BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thanh Hiền
KẾT CẤU
VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thanh Hiền
KẾT CẤU
VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Nếu phát hiện có bất kì sự gian dối nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước
Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ, cũng như kết quả luận văn của mình.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2014.
Người cam đoan
Bùi Thanh Hiền
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... ..1
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 10
4. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................. 11
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 11
6. Kết cấu luận văn ...................................................................................................... 12
7. Đóng góp luận văn .................................................................................................. 13
Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT VỀ KẾT CẤU, NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN
VẬT TRONG VĂN HỌC VÀ VĂN NGHIỆP CỦA MẠC NGÔN ............... 14
1.1. Kết cấu trong tác phẩm văn học ...................................................................... 14
1.1.1. Khái niệm kết cấu.......................................................................................... 14
1.1.2. Yêu cầu trong việc xây dựng kết cấu ............................................................ 16
1.1.2.1. Hoàn chỉnh, thống nhất, thẩm mĩ ........................................................... 16
1.1.2.2. Biểu đạt tư tưởng của tác phẩm ............................................................. 18
1.1.2.3. Xây dựng hình tượng nhân vật ............................................................... 19
3.1. Thế giới nhân vật ............................................................................................... 89
3.1.1. Nhân vật người hùng - thổ phỉ, ăn mày, kép hát .......................................... 91
3.1.2. Nhân vật tham quan “không vì dân, vì cá nhân” .......................................... 93
3.1.3. Nhân vật “người đẹp mệnh bạc”, “người đẹp chân to” ............................... 96
3.1.4. Nhân vật “dở dở, ương ương”....................................................................... 99
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ....................................................................... 104
3.2.1. Nghệ thuật tương phản - đối lập ................................................................. 104
3.2.2. Nghệ thuật kỳ ảo - lạ hóa ............................................................................ 110
3.2.3. Nghệ thuật hồi tưởng - giấc mơ .................................................................. 117
3.2.4. Nghệ thuật dính kết - gộp lại ...................................................................... 122
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 132
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền văn học Trung Quốc sau khi thoát khỏi “địa ngục trần gian” của Cách mạng
văn hóa (1966 -1976) có nhiều tìm tòi, thử nghiệm, đột phá, cách tân và “dần dần trở
lại đúng quỹ đạo của nó, phát triển hợp quy luật của văn nghệ” [68, tr.13]. Nhà văn
Vương Mông cho rằng: “Văn học Trung Quốc sau khi trải qua giai đoạn bộc lộ, gào
thét, sẽ đi vào giai đoạn khái quát, hồi cố suy ngẫm lại” [68, tr.15]. “Mười năm động
loạn” với biết bao biến động, để lại nhiều “vết thương” cho nền văn học Trung Quốc
đã khép lại. Thời kì Cải cách mở cửa đang mở ra, với môi trường sáng tác thoải mái,
các nhà văn, nhà thơ có điều kiện bộc lộ hết sở trường của mình. Đặc biệt, họ dám
“nhìn thẳng, nói thật”, thẳng thừng phanh phui những “ung nhọt” của bộ máy xã hội
loại. Ông sáng tác và thành công ở nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện vừa, tạp văn,
kịch bản phim truyền hình,… nhưng có lẽ tiểu thuyết mới chính là lĩnh vực thành công
nhất trong sự nghiệp viết văn của ông. Chính thể loại này đã đưa Mạc Ngôn bước lên
đỉnh vinh quang nghệ thuật. Viện Hàn lâm Thụy Điển đã hết lời ca ngợi những tác
phẩm của nhà văn: “với thứ chủ nghĩa hiện thực đầy ảo giác pha trộn giữa truyện kể
dân gian, lịch sử và văn chương hiện đại làm rung động lòng người” [99]. Sức hấp
dẫn của tiểu thuyết Mạc Ngôn đối với người đọc trên thế giới nói chung và tạo ra “cơn
sốt” ở Việt Nam nói riêng chính là sự hòa quyện giữa yếu tố truyền thống với yếu tố
hiện đại: “Bằng lối viết mới lạ pha chút kỳ ảo, tượng trưng mang đậm sắc thái phương
Đông, song ẩn tàng trong đó là những triết lý nhân sinh đầy tính nhân bản, các tác
phẩm của ông đã thực sự cuốn hút độc giả, tạo nên “Cơn sốt Mạc Ngôn” tại Việt
Nam” [68, tr.42]. Mặt khác, Mạc Ngôn đã tạo dựng được thế giới nghệ thuật cho riêng
mình. Trần Minh Sơn khẳng định rằng: “Hơn 10 năm qua, các tác phẩm của Mạc
Ngôn, bộ này nối tiếp bộ kia, phương thức tự thuật không hề lặp lại mình, hơn thế
trong văn học Trung Quốc thập kỷ 80, 90 thế kỷ XX, anh ấy luôn là ngọn cờ sinh mạng
giàu sức sống nhất, anh đã giương cao ngọn cờ và bó đuốc tự do sinh mạng, gây chấn
động hàng ngàn vạn độc giả Trung Quốc” [68, tr.433].
Tiểu thuyết Mạc Ngôn có nhiều yếu tố tạo nên giá trị không thể pha lẫn so với
các nhà văn Trung Quốc đương thời. Mặc dù không thể khẳng định tuyệt đối nhưng
nhiều nhà nghiên cứu cũng như bản thân chúng tôi nhận ra rằng kết cấu và nghệ thuật
xây dựng nhân vật là một trong những yếu tố hàng đầu tạo nên sức sống và tầm vóc
cho hầu hết các tiểu thuyết của ông. Nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu có nhận xét: “Tiểu
3
thuyết của ông là một kết cấu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi logic, rất “hỗn
độn”, vô thủy vô chung” [87, tr.205] và nhân vật được nhà văn xây dựng: “Người nào
người nấy đều có ý chí sinh tồn, có cá tính mạnh mẽ, phóng túng khí phách. Họ sống
rất buông thả, cuồng nhiệt và chết cũng rất anh hùng” [87, tr.205-206]. Chính kết cấu
của Mạc Ngôn; Mạc Ngôn và tiểu thuyết Đàn hương hình; Xu hướng mỹ học trong
tiểu thuyết Mạc Ngôn. Ở bài thứ nhất, nhà nghiên cứu đi tìm hiểu những phương diện
đề tài, cốt truyện, nghệ thuật tự sự, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ, thủ pháp lạ hóa
trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Theo nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu, thế giới cảm giác
trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết “cảm giác mới” và thế
giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn chịu ảnh hưởng của học thuyết phân tâm
học của Freud, thuyết dân tộc học, nhân loại học của Fraze. Tuy có đề cập đến kết cấu
trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhưng chỉ là nhận định, đánh giá chung, khái quát: “Tiểu
thuyết của ông là một loại kết cấu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi logic, rất
“hỗn độn”, vô thủy vô chung” [87, tr.205]. Trong bài viết thứ hai, nhà nghiên cứu Lê
Huy Tiêu chủ yếu viết về đề tài, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, thủ pháp lạ
hóa, vấn đề miêu tả “cái xấu” trong tiểu thuyết Đàn hương hình và chỉ có một nhận
định thiên về khía cạnh nhỏ của kết cấu: “Nhờ tưởng tượng phong phú, Mạc Ngôn
dùng phương pháp đồng hiện để tái hiện quá khứ và hiện tại, lịch sử và tương lai của
nhân vật, làm cho người sống giao lưu với người chết, nhờ đó tác phẩm trở thành một
kết cấu lập thể, đa tầng” [87, tr.211]. Trong bài viết thứ ba, nhà nghiên cứu không bàn
gì về kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mà đi vào tìm hiểu “xu hướng mỹ học” trong
tiểu thuyết của nhà văn Mạc Ngôn.
Cho đến nay, theo Lê Huy Tiêu đánh giá công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn “có
giá trị khoa học rất cao” đó là chuyên luận Tự sự kiểu Mạc Ngôn của Nguyễn Thị Tịnh
Thy. Trên các tạp chí, chúng tôi cũng tìm thấy những bài viết của tác giả như: Kết cấu
dán ghép điện ảnh trong Cao lương đỏ- Tạp chí Nghiên cứu văn học số 3-2007; Hình
thức trần thuật kiểu tác giả trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn- Tạp chí Sông Hương số
268/06-11; Lời kể đảo thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, Tạp chí Khoa học, Đại học
Huế, (66); Nobel văn chương2012: Mạc Ngôn- người vinh danh làng quê Cao Mật
bằng bút pháp hậu hiện đại kiểu Trung Quốc- Tạp chí Sông Hương số 285/11-12; Kết
cấu lồng ghép trong bút pháp tự sự của Mạc Ngôn- Tạp chí Nghiên cứu văn học số 42013. Trong chuyên luận Tự sự kiểu Mạc Ngôn, tác giả nghiên cứu về người kể
chuyện, điểm nhìn, nghệ thuật tổ chức thời gian, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong
11 cuốn tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Bàn về kết cấu, tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy phân
“tôi”. Qua đó, tác giả khẳng định rằng: “Tạp văn Mạc Ngôn là những sáng tác văn học
có ý nghĩa nhân văn sâu sắc và sức truyền cảm mạnh mẽ, kết cấu đa dạng và độc đáo.
Bài viết này đã chỉ ra các kiểu kết cấu trong tạp văn Mạc Ngôn, khẳng định đóng góp
của ông cho một thể loại văn học trên văn đàn Trung Quốc đương đại” [52, tr.66].
6
Chúng tôi cũng khảo sát qua các luận văn cao học, cụ thể như luận văn thạc sĩ
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Ếch của Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2008) của Bùi Hải Hà; Nguyễn Thị Hà với luận văn thạc sĩ Dấu ấn
hậu hiện đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2009); luận văn của Nguyễn Thị Huệ với đề tài Sự đổi mới trong quan niệm
nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV, Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2009) và luận văn Người kể chuyện trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
(Đại học KHXH và NV T.p Hồ Chí Minh, 2010) của Bùi Thị Thanh Hương. Nhìn
chung, các luận văn trên không đề cập đến kết cấu trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn.
Các luận văn sau đây có đề cấp đến kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhưng
tìm hiểu, trình bày chưa cụ thể, hệ thống. Ở luận văn Nghệ thuật tiểu thuyết Sống đọa
thác đày của Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV Hà Nội, 2007), Phạm Thị Nhung tập
trung khai thác tiểu thuyết Sống đọa thác đày dưới ba cấp độ: tổ chức kết cấu tác
phẩm, nhân vật, không thời gian để chỉ ra nét đặc sắc trong nghệ thuật tiểu thuyết của
Mạc Ngôn. Từ đó, tác giả kết luận rằng: “Mạc Ngôn là nhà văn tiêu biểu xuất sắc cho
văn học Trung Quốc hiện đại”. Trong luận văn thạc sĩ Văn hóa dân gian trong tiểu
thuyết Đàn hương hình của Mạc Ngôn (Đại học Sư phạm T.p Hồ Chí Minh, 2012),
Trần Văn Tuân có đề cập đến kết cấu của Đàn hương hình nhưng gắn liền với làn điệu
hý kịch Miêu Xoang, ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong việc xây dựng kết cấu tác
phẩm. Cụ thể, tác giả đã chỉ ra được hai kết cấu trong Đàn hương hình: kết cấu đối lập
về âm thanh (âm thanh hý kịch Miêu Xoang- âm thanh của tàu lửa), kết cấu đứt - nối
và đảo lộn sự kiện.
truyền kỳ và sự cách tân trong tiểu thuyết Mạc Ngôn (Đại học KHXH và NV T.p Hồ
Chí Minh, 2011), cũng như Võ Nguyễn Mỹ Duyên, Lê Xuân Hùng có nhắc đến nhân
vật trong tiểu thuyết của nhà văn Mạc Ngôn nhưng được tìm hiểu dưới góc độ truyền
kỳ, cụ thể: người anh hùng Từ Chiếm Ngao, Tôn Bính; “Trạng nguyên đao phủ” Triệu
Giáp, “Thần thịt” La Tiểu Thông, “Thần rượu” Khoan Kim Cương.
* Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ở Trung Quốc, tất cả những bài phát biểu của Mạc Ngôn được báo chí phỏng
vấn cũng như nhiều bài nói chuyện của nhà văn ở các trường đại học trong nước và
ngoài nước được Nguyễn Thị Thại tập hợp và dịch sang tiếng Việt ở hai quyển Mạc
Ngôn và những lời tự bạch và Mạc Ngôn- chuyện văn chuyện đời. Hai quyển sách trên,
tác giả không nhắc đến kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn. Ngoài ra, những ý kiến phản biện Mạc Ngôn ở Trung Quốc do Dương Dương
8
tập hợp và biên soạn trong quyển Mạc Ngôn - nghiên cứu và tư liệu, Nxb Nhân dân
Thiên Tân ấn hành năm 2005 được nhà nghiên cứu Lê Huy Tiêu dịch trong cuốn Tiểu
thuyết Trung Quốc thời kỳ Cải cách mở cửa với bài viết “Xu hướng mỹ học trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn”. Cụ thể hơn, nhà phê bình Vương Cán phê phán Mạc Ngôn “có tư
tưởng chống lại quy phạm truyền thống” ở việc nhà văn phô bày những cảnh “xấu xa,
bỉ ổi mà từ khi con người sinh ra đã nhìn thấy” [87, tr.217]. Còn Lý Kiến Quân cho
rằng: “Khuynh hướng thưởng thức hành vi tàn ác của truyền thống đã ảnh hưởng tới
ngòi bút Mạc Ngôn” [87, tr.220]. Họ cũng chỉ ra những “hạt sạn”, “văn chương thô
hiển, sai ngữ pháp” trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Nhà phê bình Lý Kiến Quân còn
chỉ ra những khuyết điểm của Mạc Ngôn: miêu tả quá khoa trương, không mực thước,
nhân vật trong tiểu thuyết Đàn hương hình chỉ là “giả tạo”- “đã là giả tạo, không chân
thực còn gì đẹp nữa” [87, tr.221]. Còn nhà phê bình Vương Kim Thành đặt ra vấn đề
và giải thích nhiều “cái dở” của Mạc Ngôn. Ông cho rằng: “Chúng tôi không chịu
được phải hỏi, toàn bộ cuốn tiểu thuyết này (Báu vật của đời) của Mạc Ngôn về mặt
dịch “Phong cách từ truyền thuyết đến hiện thực, bi kịch và tâm trạng hài hước đen
châm biếm, bao gồm, tất cả “để nói về bóng ma huyền thoại” trên thế giới để thuyết
trình về người đàn ông huyền thoại Sơn Đông nông thôn”). Và 许陈静 trong bài
viết“从“沉默少年”到“军旅作家”:家在“高密东北乡”(“cậu bé im lặng” để “Writer quân
sự”:
nhà
ở
“mật
độ
cao
thành
phố
phía
đông
bắc”)
cho
rằng:
“which helps to explain the episodic structure of many of his narratives” và tiểu thuyết
Mạc Ngôn “has a postmodern look”. Từ đó, các sáng tác của nhà văn tạo được sự chú
ý rất lớn đối với độc giả trong và ngoài nước.
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy rằng: Ở Việt
Nam, về kết cấu, trong các bài viết trên chỉ có chuyên luận của Nguyễn Thị Tịnh Thy
viết khá sâu sắc nhưng tác giả không thống nhất trong cách dùng tên gọi (dán ghép và
lắp ghép), đồng nhất giữa kết cấu và thủ pháp, xem kết cấu như một thủ pháp. Về nhân
vật, đến thời điểm này, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống
về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Ở Trung Quốc nói riêng
và trên thế giới nói chung, chúng tôi chưa tìm thấy các bài viết về kết cấu và nghệ
thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn một cách cụ thể. Vì thế, trong
luận văn này, kế thừa những gì người khác đã và chưa nghiên cứu chúng tôi sẽ tiếp tục
tìm hiểu, bổ sung và đi sâu bàn kĩ, làm sáng tỏ hơn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn có nhiều vấn đề cho chúng ta tìm hiểu nhưng
chúng tôi chỉ chọn kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật để nghiên cứu. Cụ thể
chúng tôi sẽ đi vào trình bày kết cấu trong một số tiểu thuyết Mạc Ngôn ở hai phương
diện: kết cấu lồng ghép và kết cấu lắp ghép. Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, chúng
11
tôi đi vào tìm hiểu thế giới nhân vật và các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật
trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
Tiểu thuyết Mạc Ngôn, đến thời điểm này, nước ta đã dịch được 11 quyển tiểu
thuyết. Người viết không tìm hiểu hết mà chỉ khảo sát 6 tiểu thuyết, cụ thể như sau:
- Cây tỏi nổi giận (Trần Đình Hiến dịch, 2003), Nxb Văn học.
- Đàn hương hình (Trần Đình Hiến dịch, 2004), Nxb Phụ Nữ.
- Tửu quốc (Trần Đình Hiến dịch, 2004), Nxb Hội Nhà văn.
giới nói chung.
Phương pháp tổng hợp- phân tích: phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ kết cấu và
nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn và tổng hợp lại để có
cái nhìn khái quát, những nhận định toàn diện, khoa học và xác đáng.
Phương pháp liên ngành: vận dụng những hiểu biết về điện ảnh, văn hóa học,
tâm lý học, văn bản học, phân tâm học… để thấy được đặc trưng liên văn bản trong kết
cấu lồng ghép và kết cấu lắp ghép trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
Phương pháp thi pháp học- tự sự học: để làm sáng tỏ nghệ thuật xây dựng nhân
vật và kết cấu trong tiểu thuyết Mạc Ngôn.
Phương pháp tiểu sử học: nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của cuộc đời Mạc
Ngôn đến các sáng tác của nhà văn, đặc biệt ngôn ngữ mà ông sử dụng sáng tác tiểu
thuyết và các thể loại khác.
Phương pháp so sánh: để mở rộng và làm sâu sắc vấn đề, chúng tôi so sánh
những đặc điểm về kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Mạc
Ngôn với các nhà văn Trung Quốc và nước ngoài.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3
chương, cụ thể:
Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT VỀ KẾT CẤU, NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG
NHÂN VẬT TRONG VĂN HỌC VÀ VĂN NGHIỆP CỦA MẠC NGÔN
Chúng tôi trình bày những vấn đề lý luận chung về kết cấu và nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong tác phẩm văn học, đồng thời giới thiệu vài nét về cuộc đời, sự
nghiệp văn chương và quan niệm sáng tác của nhà văn “thẳng thừng và dấn thân”Mạc Ngôn.
Chƣơng 2. KẾT CẤU TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT MẠC NGÔN
Trong chương này, chúng tôi lần lượt triển khai kết cấu trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn ở hai phương diện: kết cấu lồng ghép (lồng ghép từ đặc trưng “hiếu kỳ” của tiểu
thuyết Trung Quốc; lồng ghép từ phương thức dẫn chuyện của tiểu thuyết chương hồi;
1.1. Kết cấu trong tác phẩm văn học
1.1.1. Khái niệm kết cấu
Kết cấu (tiếng Pháp Composition) là một trong những yếu tố quan trọng cấu
thành nên tác phẩm văn học. Tùy theo góc độ nhìn nhận mà các nhà lý luận văn học có
nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau về kết cấu.
Xem xét kết cấu như một phương diện hình thức của tác phẩm, trong quyển Tinh
hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, Kim Thánh Thán cho rằng; “Kết cấu là hình
thức, nhưng trong tác phẩm nghệ thuật đích thực, hình thức phải mang tính nội dung.
Do đó, bất cứ sự tổ chức sắp xếp nào trong tiểu thuyết cũng là góp phần làm sáng tỏ
một quan niệm, hay nói hẹp hơn, một cách nhìn, một sự lý giải nào đó của tác giả”
[48, tr.130]. Cũng từ việc xem xét đó, Trần Đình Sử (chủ biên) trong cuốn Giáo trình
lý luận văn học (tập II)- Tác phẩm và thể loại tác phẩm, cũng cho rằng: “Kết cấu là
phương diện cơ bản của hình thức tác phẩm văn học, là sự tổ chức, sắp xếp, biểu hiện
của nội dung văn học” [70, tr.101].
Xét kết cấu trong mối quan hệ với cốt truyện, N.A. Gulaiep, trong quyển Lý luận
văn học, có viết: “Tính nhất quán trong sự phát triển cốt truyện là kết cấu, tức là sự
cấu tạo của nó để phản ánh quan điểm tư tưởng của tác giả, sự vận động trong tư
tưởng thơ của anh ta” [24, tr.140]. Ngoài ra, ông còn khẳng định rằng: “Kết cấu
không phải bao giờ cũng lắp lại tính chất tuần tự về thời gian của các sự kiện làm cơ
sở cho tác phẩm. Trong nghệ thuật có thể có sự xáo trộn về thời gian” [24, tr.141].
Còn L.I. Timôfêép nhìn nhận kết cấu trong mối tương quan với tính cách, trong cuốn
15
sách Nguyên lý lý luận văn học ông viết: “Kết cấu là phương tiện nghệ thuật để sáng
tạo, phát hiện, mô tả tính cách bằng con đường thể hiện theo một trật tự nhất định mọi
thuộc tính và dấu hiệu của tính cách đó, bằng cách vạch ra mối tương quan của nó với
các tình tiết khác”[89, tr.270] và “kết cấu là điều kiện tất yếu của việc phản ánh cuộc
sống trong tác phẩm nghệ thuật” [89, tr.269].
đoạn ngoại đề trữ tình (kết cấu các yếu tố ngoài cốt truyện).
Từ những quan niệm khác nhau về kết cấu, chúng tôi có thể hiểu kết cấu là toàn
bộ tổ chức nghệ thuật sinh động và phức tạp được tạo nên bằng những mối liên hệ và
quan hệ giữa các yếu tố, nhiều bộ phận (các yếu tố, bộ phận thuộc về nội dung và các
yếu tố, bộ phận thuộc về hình thức) tạo thành một tổ chức nhất định, một chỉnh thể
thống nhất nhằm thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Đồng thời kết cấu còn là
phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật và biểu đạt ý nghĩa tác phẩm.
Khi tìm hiểu về kết cấu, chúng ta cần lưu ý phân biệt với khái niệm bố cục. Trong
cuốn sách Lý luận văn học- vấn đề và suy nghĩ, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh và
Huỳnh Như Phương đã phân biệt khá rạch ròi, rõ ràng về bố cục và kết cấu: “Bố cục là
sự tổ chức hình thức bên ngoài của tác phẩm, gồm các phần, các chương, các đoạn,
các khổ thơ. Bố cục chẳng qua là phần kết cấu hiện lên trên bề mặt của tác phẩm. Còn
kết cấu lại bao trùm và xuyên thấm vào từng mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố thuộc
về nội dung với các yếu tố thuộc về hình thức, trong đó có cả các yếu tố bố cục” [31,
tr.192-193]. Như vậy, bố cục là một phương diện, một bộ phận và biểu hiện bề mặt
của kết cấu, “là cái hình thù có thể trông thấy được của một công trình nghệ thuật”
[78, tr.218].
1.1.2. Yêu cầu trong việc xây dựng kết cấu
Văn bản văn học là một chỉnh thể thống nhất bởi giữa các yếu tố, bộ phận có mối
quan hệ hữu cơ với nhau làm cho tác phẩm có “hình, hồn, thần”. Để tạo nên điều đó,
kết cấu tác phẩm văn học phải thực hiện một số yêu cầu sau đây:
1.1.2.1. Hoàn chỉnh, thống nhất, thẩm mĩ
Hoàn chỉnh, thống nhất, thẩm mĩ là yêu cầu đầu tiên và bắt buộc của kết cấu.
Theo Platon, kết cấu của mỗi bài văn phải là một yếu tố có sức sống, có cái thân thể
vốn có của nó, có đầu, có đuôi, có phần thân, có tứ chi, có bộ phận này, bộ phận khác,
có quan hệ bộ phận và toàn thể, tất cả đều phải có vị trí của nó. Yêu cầu này chỉ có thể
đạt được khi việc tổ chức các yếu tố, bộ phận của tác phẩm thống nhất với mục đích
sáng tạo của nhà văn, gây được sự chú ý đối với người đọc. Bởi vì “mục tiêu kết cấu
văn học là phải tác động đến cảm xúc của người đọc, phải gây được hồi hộp, chờ đợi,
mỹ: “Cái hoàn chỉnh là cái có phần đầu, phần giữa và phần cuối. Phần đầu là cái
không tiếp thu cái khác, trái lại, theo quy luật tự nhiên, phải có cái gì tồn tại hoặc tiếp
18
theo nó; phần cuối là cái mà theo tính tất yếu hay theo lẽ thường đều phải theo sau cái
gì đó, và sau nó không còn cái khác tiếp theo; còn phần giữa là cái phải tiếp sau cái
khác và cái khác nữa lại đi theo sau nó. Vậy, những cốt truyện được xây dựng một
cách khéo léo phải theo những định nghĩa đó chứ không được tùy tiện bắt đầu và kết
thúc chỗ nào cũng được” [5, tr.40]. Nhưng một kết cấu quá trọn vẹn, đầy đủ đôi khi sẽ
làm hạn chế trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của người đọc thì kết cấu đó cũng
không phải là kết cấu hay, lý tưởng.
1.1.2.2. Biểu đạt tƣ tƣởng của tác phẩm
Kết cấu là phương tiện khái quát nghệ thuật của nhà văn. Kết cấu ra đời đồng thời
khi nhà văn nảy sinh ý đồ ban đầu, “quá trình thai nghén” cho đến lúc cụ thể hóa và
hoàn chỉnh hình tượng nhân vật, tác phẩm: “Trong quá trình quan sát đời sống, tích
lũy tài liệu, hình thành ý đồ sáng tác, nhà văn đã bắt đầu vận dụng các nguyên tắc kết
cấu để tổ chức nên văn bản tác phẩm” [70, tr.101]. Do đó, trong quá trình sáng tác tác
phẩm, không phải nhà văn sáng tạo ra hình tượng trước rồi sau đó mới suy nghĩ để tìm
ra kết cấu thích hợp mà kết cấu và hình tượng nghệ thuật là hai mặt không thể tách rời
trong quá trình sáng tác: “Là phương tiện khái quát, kết cấu ra đời cùng một lúc với ý
đồ nghệ thuật của tác phẩm, cụ thể hóa cùng với sự phát triển của hình tượng. Không
phải là sáng tạo ra hình tượng rồi, sau đó mới tạo ra kết cấu, mà kết cấu xuất hiện
như một mặt của bản thân hình tượng nghệ thuật được sáng tạo” [70, tr.104]. Nhà văn
Nguyên Ngọc tâm sự khi viết về truyện ngắn Rừng xà nu:
…Tôi chưa hình dung câu chuyện, cốt truyện sẽ diễn biến cụ thể ra sao,
nhưng tôi đã thấy rõ, cái truyện ngắn này sẽ bắt đầu bằng một khu rừng xà nu…
và truyện sẽ kết thúc bằng một cảnh rừng xà nu, như một vĩ thanh cứ xa mờ dần
và bất tận, nghĩa là bố cục cơ bản đã thấy được rồi. Sau đấy, mọi sự bỗng trở