MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Giải thích
IUCN
: International Union for Conservation of Nature
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
UNDP
: United Nations Development Programme
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
WWF : World Wide Fund For Nature
Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên
Hvn : Chiều cao vút ngọn
D
1,3
: Đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m
H
VN
: Chiều cao vút ngọn trung bình
OTC : Ô tiêu chuẩn
ODB : Ô dạng bản
Đ,T,N,B : Đông, Tây, Nam, Bắc
IVI : Chỉ số tổ thành sinh thái tầng cây gỗ( Importance
Value Index)
CTV : Cây triển vọng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Nội dung bảng Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình Nội dung hình Trang
5
Phần 1
MỞ ĐẦU
được bảo vệ và dần phục hồi trở lại, diện tích rừng ngày càng tăng, diện tích
đất trống đồi núi trọc ngày càng giảm. Thực tiễn đã chứng minh rằng để thực
hiện tốt mục tiêu là tiết kiệm được thời gian, tiền của trong công tác phục hồi
rừng thì cần có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất và qui luật phát triển của hệ
sinh thái rừng, trước hết là quá trình tái sinh tự nhiên. Đồng thời cũng phải
căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước, mỗi vùng.
Việc nghiên cứu những đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng là rất cần
thiết, đó sẽ là cơ sở để đưa ra các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm
tác động vào rừng để giúp cho quá trình tái sinh tự nhiên của rừng diễn ra
được thuận lợi hơn, giúp nâng cao chất lượng rừng.
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt
đới. Tuy nhiên, rừng nhiệt đới là một đối tượng hết sức đa dạng và phức tạp,
trong khi các nghiên cứu thường mới chỉ tập trung tại một điểm, một vùng
hay một khu vực nhất định nào đó. Vì vậy, tái sinh tự nhiên vẫn đang là nội
dung cần được tiếp tục nghiên cứu.
Xuất phát từ lý do đó, được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm
Thái nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên rừng phục hồi trạng
thái IC tại huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đánh giá thực trạng khả năng tái sinh tự nhiên trạng thái rừng phục hồi IC tại
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp xúc tiến quá
trình phục hồi nhằm nâng cao chất lượng rừng và các quá trình diễn ra trong hệ sinh thái
rừng tự nhiên.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên làm cơ sở khoa học
cho việc đề xuất giải pháp lâm sinh thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế và nâng
cao chất lượng của rừng phục hồi.
Nghiên cứu các qui luật tái sinh tự nhiên và bổ sung thêm tư liệu về tái
sinh rừng.
đạt từ 1000 cây/ha trở lên)[12].
Tái sinh tự nhiên là quá trình tạo thành thế hệ rừng mới bằng con đường
tự nhiên về cơ bản không có sự tác động của con người. Kết quả của phương
thức tái sinh tự nhiên này phụ thuộc vào quy luật khách quan của tự nhiên.
2.1.2. Khái niệm tái sinh rừng
Hiện nay có rất nhiều những khái niệm có đề cập đến tái sinh rừng,
dưới đây là một số những khái niệm.
Phùng Ngọc Lan (1986)[7] Tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa rộng là
sự tái sinh của cả hệ sinh thái rừng. Tái sinh rừng, hiểu theo nghĩa hẹp là quá
trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng.
Ngô Quang Đê và cộng sự (1992)[4] tái sinh tự nhiên là quá trình hình
thành rừng mới bằng con đường tự nhiên về cơ bản không có sự tác động của
con người. Kết quả của phương thức tái sinh này phụ thuộc vào quy luật
khách quan của tự nhiên. Tái sinh nhân tạo là phương thức tái sinh có sự tác
động tích cực của con người từ khi gieo trồng, chăm sóc rừng mới trên đất
rừng. Về mặt kỹ thuật tái sinh nhân tạo và trồng rừng là giống nhau nhưng
8
9
khác nhau ở địa điểm tiến hành. Trồng rừng là tiến hành trên đất chưa có rừng
hoặc có rừng nhưng đã mất từ lâu, đất không có tính chất đất rừng. Cây tái
sinh có triển vọng là cây con tái sinh có chiều cao bằng hoặc vượt chiều cao
thảm tươi, cây bụi xung quanh nó và có phẩm chất từ trung bình trở lên. Khi
vận dụng quy luật này cần thống nhất ba yêu cầu sau: thứ nhất, cây đó qua
thời gian cây mạ, có khả năng chống đỡ với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh;
Thứ hai, chiều cao cây tái sinh phải bằng hoặc vượt chiều cao cây bụi, thảm
tươi xung quanh nó; Thứ ba, cây có sinh lực tốt, không cong queo, sâu bệnh.
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh
thái rừng. Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây
con của những loài cây gỗ ở nơi có hoàn cảnh rừng:dưới tán rừng,lỗ trống
trong rừng, rừng sau khai thác, trên đất rừng sau làm nương rẫy… Theo nghĩa
thấy “Cây con của các của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm
hoặc vắng hẳn” mà ông gọi là hiện tượng “Không bao giờ sinh đẻ con cái”
của cây mẹ trong thành phần cây gỗ ở rừng mưa. Tổ thành loài cây mẹ ở tầng
trên và tổ thành cây tái sinh ở tầng dưới thường khác nhau rất nhiều.
A.Obrevin đã khái quát hoá các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi
để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhưng phần lý giải các hiện tượng
đó còn bị hạn chế. Vì vậy các lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa
giúp ích cho thực tiễn sản xuất cá biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng
theo các mục tiêu kinh doanh đã đề ra.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít
được nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở rừng mưa
thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng
đã út nhiều bị biến đổi. Van Steenis (1956)[14] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái
sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài
cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưu sáng. Ông gọi các loài cây
tiên phong là các loài cây tạm cư, còn các loài cây mọc sau là những loài định
cư hay định vị. Cách tái sinh để hàn gắn các lỗ trống trong tán rừng được ví
như cách hàn gắn những vết thương ở cơ thể con người, mà loài cây tạm thời
thì giữ vai trò của bạch huyết làm đông máu. Mangenot lại gọi những loài cây
đó là những loài “làm liền vết sẹo”.
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng
cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) với diện tích ô
đo đếm thông thường từ 1 đến 4m2. Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi
trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình
tái sinh rừng. Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard
10
11
(1950) đã đề nghị một phương pháp “điều tra chẩn đoán” mà theo đó kích
thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở
các trạng thái rừng khác nhau.
12
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng
(thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi,
thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng,
cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này. Tác
giả G. N. Baur (1976)[13] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát
triển của cây con còn đối với sự nẩy mầm và phát triển của cây mầm ảnh
hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh
trưởng của cây tái sinh. Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém
phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh. Nhìn chung ở rừng
nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài
cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây
có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở
các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy.
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy
từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981,1992) đã cho biết
chỉ số đa dạng loài rất thấp. Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của
quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá. Long Chun và cộng sự
(1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại
Xishuangbanna tỉnh Vân Nam - Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi, 167 loài.
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả
nghiên cứu. Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và
Venezuela nhận xét: sau khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu
đến rừng thành thục. thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào
tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình
tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác
của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban). Kết quả nghiên cứu của tác giả
Lambertetal (1989), Warner (1991), Rouw (1991) đều cho thấy quá trình diễn
Lan (1984)[6] đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm
trường Hữu Lũng, Lạng Sơn. Ngay từ giai đoạn nẩy mầm, bọ xít là nhân tố
gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nẩy mầm.
Trần Ngũ Phương (2000)[9] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng
tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của
rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên
già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có
13
14
một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay
thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian
xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ
xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế
thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi dưới dạng
gần giống với rừng khí hậu ban đầu”.
Vũ Đình Huề (1969) đã chia tái sinh ra làm 5 cấp: Rất tốt, tốt, trung
bình, xấu, và rất xâu. Trong nghiên cứu này, việc đánh giá tái sinh mới chỉ
dựa vào số lượng chưa quan tâm đến chất lượng tái sinh.
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền
Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về lượng,
chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi. Qua đó, tác giả kết luận:
rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn
nhất so với các vùng khác. Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn,
trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng. Rừng Tây Bắc phần lớn
diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện
nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và
nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ
Nguyễn Thị Thoa (2003)[11] tái sinh là một quá trình sinh học mang
tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, mà biểu hiện là sự xuất hiện của một thế hệ
cây con của những loài cây gỗ. Hiểu theo nghĩa hẹp tái sinh rừng là một quá
tái sinh, số lượng cây tái sinh. Trên cơ sở phân tích toán học về phân bố cây
tái sinh cho toàn lâm phần, tác giả cho rằng loại rừng trung bình (IIIA2) cây
tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh có
phân bố cụm
Từ những kết quả nghiên cứu trên đã cho thấy rằng, vấn đề tái sinh tự
nhiên đã được các nhà lâm sinh học trong nước quan tâm rất nhiều và đươc
thể hiện qua những công tình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố và
đăng trên các tạp chí. Các kết quả trên đã đặt ra nền móng cho việc lựa chọn
đối tượng, đề xuất và lựa chọn các giải pháp khoanh nuôi phục hồi rừng và
kinh doanh rừng một cách bền vững.
2.2. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung điều tra nghiên cứu trên địa
bàn của hai xã đó là xã Quân Chu và xã La Bằng, đây là địa điểm nghiên cứu
chính của đề tài.
15
16
2.2.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã La Bằng
2.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Xã La Bằng là xã miền núi nằm ở phía Tây của huyện Đại Từ, có vị trí
địa lý tiếp giáp với các đơn vị sau:
Phía bắc giáp xã Phú Xuyên
Phía Nam giáp xã Hoàng Nông
Phía đông giáp xã Bản Ngoại
Phía Tây giáp huyện Sơn Dương - tỉnh Tuyên Quang
b. Địa hình - Đất đai
La Bằng là một xã miền núi nên địa hình đặc trưng là các dãy núi có độ
dốc lớn và bị chia cắt bởi hệ thống sông suối và khe rạch. Địa hình dốc dần từ
Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc trung bình từ 2-6%
Xã La Bằng có:
được khai thác. Có nguồn tài nguyên khoáng sản đá, cát, sỏi cung cấp cho các
công trình xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như phục vụ cho xây dựng của nhân
dân địa phương.
- Nguồn nhân lực: Theo điều tra tại thời điểm 01/10/2010 tổng số người
trong độ tuổi lao động là 2513 người, trong đó lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp 2136 người (chiếm 85%), lao động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ là 377 người (chiếm 15%). Với thu nhập bình quân
đạt 14tr đồng/người/năm (2010) (bằng 0,96 lần so với mức thu nhập bình
quân chung của tỉnh Thái Nguyên đối với khu vực nông thôn).
2.2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã La Bằng có 3766 khẩu /937 hộ gia đình; số hộ nghèo của xã năm
2011 theo chuẩn mới là:152 hộ chiếm 16,8%.
- Y tế: có 01 trạm y tế với 5 cán bộ và 10 nhân viên y tế thôn bản phục
vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân trong xã.
- Chợ: Trên địa bàn xã có 1 chợ (Chợ La Bằng) nằm giáp ranh giữa
xóm La Bằng và xóm Đồng Tiến, với tổng diện tích 3500m2, đáp ứng một
phần nhu cầu giao lưu thương mại của địa phương
- Giáo dục: Xã có 3 nhà trường: 1 trường THCS, 1 trường Tiểu học, 1
trường Mầm Non xã với tổng số học sinh của 3 nhà trường: 673 học sinh và
61 thầy cô giáo làm công tác giảng dạy. Cả 3 trường đều đạt chuẩn quốc gia.
17
18
100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, không có trẻ em bỏ học
sớm, tỷ lệ tốt nghiệp các cấp hàng năm đạt 100%.
- Điện: Toàn xã có 4 trạm biến áp, nguồn điện hiện nay đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt, nhưng chưa đủ công suất để phục vụ cho sản xuất của nhân dân
trong xã. Tỷ lệ hộ sử dụng điện là 99%.
- Giao thông: Tổng số km đường giao thông trên địa bàn xã là
46,88km. Xã có 13,2 km đường liên xã, 10,1km đường liên thôn, với 9,89km
đường đã được cứng hoá.
- Phía Đông giáp thị trấn Quân Chu và xóm Thậm Thình (thuộc xã
Cát Nê).
- Phía Bắc giáp xã Cát Nê (thuộc huyện Đại Từ).
- Phía Nam giáp xã Phúc Thuận (thuộc huyện Phổ Yên).
- Với vị trí địa lý này, xã có điều kiện phát huy khai thác tiềm năng đất
đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế xã hội.
b) Địa hình
Xã Quân Chu có địa hình mang nhiều nét đặc trưng của vùng núi, trung
du. Là địa hình tiếp giáp giữa dãy Tam Đảo và thung lũng chân Tam Đảo có
độ cao thấp khác nhau, có độ cao từ 300 - 600m. Phía đông Bắc là thung lũng
hẹp trải dài dọc xã xen lẫn những quả đồi nhỏ, thấp.
c) Khí hậu thuỷ văn
Theo số liệu của tỉnh Thái Nguyên, khí hậu xã Quân Chu cũng như huyện
Đại Từ chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Theo số liệu
thống kê, xã Quân Chu có một số đặc điểm về khí hậu, thuỷ văn như sau:
* Khí hậu:
- Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm:
+ Nhiệt độ trung bình năm từ 24º - 26ºC
+ Lượng mưa bình quân tương đối cao 1872 mm/năm
+ Độ ẩm bình quân 80 - 85%
- Gió:
+ Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
+ Gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10.
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9.
+ Lũ lụt thường từ tháng 6 đến tháng 8.
+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
19
20
+ Tháng khô hanh nhất vào tháng 12 và tháng 1.
- Sương:
cho đến nay là 868 học sinh và 73 thầy cô giáo.
20
21
- Y tế: Xã có 1 trạm xá gồm 6 phòng, có 1 bác sỹ và 3 y sĩ. Trạm xá đã
thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân. Trạm có khả
năng sơ cấp cứu ban đầu cho bệnh nhân trước khi chuyển tới bệnh viện.
- Tình hình trật tự an toàn xã hội: Thực hiện đồng bộ các biện pháp
nghiệp vụ quản lý địa bàn, quản lý đối tượng, xây dựng các phương án đấu
tranh phòng ngừa tội phạm, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ n
nạ xã hội. Trong năm 2010, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã Quân Chu
nhìn chung cơ bản ổn định, không có mâu thuẫn, không có khiếu kiện trong
quần chúng nhân dân, không có đối tượng nghiện hút, bên cạnh đó nạn cờ bạc
vẫn còn nhưng với quy mô nhỏ lẻ.
c) Giao thông, điện
- Đã có đường liên thôn, liên xóm, có đường ô tô đến được trung tâm
các xóm, có 5.4km đường bê tông nông thôn.
- Xã đã được đầu tư lưới điện Quốc gia, đến nay có 98% số hộ gia đình
đã có điện lưới Quốc gia.
d) Hệ thống thuỷ lợi
Xã có 18 đập dâng nước và 17,8km kênh mương phục vụ tưới tiêu cho
143ha diện tích lúa nước, trong đó đập đã được kiên cố là 3 đập, có 2,3km
kênh mương đã được kiên cố hoá.
2.2.2.3. Nhận xét chung
* Thuận lợi:
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của huyện uỷ, UBND huyện Đại Từ.
Toàn Đảng, cùng với sự thuận lợi về những nguồn lực sẵn có như điều kiện tự
nhiên, khí hậu, đất đai, thuỷ văn, nguồn lao động… Toàn thể cán bộ và nhân
dân các dân tộc trong xã đã thực hiện tốt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng,
HĐND và các văn bản chỉ đạo của cấp trên trong việc điều hành thực hiện
hoàn thành các mục tiêu kinh tế - chính trị trong 6 tháng đầu năm 2011. Vẫn
loài, số cây theo cấp chiều cao; những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cây
tái sinh trong trạng thái thảm thực vật trạng thái rừng IC tại huyện Đại Từ.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Xã Quân Chu
Xã La Bằng
- Thời gian: Tiến hành từ tháng 02/2012 đến tháng 06/2012.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Khái quát đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc cây tái sinh
+ Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh.
+ Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng.
+ Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học (Shannon - Weaver).
+ Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh.
- Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh
+ Phân bố số cây theo cấp chiều cao.
+ Phân bố loài cây theo cấp chiều cao.
- Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên
+ Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng.
+ Ảnh hưởng của yếu tố địa hình đến tái sinh rừng.
+ Ảnh hưởng của yếu tố con người đến tái sinh rừng.
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho trạng thái trạng thái rừng IIA tại
khu vực nghiên cứu.
23
24
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp luận
Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật
rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) Thảm thực vật rừng là tấm gương
phản chiếu một cách trung thành nhất mà lại tổng hợp được các điều kiện của
hoàn cảnh tự nhiên đã thông qua sinh vật để hình thành những quần thể thực
- Phân bố: OTC đặt ngẫu nhiên, đại diện cho địa hình, độ dốc, điều kiện
thổ nhưỡng khác nhau. Các OTC được đánh dấu ngoài hiện trường thông qua
hệ thống cột mốc gồm 4 cột đặt ở 4 góc của ô. Phần trên mặt đất 0,5m ghi rõ
số hiệu OTC và hướng xác định các góc còn lại.
24
25
- Thu thập số liệu: Trong trạng thái lập 3 OTC theo phương pháp điển
hình. Trong mỗi ô, thống kê các chỉ tiêu tầng cây gỗ như sau:
+ Đo đường kính với những cây gỗ có D
1.3
≥ 6 cm bằng thước kẹp kính hoặc thước
đo chu vi sau đó quy đổi ra đường kính.
+ Đo chiều cao H
vn
và H
dc
bằng thước sào đo cao chia vạch đến 0,1 m.
+ Đo đường kính tán D
t
theo hướng ĐT - NB sau đó lấy giá trị trung bình.
* Đối với ô thứ cấp:
Trong OTC, lập 5 ô thứ cấp 25 m
2
(5 m x 5 m) trong đó 4 ô ở 4 góc và 1 ở giữa.
Điều tra thống kê toàn bộ những cây tái sinh có D
1.3
< 6 cm vào phiếu điều tra theo các chỉ
tiêu:
- Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định.
- Đo chiều cao cây tái sinh bằng thước sào.