Công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại xí nghiệp khai thác than 790. - Pdf 32

GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC KỸ THUẬT SX
PHÓ GIÁM ĐỐC CHÍNH TRỊ
PHÒNG
K.Ỹ THUẬT
PHÒNG
TÀI CHÍNH
BAN TỔ
CHỨC LĐ
BAN VẬT TƯ
XE MÁY
BAN CHÍNH TRỊ H.CHÍNH
PHÒNG
KHOẠCH
ĐỘI KHAI THÁC HẦM

ĐỘI KHAI THÁC LỘTHIÊN THIÊN
ĐỘI XE MÁY
ĐỘI CHẾ
BIẾN
TRƯỞNG PHÒNG
KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
THỦ QUỸTRỢ LÝ
CHỨNG TỪ GỐC VÀ CÁC BẢNG PHÂN BỔ
SỔ QUỸ
THẺ VÀ SỔ KẾ TOÁN CHI TIẾT
BẢNG KÊ
NHẬT KÝ CHUNG
SỔ CÁI
BẢNG TỔNG HỢP SỐ LIỆU CHI TIẾT
BẢNG CÂN ĐỐI SỐ PHÁT SINH CÁC TÀI KHOẢN

các kiến thức đã học em chọn đề tài “Công tác quản lý chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm ”. Tại Xí nghiệp khai thác than 790.
Trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp tôi đã cố gắng thu thập tài liệu, số
liệu để phân tích đánh giá đối chiếu với kiến thức đã học, với mong muốn hiểu
biết sâu hơn và có khoa học về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm nói chung và của Xí nghiệp khai thác than 790 nói riêng.
Nội dung thực tập nâng cao I :
Đề tài
CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI
XÍ NGHIỆP KHAI THÁC THAN 790.
Gồm có 3 phần chính.
PHẦN I: Những vấn đề cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
tại Xí nghiệp khai thác than 790.
PHẦN II: Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm tại Xí nghiệp khai thác than 790.
PHẦN III: Một số biện pháp nhằm hạ thấp CPSX và giá thành sản phẩm
tại Xí nghiệp khai thác than 790.
PHẦN I
2
A- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.
I- Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất.
1- Khái niệm chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất kinh doanh (SXKD) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp (DN) đã bỏ ra
có liên quan đến hoạt động SX KD trong một thời kỳ nhất định.
Để tiến hành hoạt động SXKD , các doanh nghiệp cần thiết phải có 3 yếu tố
cơ bản : Tư liệu lao động- Đối tượng lao động- Sức lao động. Thực chất cho phí
SXKD là sự dịch chuyển vốn, dịch chuyển giá trị 3 yếu tố sản xuất cơ bản trên
vào các đối tượng tính giá ( sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ ). Toàn bộ chi
phí SXKD của DN chi ra trong kỳ bao gồm chi phí SXKD của bộ phận sản xuất

phản ánh vào các yếu tố chi phí trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ như :
tiền công tác phí, tiếp khách , hội họp....
Phân loại theo tiêu thức này có tác dụng giúp cho các nhà quản lý doanh
nghiệp biết được tổng số chi phí DN chi ra trong một kỳ nhất định, biết được nội
dung, kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí trong toàn bộ chi phí đã dùng vào
quá trình sản xuất kinh doanh . Là cơ sở để phân tích, đánh giá việc thực hiện
định mức dự toán là căn cứ để lập kế hoạch SXKD cho kỳ sau và là cơ sở để xác
định thu nhập và giải thích chi phí SXKD theo yếu tố trong bản “thuyết minh
báo cáo tài chính “.
b-Phân loại chi phí SX theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong Giá thành sản phẩm và để thuận tiện
cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục. Theo chế độ
hiện hành, chi phí SX KD của DN hiện nay chi làm 3 khoản mục:
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Bao gồm toàn bộ các chi phí về nguyên vật
liệu chính vật liệu phụ , nhiên liệu, phụ tùng ..... tham gia trực tiếp vào sản xuất
chế tạo sản phẩm, hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. (loại trừ giá trị vật tư dùng
không hết nhập kho và phế liệu thu hồi .
4
* Chi phí nhân công trực tiếp : Bao gồm toàn bộ tiền lương , phụ cấp lương và
các khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn ( được tính theo
tỷ lệ quy định hiện hành 19% tính vào giá thành).
* Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi PX sản xuất
(trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp ).
Ngoài ra khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ (giá thành đầy đủ) thì chỉ tiêu giá
thành còn bao gồm chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng .
C- Phân loại chi phí theo chức năng trong SX kinh doanh
Dựa vào chức năng hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh và chi phí
liên quan đến việc thực hiện các chức năng mà chia chi phí SXKD làm 3 loại:
* Chi phí thực hiện chức năng sản xuất : Bao gồm những chi phí liên quan đến
việc chế tạo hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ của DN

SXKD thì sẽ có sự thay đổi của các chi phí bất biến.
* Biến phí (chi phí biến đổi ): Là các chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với sản lượng
sản phẩm sản xuất ra như : Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công .....
Việc phân loại chi phí SXKD thành chi phí bất biến và chi phí khả biến , có
tác dụng trong việc xây dựng chiến lược sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá,
lao vụ, dịch vụ của DN . Có ý nghĩa trong việc phân tích tình hình tiết kiệm chi
phí sản xuất và định ra biện pháp thích hợp nhàm hạ thấp chi phí sản xuất cho 1
đơn vị sản phẩm.
Tóm lại: Mỗi cách phân loại chi phí đều có ý nghĩa, tác dụng riêng nhưng lại
có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ xung cho nhau để nhằm mụch đích chung
là quản lý tốt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm . Việc phân loại chi phí sản
xuất giúp ta hiểu biết cặn kẽ nội dung, tính chất và mỗi loại chi phí trong quá
trình hoạt động SXKD.
6
II-Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm.
1- Khái niệm giá thành sản phẩm.
* Khái niệm : Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà DN đã bỏ ra bất kể ở kỳ nào
nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
*Chức năng: Có 2 chức năng chủ yếu .
- Chức năng là thước đo bù đắp chi phí .
- Chức năng lập giá.
Mục đích của hoạt động SXKD phải đảm bảo bù đắp được chi phí và có lãi,
thông qua việc tiêu thụ sản phẩm , lao vụ, dịch vụ mà thực hiện giá trị sử dụng
của hàng hoá . Giá bán sản phẩm hàng hoá lao vụ phải dựa trên cơ sở giá thành
sản phẩm để xác định thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá mức độ bù đắp
chi phí và hiệu quả của chi phí .
2- Phân loại giá thành sản phẩm .
a- Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành sản phẩm thì giá
thành được chia làm 3 loại : Giá thành kế hoach, giá thành định mức và

sản xuất có mối quan hệ mật thiết với nhau, giống nhau về chất vì đều là những
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà DN đã chi ra trong quá trình
sản xuất chế tạo sản phẩm. Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm lại không đồng nhất bởi vì giữa số lượng, phạm vi của chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm không bằng nhau.
- Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí và luôn gắn liền với một thời kỳ nhất
định không phân biệt sản phẩm hoàn thành hay chưa hoàn thành.
- Giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả, nó gắn liền với một loại sản
phẩm, một công việc lao vụ nhất định đã được xác định là hoàn thành.
Giá thành sản phẩm bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào
quá trình sản xuất và tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở D N. Tức là
gồm một phần chi phí sản xuất chi ra trong kỳ và 1 phần chi phí kỳ trước chuyển
sang (Chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ ) 1 phần chi phí chưa chi ra trong kỳ
nhưng đã tính vào giá thành sản phẩm (Chi phí phải trả ).
*Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện qua sơ
đồ sau và công thức sau:
Chi phí sản xuất dở dang Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
8
A đầu kỳ B C D
Tổng giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

Qua sơ đồ trên ta thấy : AC =AB +BD –CD
Tổng giá thành Chi phí SX Chi phí Chi phí
Sản phẩm = dở dang + sản xuất - sản xuất
hoàn thành đầu kỳ phát sinh T kỳ dở dang Ckỳ
Như vậy chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm .Nếu tiết kiệm
chi phí sản phẩm thì sẽ hạ đựơc giá thành sản phẩm.
III- Một số biện pháp nhằm giảm CPSX và hạ giá thành sản phẩm.
+ Để giảm được chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm thì một mặt doanh
nghiệp phải có biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất, mặt khác phải có biện pháp

phòng, chuyển sang nền kinh tế khai thác than, xuất phát từ một điểm khai thác
than thuộc Binh đoàn 11 Bộ Quốc Phòng.
Từ buổi sơ khai năm 1984 Xí nghiệp được gọi tên đầu tiền là Đội than
thuộc Binh Đoàn 11 quân số chỉ có 30 đồng chí, với phương tiện thiết bị ban đầu
còn nghèo nàn chủ yếu là tận dụng các phương tiện thiết bị cũ của Binh đoàn 11
chuyển sang. Nhưng với phương châm lấy khổ vượt khó các cán bộ, chiến sĩ bộ
đội khai thác than Binh đoàn 11 đã duy trì và phát triển theo mô hình ngày một
lớn mạnh .
Đến tháng 7 năm 1990 với uy tín và tiềm năng của một đơn vị, đã không
ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng,với đội ngũ Cán bộ có nhiều kinh
nghiệm, với trang thiết bị, phương tiện, máy móc hiện đại để đáp ứng cho việc
khai thác than, đồng thời được sự nhất trí của Bộ Quốc Phòng. Dội khai thác
than Binh đoàn 11 chính thức được thành lập với tên là Xí nghiệp Khai thác than
790 theo quyết định số: 388/QĐ-QP ngày 27 tháng 7 năm 1993 của Bộ Quốc
Phòng. Và được cấp giấy phép kinh doanh Số: 302062 ngày 21 tháng 9 năm
1996. Do uỷ ban kế hoạch tỉnh QN cấp.
Để thống nhất về mô hình sản xuất kinh doanh than trong đơn vị Quân
đội trên vùng than Đông Bắc và các vùng lân cận. Ngày 27/12/1994 Công ty
10
Đông Bắc thành lập theo Quyết định số: 910 cơ quan quyết định thành lập - Bộ
Trưởng Bộ quốc Phòng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số:
110827 ngày 10/5/1996. Do uỷ ban kế hoạch Tỉnh cấp.
Địa chỉ của trụ sở Công Ty hiện nay là : Cột 5 Phường Hồng Hải - Thành
phố Hạ Long.
dưới sự thống nhất của hai đồng cấp trên là Bộ Quốc Phòng và Tổng
Công ty than Việt Nam nhằm tăng cường và thống nhất công tác quản lý các đơn
vị Quân đội khai thác than, cùng sự lớn mạnh của các đơn vị nói riêng và Công
ty nói chung. Từng bước ổn định và phát triển lâu dài và đủ sức cạnh tranh trên
thương trường. Đặc thù của Xí nghiệp khai thác than 790 là một trong những
thành viên của Công ty Đông Bắc là khai thác tận thu tài nguyên than lộ thiên và

2, Chức năng và nhiệm vụ của Xí nghiệp Khai thác than 790.
Là một Xí nghiệp Khai thác than lộ thiên và hầm lò, nằm trong dây truyền
sản xuất than của Công ty than Đông Bắc. Nhiệm vụ chủ yếu là khai thác than
và cung cấp than cho các Đơn vị trong nội bộ Công ty, các xí nghiệp chế biến
kinh doanh than, cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó Xí
nghiệp có nhiệm vụ Quốc phòng, chiến đấu bảo vệ vùng Đông Bắc khi có chiến
tranh xảy ra.
Xí nghiệp Khai thác than 790 có đội ngũ cán bộ lãnh đạo có nặng lực, có
trình độ chuyên môn cao cùng với lực lượng công nhân lành nghề luôn được đào
tạo nâng cao tay nghề thường xuyên để đáp ứng được những đòi hỏi kỹ thuật
chất lượng cao trong sản xuất sản phẩm. Do đó sản phẩm của Xí nghiệp luôn
được Công ty và bạn hàng đánh giá là sản phẩm có chất lượng cao.
3, Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh
Xí nghiệp Khai thác than 790 là Xí nghiệp trực thuộc Công ty Đông Bắc,
trong quá trình phát triển, Xí nghiệp đã từng bước khẳng định vị thế của mình
trên thị trường cũng như giữa các Xí nghiệp trong Công ty. Tuy nhiên bên cạnh
đó còn một số thuận lợi và khó khăn.
* Về mặt thuận lợi
12
- Là đơn vị hạch toán phụ thuộc, mọi sản phẩm sản xuất ra đều do Công ty
chịu trách nhiệm điều tiết phân bổ cho các đơn vị tiêu thụ.
- Đội ngũ cán bộ công nhân ngày càng được nâng cao về trình độ kỹ
thuật. Xí nghiệp bồi dưỡng đào tạo những đồng chí có năng lực, có phẩm chất
tốt nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất hiện nay và về lâu dài.
- Mọi yêu cầu về cải tiến đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị cho xí nghiệp
luôn được Công ty quan tâm và giúp đỡ tạo điều kiện lao động tốt nhất cho toàn
cán bộ công nhân của xí nghiệp.
* Về khó khăn
- Do hạch toán phụ thuộc đồng hai cấp, nên những khó khăn hay đề xuất
trong công việc không được đáp ứng kịp thời dẫn đến sản xuất đôi khi bị ngưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status