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số
bình quân.
D
1,3
=
Π
C
Trong đó: D
1.3
: đường kính ngang ngực
C: chu vi của cây đo tại vị trí 1,3 m
- Chiều cao vút ngọn (H
VN
, m) và chiều cao dưới cành (H
DC
, m) được
đo bằng thước độ chính xác đến deximeet, H
VN
của cây rừng được xác định từ
gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, H
DC
được xác định từ gốc cây đến cành
cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng.
- Đường kính tán lá (D
T
, m) được đo bằng thước dây có độ chính xác đến
deximeet, đo hình chiếu tán lá trên mặt phằng ngang theo hai hướng Đông Tây

quả của hai lần tính trên hai đường chéo và chia trung bình ta sẽ có độ che
phủ trung bình của một ODB.
3.3.2.2. Phương pháp nội nghiệp
a. Tổ thành tầng cây gỗ: Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỉ lệ mỗi loài hay nhóm
loài tham gia tạo thành rừng, tuỳ thuộc vào số lượng loài có mặt trong lâm
phần mà phân chia lâm phần thành rừng thuần hoài hay hỗn loài, các lâm
phần rừng có tổ thành loài khác nhau thì chức năng phòng hộ, bảo vệ môi
trường sinh thái và tính đa dạng sinh học cũng khác nhau.
Để đánh giá đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái của quần hợp cây gỗ,
chúng tôi sử dụng chỉ số mức độ quan trọng (Importance Value Index = IVI),
tính theo công thức:

2
(%)
GiNi
IVIi
+
=
(3.1)
Trong đó: IVI
i
là chỉ số mức độ quan trọng (tỷ lệ tổ thành) của loài thứ i.
N
i
là độ phong phú tương đối của loài thứ i:

(3.2)

21
100(%)

Ni
x
Di
xha
m
G
s
i






Π=

=
(3.4)
Với G
i
là đường kính 1, m (D
1,)
của cây thứ i; s là số loài trong quần hợp.
Theo đó, những loài cây có chỉ số IVI ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa về
mặt sinh thái trong lâm phần. Theo Thái Văn Trừng (1978) trong một lâm
phần nhóm loài cây nào chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì
nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế.
b. Tổ thành cây tái sinh: Xác định số cây trung bình theo loài dựa vào công thức:

m

Trong đó: - j =1,
- m là số thứ tự loài.
Nếu:
- n
%j
≥ 5% thì loài j được tham gia vào công thức tổ thành
- n
%i
< 5% thì loài j không được tham gia vào công thức tổ thành.
Hệ số tổ thành:
10
N
n
K
i
i
×=
(3.7)
Trong đó: - K
i
: Hệ số tổ thành loài thứ i,
22
100(%)
1
x
Gi
Gi
Gi
s
i

chỉ số Shannon (Magurran, 1988), chỉ số Berger-Parker (Magurran, 1988), chỉ
số Brillouin (Brillouin, 1962), chỉ số Simpson (Simpson, 1949), chỉ số Alpha
(Magurran, 1988), chỉ số McIntosh (McIntosh, 1967), chỉ số Margalef
(Margalef, 1958), chỉ số Menhinick (Magurran, 1988). Trong đề tài, chúng tôi
chọn chỉ số Shannon để đánh giá tính đa dạng của các quần hợp cây tái sinh
đã nghiên cứu vì chỉ số này đánh giá tổng hợp cả độ đa dạng loài (số loài)
và độ đa dạng trong loài (số cá thể của từng loài):

NN
H
nn
i
s
i
i
ln'
1

=
−=
(3.9)
Trong đó: S: là số loài trong quần hợp; n
i
:là số cá thể loài thứ i trong
quần hợp; N :là tổng số cá thể trong quần hợp.
d. Mật độ cây tái sinh: Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một
đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:

S
n 10.000

4.1. Đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ trạng thái rừng IIB tại huyện Định
Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Cấu trúc tổ thành đề cập đến sự tổ hợp và mức độ tham gia của các
thành phần thực vật trong quần xã, đối tượng là loài cây. Tổ thành là một
trong những chỉ tiêu cấu trúc quan trọng, nó cho biết số loài cây và tỷ lệ của
mỗi loài hay một nhóm loài cây nào đó trong lâm phần. Tổ thành còn là chỉ
tiêu dùng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bền vững
của hệ sinh thái rừng. Cấu trúc tổ thành của một lâm phần rừng nói lên toàn
bộ giá trị của lâm phần.
Bảng 4.01. Tổ thành và mật độ tầng cây gỗ trạng thái rừng IIB
tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Địa
điểm
OTC
N/ha
(cây)
Số
loài /
OTC
(loài)
Số
loài
ưu thế
(loài)
Công thức tổ thành cây gỗ
Quy
Kỳ
1 476 20 8
14Ch + 10,75Tn + 9,22Lx + 7,28Tr + 6,76Mt
+6,50Bđ + 5,90Kv + 5,80Tm +33,79LK


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status