Kinh tế đầu tư 49C
Mục lục
Lời mở đầu
Trong những năm qua,Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tốc độ tăng trưởng nhanh,đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện, xoá đói giảm nghèo và phát triển con
người có những thành tựu to lớn,sức sản xuất được giải phóng mạnh
mẽ.Những thành tựu về kinh tế đã tạo tiền đề cho sự ổn định về chính trị -xã
hội,chủ quyền quốc gia được giữ vững.
Để có sự thay đổi đó thì có sự đóng góp to lớn của hoạt động đầu tư
phát triển và công tác quản lý đầu tư.Vì tầm quan trọng của công tác đầu tư
đối với nền kinh tế nên vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu kĩ lưỡng những đặc
điểm của đầu tư phát triển từ đó có phương hướng vận dụng các đặc điểm đó
trong công tác quản lí hoạt động đầu tư cho phù hợp.
1
Kinh tế đầu tư 49C
Bài viết “Đặc điểm của đầu tư phát triển và sự quán triệt các đặc điểm
đó vào công tác quản lý đầu tư” tập trung làm rõ các đặc điểm của đầu tư
phát triển và làm rõ yêu cầu đối với việc quán triệt các đặc điểm này trong
công tác quản lí đầu tư của mỗi quốc gia.Đánh giá tình hình quán triệt các
đặc điểm của đầu tư trong công tác quản lí đầu tư ở Việt Nam trong khoảng
10 năm trở lại đây từ năm 2000-2009
Nhóm thực hiện xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Quang Phương và
TS.Phạm Văn Hùng đã hướng dẫn và giúp đỡ cho việc hoàn thành bài viết
này.
Trong quá trình thực hiện mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng cũng
không thể tránh khỏi những thiếu sót.Vì vậy rất mong sự đóng góp bổ xung
của bạn đọc để bài viết ngày càng hoàn thiện hơn
Nhóm 1,lớp Kinh tế Đầu tư 49C
Chương I : Những vấn đề lí luận chung về đầu tư phát triển và đặc điểm
của đầu tư phát triển
Đầu tư
Đầu tư trực tiếp Đầu tư gián tiếp
Đầu tư phát triển
3
Đầu tư dịch chuyển
Kinh tế đầu tư 49C
chất trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản.Chẳng hạn
như việc nhà đầu tư mua một số lượng cổ phiếu với mức khống chế để có
thể tham gia vào hội đồng quản trị của một công ty,các trương hợp thôn
tính,sáp nhập
1.1.3 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là một hình thức của đầu tư trực tiếp trong đó việc
bỏ vốn nhằm gia tăng tài sản thực chất tức là làm gia tăng những tài sản vật
chất(nhà xưởng,thiết bị…), và tài sản trí tuệ( tri thức ,kĩ năng…).Hoạt động
đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất và kinh doanh
hoặc cải tạo ,mở rộng năng lực hiện có,tạo thêm việc làm vì mục tiêu phát
triển.
Đầu tư phát triển đem lại hiệu quả không chỉ cho nhà đầu tư mà cả
nền kinh tế xã hội cũng được hưởng thụ.Còn đầu tư gián tiếp và đầu tư dich
chuyển chỉ trực tiếp làm gia tăng tài sản của chủ đầu tư ,tác động gián tiếp
đến làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích lũy
của các hoạt động đầu tư phát triển,thúc đẩy quá trình lưu thông phân phối
các sản phẩm do các kết quả của đầu tư phát triển tạo ra.
Như vậy trong các hình thức đầu tư thi đầu tư phát triển là tiền đề ,là
cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác .Các hoạt động đầu tư gián tiếp,dịch
chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển.Vì thế
trong phạm vi đề tài chỉ đề cập tới đầu tư phát triển (gọi tắt là đầu tư).
1.2. Phân loại đầu tư phát triển
Trong công tác quản lí và kế hoạch hoạt động đầu tư các nhà kinh tế
phân loại hoạt động đầu tư theo nhiều tiêu thức khác nhau .Mỗi tiêu thức
5
Kinh tế đầu tư 49C
hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện ngắn,vốn vận động nhanh còn đầu
tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn,vốn đầu tư lớn,thu hồi lâu
+ Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư:
Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn.
+ Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp.
+ Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia: Đầu tư bằng nguồn vốn trong
nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài .
+ Theo vùng lãnh thổ: Đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ, các vùng
kinh tế trọng điểm, đầu tư phát triển khu vực thành thị và nông thôn…
1.3 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau :
+ Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu
tư thường rất lớn.
Vốn đầu tư nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự
án trọng điểm quốc gia. Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi
ngộ cần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu
từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất
những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lao
động, giải quyết lao động dôi dư…
+ Thời kỳ đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực
hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình
đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm.
6
Kinh tế đầu tư 49C
+ Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian này
tính từ khi dưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn hoạt động
quả an toàn và tác động tích cực của thị trường đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô.
Đối với vốn trong nước ta tạo điều kiện huy động vốn hợp lý bằng cơ
chế lãi suất và những chính sách khuyến khích cổ phần hóa làm tăng nguồn
vốn cho đầu tư phát triển, thực hiện đầu tư có trọng điểm,quản lý vốn đầu tư
nhằm nâng cao hiệu quả của nguổn vốn sử dụng.
Đối với những nguồn vốn nước ngoài ta nên thực hiện chủ trương mở
cửa,giảm các thủ tục rườm rà,tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu
tư. điều chỉnh quy hoạch ngành, nhằm dỡ bỏ các hạn chế đối với nhà đầu tư
nước ngoài, phù hợp với các cam kết quốc tế song phương và đa phương;
ban hành các quy hoạch ngành còn thiếu như quy hoạch mạng lưới các
trường đại học, dạy nghề cùng các điều kiện, tiêu chuẩn cấp phép cho các dự
án thuộc lĩnh vực này; đồng thời tăng cường đầu tư nâng cấp các công trình
cơ sở hạ tầng, rà soát các dự án đã được cấp phép
Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án ,vừa để tránh ứ đọng
vốn nên các nguồn tài trợ không chỉ xem xét về mặt số lượng mà về cả thời
điểm nhận được tài trợ. Các nguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc chắn.
Sự đảm bảo này thể hiện ở tính pháp lí và cơ sở thực tế của các nguồn vốn
huy động.
8
Kinh tế đầu tư 49C
Những nguồn vốn sau khi dc huy động ta phải quản lý chặt chẽ,tránh thất
thoát nguồn vốn cũng như sử dụng nguồn vốn không hiệu quả
Lao động sử dụng cho đầu tư phát triển là rất lớn
Đầu tư phát triển cần rất số lượng lớn về lao đông,đặc biệt là công
nhân kĩ thuật ,những lao động có kiến thức về kĩ năng quản lí ,những sinh
viên tốt nghiệp đại học,cao đẳng. Hiện nay nhu cầu về những lao động này
của tất cả các nước trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng là rất lớn
nhưng khả năng đáp ứng là chưa đủ,lượng lao động trong nước chủ yếu là
nông dân và lao động trình độ thấp. Hiện tượng “thiếu về lượng,yếu về chất”
vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực
tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt
chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nhất là
trong xâu dựng cơ bản.
+ Mặt khác, cần rút ngắn thời gian đầu tư, đảm bảo đúng tiến độ
thi công công trình. Thời gian hoàn thành dự án càng ngắn thì chi phí
và rủi ro càng ít. Hoạt động đầu tư luôn luôn gắn liền với yếu tố rủi
ro, điều quan trọng là nhận biết và khắc phục được chúng trong quá
10
Kinh tế đầu tư 49C
trình thực hiện đầu tư. Kéo dài thời gian thực hiện là kéo thêm một
khoản chi phí ( chi phí vốn, chi phí nguyên vật liệu, chi phí trả lương
công nhân, chi phí tăng do lạm phát...), tăng thêm những rủi ro, bất
trắc, mất đi cơ hội cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả đầu tư vì thế
cũng giảm sút.Bên cạnh đó cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguyên
vật liệu, tránh lãng phí, nâng cao hiệu suất sử dụng. Mặt khác cũng
cần có sự đầu tư về mặt công nghệ, lắp đặt các dây chuyền thiết bị
hiện đại, phù hợp với trình độ quản lý và sử dụng giúp cho chủ đầu tư
nâng cao được chất lưọng sản phẩm, mặt khác lại tiết kiệm được đáng
kể chi phí về vận hành, về nhân công, nguyên vật liệu và năng lượng,
góp phần nâng cao hiệu quả trong thực hiện đầu tư.
1.4.3 Đối với đặc điểm thứ ba “Thời gian vận hành các kết quả đầu
tư kéo dài”.
Đây là giai đoạn quyết định tới việc dự án có thực hiện được các mục
tiêu đề ra hay không,là quá trình thu hồi vốn,hiệu quả việc khai thác các
nguồn lực được biểu hiện rõ nhất.Giai đoạn này kéo dài thường là vài
năm,thậm chí vài chục năm hoặc lâu hơn do dó chịu tác động của rất nhiều
yếu tố chủ quan lẫn khách quan.Vì vậy yêu cầu đặt ra đó là
Thứ nhất, xác định cơ chế và phương pháp dự báo khoa học ở cấp độ
vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường của sản phẩm dự án trong tương
+ hợp tác nhằm thực hiện mục tiêu chung.
12
Kinh tế đầu tư 49C
Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ thì xảy ra
hiên tượng hao mòn vô hình.đó là hiên tượng suy giảm thuần túy về giá trị
của các tài sản cố định.Sự hao mòn vô hình ngày càng diễn ra mạnh mẽ,các
máy móc thiết bị có thể bị lỗi thời nhanh chóng.Khoa học công nghệ cũng
tác động làm rút ngắn vòng đời của sản phẩm.Vì vậy mà sau khi hoàn thành
giai đoạn thực hiện đầu tư phải nhanh chóng đưa thành quả đầu tư vào sử
dụng,phát huy tối đa công suất nhằm tránh hao mòn vô hình.Một nguyên
nhân khác dẫn đến yêu cầu này đó là do nguồn vốn của dự án thường là vốn
đi vay.nguồn vốn bị khê đọng không sinh lời trong suốt quá trình thực hiện
đầu tư nhưng vẫn phải chịu chi phí lãi suất,do đó đưa thành quả đầu tư vào
sử dụng càng sớm thì càng nhanh chóng thu hồi vốn,tiết kiệm được chi phí
vốn.
Để nhanh chóng đưa vào sử dụng và phát huy tối đa công suất thì yêu
cầu đặt ra là chủ đầu tư phải chuẩn bị một lượng vốn nhất định phục vụ chu
kì đầu của sản xuất,tránh tình trạng sau khi xây xong dự án lại phải nằm chờ
vì không có tiền cho sản xuất.Mặt khác phải đảm bảo nguồn cung nguyên
liệu lâu dài và ổn định cho dự án
Thứ ba,chú ý đúng mức tới độ trễ thời gian trong đầu tư.Đầu tư năm
nay nhưng thành quả đầu tư chưa chắc phát huy tác dụng ngay trong năm
đó.Đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư ,ảnh hưởng lớn tới công tác
quản lí hoạt động đầu tư.
1.4.4 Đối với đặc điểm thứ tư “Các thành quả của hoạt động đầu tư
phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay
tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như
thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố
về tự nhiên, kinh tế xã hội vùng.
Trước hết cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng
Kinh tế đầu tư 49C
đa. Các điều kiện khí hậu, môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến tuổi thọ và
sự hoạt động liên tục của công trình. Một công trình được xây dựng tại nơi
có khí hậu không thuận lợi, thường xuyên gặp thiên tai thì chi phí tu sửa là
rất tốn kém, hay những địa điểm có nhiệt độ không ổn định, biến động lớn
thì các công trình cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Điều kiện địa chất :
bao gồm đặc điểm địa hình, địa mạo, cấu trúc địa chất, đặc điểm kiến tạo,
đặc điểm địa chất thủy văn, khí tượng thủy văn, các tính chất cơ-lý của đất,
đá có yếu tố quyết định đến kiểu dáng, hình dạng, cơ cấu của công trình .
Khi xem xét lựa chọn địa điểm đặt công trình phải hết sức chú ý các yếu tố
tự nhiên này, bởi vì đây là những yếu tố khách quan tác động trực tiếp đến
công trình.
+ Ngoài ra, địa điểm phải gần nguồn cung cấp nguyên liệu hay thị
trường tiêu thụ của dự án, hoặc gần nguồn cung cấp nguồn lao động để giải
quyết được vấn đề chi phí nguyên, nhiên, vật liệu, nhân lưc cũng như thị
trường tiêu thụ. Khi đặt công trình xây dựng ở một địa điểm còn phải tính
đến các cơ sở hạ tầng sao cho thuận lợi nhất như về điện, nước, giao thông
vận tải, thông tin liên lạc…
Bộ máy tổ chức quản lý hành chính kinh tế- xã hội của địa phương
cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự hoạt động
của dự án.
Ở cấp độ vĩ mô thì việc lựa chọn địa điểm cũng gắn liền với vấn đề
quy hoạch vùng . Cần phải có tầm nhìn dài hạn để định hướng phát triển một
cách bền vững, ổn định. Trong công tác quy hoạch đòi hỏi phải có những
bước đi vững chắc để đi đến mục tiêu cuối cùng là từng bước ổn định đời
sống dân cư, nâng cao đời sống.
1.4.5 Đối với đặc điểm thứ năm “Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao”.
15
Kinh tế đầu tư 49C
Mục tiêu quan trọng hàng đầu của bất cứ hoạt động sản xuất
giá mức độ rủi ro, nghiên cứu tại các dự án có tính chất tương tự để có
thể áp dụng vào trường hợp riêng của mình.Từ hai công việc trên:
nhận định rủi ro và đánh giá rủi ro sẽ đưa ra biện pháp phòng chống
cho phù hợp. Trong công tác phòng chống cần đề cao quản lý, giám
sát việc xử lý rủi ro không để tình trạng sau khi xử lý rủi ro lại để tái
phát trở lại, hoặc làm phát sinh những rủi ro khác.
Việc xử lý rủi ro phải được xem như là một yếu tố cơ bản trong hướng
quản lý dự án. Việc đối phó, xử lý rủi ro phải có hướng chủ động, ví dụ như
là các biến cố bất lợi có khả năng xảy ra được chuẩn bị trước thì tốt hơn là
việc đối phó với các biến cố bất lợi sau khi mà chúng xảy ra. Hướng chủ
động này tạo ra thời gian cho các nhà quản lý tìm ra được các hướng khác
17
Kinh tế đầu tư 49C
nhau và các kế hoạch hành động rồi từ đó lựa chọn cách giải quyết thích hợp
mà nó đúng với mục tiêu của dự án nhất
Cần có phương pháp tránh rủi ro, quá trình cần thiết để làm giảm bớt
đi khả năng xuất hiện đối với mỗi rủi ro đã lựa chọn để giải quyết. mỗi một
phạm vi chuyên môn xác định được những hành động nào nên được tiến
hành để tránh hoặc để giàm khả năng xuất hiện rủi ro được lựa chọn giải
quyết. ngoài ra cũng phải xét hiệu quả sinh lợi cho hướng tránh rủi ro sắp tới
Chương II : Thực trạng việc quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát
triển trong công tác quản lí đầu tư giai đoạn 2000-2009
2.1 Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam giai đoạn 2000-2009
2.1.1 Sự thay đổi trong chính sách đầu tư của nhà nước
Sau Đại hội Đảng VI (12/1986),Đảng ta đã chủ trương mở cửa nền
kinh tế, thực hiện công cuộc “đổi mới” toàn diện, trong đó có việc hoàn
thiện, nâng Điều lệ Đầu tư năm 1977 thành bộ Luật Đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam năm 1987, đã khẳng định sự đúng đắn của chủ trương, đường lối
mở cửa nền kinh tế của Đảng, góp phần quan trọng vào thành công của sự
nghiệp đổi mới.Tháng 6/1994 luật khuyến khích đầu tư trong nước được
Tỷ lệ đóng góp của vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn
này luôn ở trong khoảng từ 47-50 % .
Nước ta đang ở trong giai đoạn đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội,trình độ phát triển còn lạc hậu, chính vì vậy chúng ta đang đẩy mạnh
đầu tư theo chiều rộng .Vốn đầu tư luôn chiếm tỉ lệ lớn so với GDP.
Bảng 2.1 : Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thời kì 2000-2009
Năm
Thu nhập bình
quân đầu người
(USD)
Tổng vốn đầu tư
toàn xã hội
(tỷ đồng)
Tỷ lệ tổng vốn
đầu tư/GDP
(%)
Tốc độ tăng
trưởng kinh tế
(%)
19
Kinh tế đầu tư 49C
2000 402 151 183 34.23 6.79
2004 553 290 927 40.67 7.79
2005 639 343 135 40.89 8.44
2006 723 404 712 41.54 8.23
2007 834 532 093 46.52 8.46
2008 1034 610 876 41.13 6.23
2009 1200* 704 200 42.00 5.23
Nguồn: Niên giám thống kê 2003,2005,2008
Vốn đầu tư luôn chiếm tỉ lệ cao so với GDP và ngày càng có chiều
có hiệu lực và nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tăng trưởng cao.Bước
sang năm 2009 do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nên vốn
đầu tư nước ngoài giảm 5.65% so với năm 2008.Để đối phó với tình
hình,Chính Phủ đã thông qua gói kích thích kinh tế,gia tăng đầu tư công vì
vậy tỉ lệ vốn đầu tư khu vực nhà nước tăng từ 28,6% lên 34,8 %.
2.1.4 Đánh giá hoạt động đầu tư phân theo ngành kinh tế
Bảng 2.4 :Vốn đầu tư phân theo ngành kinh tế
Năm
Nông nghiệp Công nghiêp
& Xây dựng Dịch vụ
ĐT cho khoa
hoc công
nghệ
Đầu tư khác
Tỷ
đồng
Tỷ lệ
trong
tổng
VĐT
(%)
Tỷ
đồng
Tỷ lệ
trong
tổng
VĐT
(%)
Tỷ
đồng
Kinh tế đầu tư 49C
Ngành dịch vụ gồm: Khách sạn, nhà hàng;thông tin liên lạc;dịch vụ tư
vấn và các dịch vụ liên quan tới kinh doanh tài sản;tài chính tín dụng;vận tải
và kho bãi
Đầu tư khác gồm: đầu tư cho các hoạt động y tế,giáo dục,văn hóa xã
hội,các hoạt động của Đảng,đoàn thể,hiệp hội,đầu tư cho quản lí nhà nước
và an ninh quốc phòng
Nhìn vào bảng 2.3 chúng ta có thể thấy nguồn vốn đầu tư chủ yếu vào
công nghiệp,xây dựng và dịch vụ..Vốn đầu tư vào nông nghiệp vẫn gia tăng
nhưng chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng đầu tư và tỉ lệ này có xu hướng giảm dần
qua các năm.Xu hướng này phù hợp với quá trình công nghiệp hóa ,hiện đại
hóa.Trong vốn đầu tư vào Công nghiệp và Xây dựng thì đầu tư vào CN chế
biến và khai mỏ chiếm tỉ trọng lớn.Tuy nhiên đầu tư cho khoa hoc công
nghệ vẫn rất hạn chế.Trong tương lai cần có những chính sách khuyến khích
đầu tư nhiều hơn cho lĩnh vực này.
2.1.5 Đánh giá về hiệu quả đầu tư
Hiệu quả đầu tư được thể hiện thông qua hệ số ICOR( Incremental
Capital Output Ratio) là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia
tăng sản lượng.Hệ số ICOR của Việt Nam luôn ở mức khá cao,và có chiều
hướng tăng lên sau từng năm,hệ số ICOR 2009 được ước tính là 8 so với
mức 6.6 năm 2008.Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư ở Việt Nam đang ở
mức thấp.
Bảng 2.4 Hệ số ICOR của Việt Nam từ 2004-2008
Năm 2004 2005 2006 2007 2008
ICOR 5.22 4.84 5.05 5.50 6.6
Nguồn: tính toán từ số liệu niên giám thống kê 2008
22
Kinh tế đầu tư 49C
Bảng 2.5 Hệ số ICOR của một số nước giai đoạn 2000-2003
Nước Việt
+ Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP liên tục tăng từ 34,23% năm 2000 đến 42%
23
Kinh tế đầu tư 49C
năm 2009,xếp loại cao nhất thế giới. Đối với nước có điểm xuất phát còn
thấp, muốn tăng trưởng cao và chống tụt hậu xa hơn thì đòi hỏi phải có một
lượng vốn lớn là rất có ý nghĩa.
+ Cơ cấu nguồn vốn huy động đã có bước chuyển dịch quan trọng. Điểm nổi
bật nhất là sự tăng lên mạnh mẽ của đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân, với tỷ
trọng trong tổng số vốn đã tăng từ gần 23% năm 2000 đến gần 40% năm
2009, tăng 17% trong 10 năm. Đó là kết quả của việc thực hiện Luật Doanh
nghiệp. Một điểm nổi bật khác là đã có trên 70 nước và vùng lãnh thổ đầu tư
trực tiếp (FDI) với tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung là 2,8 tỉ$ năm 2000
và 64 tỉ$ năm 2008 Nguồn vốn này đã góp phần tăng trưởng kinh tế, giải
quyết việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp ngân sách.... Nguồn
vốn này đã được ưu tiên sử dụng để hỗ trợ phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội,
góp phần tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Nhiều công trình quan
trọng trong các lĩnh vực giao thông vận tải, năng lượng, thủy lợi quy mô lớn,
giáo dục đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, chăm sóc sức khỏe... đã được
xây dựng và nâng cấp. Nguồn vốn này đã góp phần tăng cường năng lực và
thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ xây dựng pháp luật, cải
cách hành chính, xây dựng chính sách và cơ chế quản lý, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực... Tỷ trọng nguồn vốn Nhà nước tuy đã giảm nhưng
vẫn còn chiếm quá nửa tổng vốn đầu tư, có tác dụng hình thành các công
trình trọng điểm của quốc gia, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư vào những
ngành, lĩnh vực, vùng mà các nguồn vốn khác không muốn đầu tư, có tác
động là vốn mồi để thu hút các nguồn vốn khác...
+ Cơ cấu đầu tư đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung cho những
mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế- xã hội; vừa tập trung cho tăng
24
Kinh tế đầu tư 49C