BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đào Thị Bích Nguyệt
PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHA TRANG
(KHÁNH HÒA) THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đào Thị Bích Nguyệt
PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHA TRANG
(KHÁNH HÒA) THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Chuyên ngành : Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên)
Mã số
: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN ĐỨC TUẤN
2.2. Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Nha Trang ...................................... 43
2.2.1. Tiềm năng du lịch Nha Trang................................................................. 43
2.2.2. Hiện trạng môi trường du lịch Nha Trang .............................................. 60
2.2.3. Thực trạng kết cấu cơ sở hạ tầng du lịch Nha Trang ............................. 62
2.2.4. Thực trạng phát triển du lịch Nha Trang ................................................ 64
2.3. Cơ hội thách thức phát triển bền vững du lịch Nha Trang ................................. 81
2.3.1. Đánh giá nhanh tính bền vững của du lịch Nha Trang dựa vào hệ thống
chỉ tiêu ................................................................................................... 81
2.3.2. Đánh giá chung về du lịch Nha Trang ................................................... 86
2.3.3. Cơ hội và thách thức phát triển bền vững du lịch Nha Trang ............... 92
Chương 3: ĐỊNH
HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
DU LỊCH NHA TRANG. ................................................................. 95
3.1. Định hướng phát triển du lịch Nha Trang ......................................................... 98
3.1.1. Các quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch bền vững .......................... 98
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch Nha Trang .............................................. 100
3.2. Giải pháp phát triển bền vững du lịch Nha Trang............................................ 105
3.2.1. Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch.................................................... 105
3.2.2. Giải pháp tăng cường công tác xúc tiến quảng bá du lịch ..................... 108
3.2.3. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực du lịch ........................................ 109
3.2.4. Giải pháp về phát triển thị trường du lịch.............................................. 111
3.2.5. Giải pháp về môi trường du lịch ............................................................ 113
3.2.6. Giải pháp về liên kết phát triển du lịch .................................................. 116
3.2.7. Giải pháp về tổ chức quản lý ................................................................. 119
3.2.8. Giải pháp về tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, phát triển các lễ hội truyền
thống và nâng cáp khu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí phục vụ du lịch ...... 120
VH-TT-DL : Văn hóa – Thể thao – Du lịch
HĐND
: Hội đồng nhân dân
CSLTDL
: Cơ sở lưu trú du lịch
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 : Loại hình du lịch phân loại theo khả năng tương thích với ................... 24
Bảng 1.2 : Du lịch bền vững và du lịch không bền vững ....................................... 26
Bảng 1.3 : Các chỉ tiêu chung cho du lịch bền vững. ............................................. 27
Bảng 1.4 : Các chỉ tiêu đặc thù của điểm du lịch .................................................... 28
Bảng 1.5 : Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh tính bền vững
của điểm du lịch..................................................................................... 29
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Số lượng khách du lịch giai đoạn 2009 - 2011.................................... 67
Biểu đồ 2.2 :Số lượng ngày khách do các CSLT phục vụ giai đoạn 2009 – 2011 .. 68
Biểu đồ 2.3 : Số lượng lao động di lịch tại Nha Trang ............................................. 74
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch được xem là “ngành công nghiệp không khói” là “ con gà đẻ trứng
doanh thu du lịch của tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên sự phát triển "nóng" về du lịch
của Nha Trang cũng đang đứng trước những thách thức không bền vững nếu không
được kiểm soát với mục tiêu bền vững.Vì những lý do trên em đã chon đề tài:
“PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHA TRANG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG ” được
nghiên cứu thực hiện với hy vọng đánh giá thực trạng hoạt động du lịch Nha Trang
để từ đó đưa ra một số định hướng và giải pháp khắc phục những tồn tại và đẩy
mạnh phát triển du lịch Nha Trang, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn của Nha Trang – Khánh Hòa.
2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch tự nhiên và du lịch nhân
văn vào địa bàn Nha Trang. Phân tích tiềm năng, thực trạng du lịch và đề xuất các
giải pháp phát triển du lịch Thành phố Nha Trang, nhằm thỏa mãn nhu cầu đa
dạng của du khách, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao mức sống cộng đồng
địa phương, bảo vệ môi trường và đảm bảo sự phát triển theo hướng bền vững.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thu thập và hệ thống các thông tin về du lịch Nha Trang
Khảo sát, kiểm kê, nghiên cứu các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất kỹ thuật của Nha Trang. Trên cơ sở đó đánh giá những lợi thế và hạn chế
của chúng đối với việc phát triển du lịch. trên quan điểm phát triển bền vững
Đề ra giải pháp phát triển du lịch tỉnh Nha Trang theo hướng bền vững.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
2.3.1. Giới hạn về nội dung
Giới hạn trong phạm vi ngành du lịch nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu,
đánh giá về tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, thực trạng phát triển ngành… của Nha
Trang. Trên cơ sở đó sẽ phân tích tiềm năng và đánh giá thực trạng hoạt động kinh
doanh du lịch của Nha Trang. Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển du lịch
cho Nha Trang trong tương lai để đảm báo phát triển bền vững.
đến môi trường và phát triển, đề ra chiến lược hướng tới các hoạt động mang
4
tính bền vững hơn.
Về du lịch bền vững, từ những năm 1990, nhiều nghiên cứu về phát triển
du lịch bền vững đã được tiến hành. Một số loại hình du lịch mới ra đời, nhấn
mạnh khía cạnh môi trường như du lịch sinh thái, du lịch gắn với thiên nhiên, du
lịch thay thế hay du lịch khám phá nhằm tuyên truyền, nâng cao ý thức của cộng
đồng về hoạt động du lịch có trách nhiệm, đảm bảo sự phát triển bền vững.
Năm 1996, “chương trình Nghị sự 21 về du lịch: Hướng tới phát triển bền
vững về môi trường” đã được Hội đồng Lữ hành du lịch thế giới, Tổ chức du
lịch thế giới và Hội đồng Trái đất xây dựng, nhằm nhấn mạnh sự cần thiết phối
hợp hành động giữa các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ và ngành du lịch
trong việc xây dựng chiến lược du lịch và nêu bật những lợi ích to lớn của việc
phát triển du lịch bền vững.
Các nhà Địa lý học bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực du lịch từ những năm
30 (Mc Murray 1930; Jones 1935; Selke 1936) và đặc biệt là sau chiến tranh thế
giới thứ II. Nhiều nhà Địa lý học người Mỹ, Anh, Canađa đã tiến hành các nghiên
cứu về du lịch ở góc độ địa lý như Gilbert (1949), Wolfe (1951), Coppock
(1977). Về sau, khi du lịch ngày càng phát triển và cụm từ du lịch bền vững
được nhắc đến nhiều hơn thì những nghiên cứu của các nhà địa lý học về du
lịch cũng đã tăng lên rất nhiều, bởi khó có thể tìm thấy một khía cạnh của du lịch
mà không dính dáng đến địa lý và rất ít các ngành của địa lý mà không có ít
nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu hiện tượng du lịch.
3.2. Ở Việt Nam
Du lịch bắt đầu được thực hiện nghiên cứu và mới quan tâm từ thập
niên 90 trở lại đây. Một số công trình khởi đầu và cũng là nền tảng cho du lịch
như: Dự án VIE/ 89/ 003 về kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam do tổ
Nha Trang mà của cả nước. Quan điểm này được áp dụng trong suốt quá trình
thực hiện luận văn.
4.1.2. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, vận động và biến đổi.
Quá trình ấy có thể bắt đầu từ trong quá khứ, hiện tại vẫn tiếp diễn và kéo dài
đến tương lai. Đứng trên quan điểm lịch sử, phân tích nguồn gốc phát sinh, đánh
giá đúng đắn hiện tại sẽ là cơ sở để đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát
6
triển trong thời gian sắp tới. Quan điểm này được vận dụng trong khi phân tích
các giai đoạn chủ yếu của quá trình phát triển hệ thống du lịch và dự báo xu
hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ.
4.1.3. Quan điểm lãnh thổ
Lãnh thổ du lịch được tổ chức như là một hệ thống liên kết không gian
của các đối tượng du lịch trên cơ sở các nguồn tài nguyên và dịch vụ cho du
lịch. Việc nghiên cứu du lịch bền vững của Thành phố Nha Trang không thể tách
rời với hiện trạng và xu hướng du lịch của Việt Nam. Quá trình phát triển du
lịch bền vững của tỉnh Nha Trang là một phần trong quá trình phát triển du lịch
bền vững của khu vực Dyên hải miền trung và của cả nước.
4.1.4. Quan điểm sinh thái
Phát triển du lịch phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái. Quan điểm
sinh thái cho thấy sự cần thiết phải bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái, đánh
giá tác động của du lịch đến môi trường và khả năng chịu đựng của môi trường
trước sự phát triển của kinh tế nói chung, du lịch nói riêng.
4.1.5. Quan điểm du lịch bền vững
Mục tiêu của du lịch bền vững là bảo vệ tài nguyên và môi trường, tăng
cường bảo tồn và chia sẻ lợi ích cho cộng đồng, đảm bảo sự phát triển kinh tế một
cách bền vững. Kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc
Để đánh giá và xác định các vấn đề trong nội dung có liên quan, dựa vào các
nguyên nhân, hệ quả và tính hệ thống trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du
lịch, từ đó dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch trong tương lai của tỉnh.
4.2.6. Phương pháp khai thác phần mềm của hệ thống thông tin
Các chương trình phần mềm xử lí các thông tin thu được thông qua điều tra
như Exel, Word, Windows, Mapinfo…để xử lí, phân tích kết quả điều tra và thể
hiện qua các bảng thống kê, các bản đồ, biểu đồ, sơ đồ…
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc chính
của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững.
Chương 2. Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Nha Trang theo
hướng bền vững.
Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Nha Trang theo
hướng bền vững.
8
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. Những vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững
1.1.1. Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển
về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa.
Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi
quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, chính trị, văn hoá, địa lý.... riêng để hoạch định
chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
1.1.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững
Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của nhiều
nước trên thế giới đã đạt được tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu có những lo nghĩ
Kinh tế
Hình 1.1 : Mối quan hệ trong phát triển bền vững
Nguồn : Giáo trình kinh tế phát triển
Bền vững về mặt kinh tế là phát triển kinh tế nhanh và ổn định trong một thời
gian dài. Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được phát triển bền vững về mặt kinh
tế. Vì thế chúng ta phải luôn duy trì một tốc độ tăng trưởng ổn định hợp lý và lâu
dài không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế nhanh.
Bền vững về mặt môi trường : Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến sự
sống và sự phát triển của mỗi cá thể và của cộng đồng, nó bao gồm toàn bộ các điều
kiện vật lý, hoá học, sinh học....và xã hội bao quanh. Bền vững về mặt môi trường
là ở đó con người có cuộc sống chất lượng cao dựa trên nền tảng sinh thái bền vững.
Bền vững về xã hội : Tính bền vững đó phải mang tính nhân văn hay nói một
cách khác là phải đem lại phúc lợi và chia sẻ công bằng cho mọi công bằng cho mọi
cá nhân trong xã hội. Phát triển phải được gắn liền với một xã hội ổn định, hoà bình,
mở rộng và nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người cùng với đó là việc nâng cao
sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển.
10
Ngoài ra phát triển bền vững còn được xem là sự phát triển "bình đẳng và cân
đối". Bình đẳng được hiểu là bình đẳng giữa các nhóm người trong cùng một xã
hội. Còn tính cân đối được thể hiện ở việc cân đối giữa các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội – môi
1.1.1.2. Các thước đo về phát triển bền vững
Cũng như tăng trưởn kinh tế, phát triển bền vững có thước đo riêng và rất đặc
trưng. Tuy nhiên hệ thống thước đo này rất phức tạp và nhiều thước đo rất khó xác
định vì chúng phải đánh giá trên cả 3 phương diện kinh tế- xã hội- môi trường.
Về mặt kinh tế, tính bền vững thể hiện ở các chỉ số như: tổng sản phẩm trong
loại. Hàng vạn năm trước đây, khi bầy người nguyên thủy còn sống du cư lang
thang khắp các châu lục, lúc đó du lịch chưa xuất hiện, hay là chưa có du lịch như
cách hiểu của chúng ta ngày nay.
Cách đây khoảng 6000 năm, có sự ra đời của nông nghiệp ở châu thổ của một
số con sông lớn trên thế giới: sông Hồng Hà ( Trung quốc), sông Nin( Châu Phi),
Lưỡng hà( Trung Á)… Trồng trọt và chăn nuôi dần thay thế cho hái lượm và săn
bắn. Dân nông nghiệp bắt đầu định cư, tạo ra các làng bản, thôn xóm trên các vùng
đất cao của các vùng châu thổ. Nông nghiệp với trồng trọt và chăn nuôi đã làm cho
đời sống của xã hội loài người có sự thay đổi về căn bản. Từ đời sống nguyên thủy
lang thang, nay đây mai đó không nhà, không cửa, chuyển sang đời sống định cư
trong các làng bản, thôn xóm. Mỗi người, mỗi gia đình đều có ngôi nhà của mình.
Để một lúc nào đó một số thành viên của gia đình rồi sẽ quản lí nhà của mình.
Ra đi (có hẹn ngày sẽ trở lại), hiện tượng ra đi đó của các cư dân chính là hiện
tượng du lịch. Tóm lại: du lịch đã xuất hiện vào thời đại nông nghiệp cách đây
khoảng 6000 năm khi loài người sống định cư trong các làng bản, thôn xóm để
trồng trọt và chăn nuôi – nghề chính của thời nông nghiệp.
Hiện tượng du lịch có thể coi là xuất hiện sớm như vậy, nhưng nghề kinh
doanh lữ hành ra đời ở Nước Anh năm 1842, người sáng lập ra nó là Người Anh :
ông Thomas Cook – ông trở thành ông tổ của nghề kinh doanh du lịch trên thế giới.
Du lịch hiện đại mới xuất hiện vào năm 1945 (sau thế chiến thứ 2). Khi con
người sử dụng máy bay để đi du lịch. Máy bay giúp con người bay nữa vòng trái đất
hết có 1 ngày(248) trong khi đó tàu hỏa hết 15 ngày, tàu thủy 3 tháng mới đi được
nữa vòng trái đất.
12
Ngành du lịch hiện đại và ngành hàng không liên quan với nhau như hình với
bóng.
Về thuật ngữ: từ du lịch tiếng Pháp : Tourisme có nguồn gốc từ từ La tour ( đi
du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân”. Như vậy phải khẳng định: Du lịch là
đi chơi chứ không phải đi làm, hay đi kiếm việc làm… Thi hào Nguyễn Du trong
Truyện Kiều có viết: “Nghề chơi cũng lắm công phu…” . Bởi vậy mới có nhiều
điều mà chúng ta cần phải học.
Viện sĩ Nguyễn Khắc Kiệm, một nhà xã hội học nổi tiếng của Việt Nam cũng
đưa ra 1 cách định nghĩa ngắn gọn về du lịch: “ Du lịch là sự mở rộng về không
gian văn hóa của con người..”Như vậy ở đây du lịch lại liên quan mặt thiết tới văn
hóa.
13
Các cách định nghĩa của các nhà du lịch học nổi tiếng của các quốc gia có
du lịch phát triển mạnh trên thế giới.
Azak ( Ai Cập )
“ Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời, từ một vùng này
sang một vùng khác, từ mặt nước này sang mặt nước khác, vốn không gắn với sự
thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.”
Kaspar ( Ý)
“ Du lịch là toàn bộ những quan hệ và hiện tượng xãy ra trong quá trình di
chuyển và lưu trú của con người tại nơi không phải là nơi ở thường xuyên hoặc nơi
làm việc của họ.”
Kpaff ( Thụy Sĩ)
“ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành
trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và làm
việc thường xuyên của họ.”
Nhà kinh tế du lịch Người Đức Kalfiotis cho rằng:
“ Du lịch là sự di chuyển tạm thời của các cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một
nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức. Do đó có thể tạo nên các hoạt
động kinh tế.
Chính quyền nơi diễn ra du lịch
Dân địa phương tại nơi du lịch
Từ đó đưa ra định nghĩa:
“ Du lịch là tổng thể các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua
lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình
thu hút và phục vụ nhu cầu của du khách”
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích,
một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch đã trở thành một
nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá- xã hội của các nước. Về mặt
kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều
nước công nghiệp phát triển. Du lịch được coi là ngành công nghiệp- công nghiệp
du lịch- và hiện nay ngành "công nghiệp" này chỉ đứng sau công nghiệp dầu khí và
ô tô. Đối với các nước đang phát triển, du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền
kinh tế ốm yếu của quốc gia.
15
Để có nhận thức khoa học về du lịch, nhận thức đó phải trải qua quá trình từ
thấp tới cao, từ việc chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Quan niệm trước đây về du lịch.
Trước đây người ta mới chỉ quan niệm du lịch là một hoạt độn mang tính chất
văn hoá, nhằm thoả mãn nhu cầu giải trí và những nhu cầu hiểu biết của con người,
du lịch không được coi là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít
được đầu tư để phát triển. Trong nhiều thế kỷ trước đây, du khách hầu hết là những
người hành hương, thương nhân, sinh viên và cả nghệ sĩ... Đến đầu thế kỷ 20, du
lịch vẫn còn dành riêng cho những người khá giả, họ đi du lịch là để giải trí. Còn du
lịch ngày nay gắn liền với cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người, và một hoạt
động du lịch như vậy được thực sự bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Mặc dù vậy, khi đề cập đến du lịch, không ít người thường lầm tưởng rằng : du lịch
nhận thức, các từ ngữ thường có khá nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngược nhau. Như
vậy, cố gắng giải thích đơn vị từ đa nghĩa bằng cách gộp các nội dung khác nhau
vào một định nghĩa sẽ làm cho khái niệm trở nên khó hiểu và không rõ ràng. Dựa
theo cách tiếp cận trên, nên tách thuật ngữ du lịch thành hai phần để định nghĩa nó.
Du lịch có thể được hiểu là :
+ Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá
nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận
thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự
nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng.
+ Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh
trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của
cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận
thức tại chỗ về thế giới xung quanh.
Ở mỗi thời đại, quan niệm về du lịch có sự thay đổi bắt đầu ngay từ thời kì
đồ đá, khi mà con người phải “đi” vì lí do sinh tồn trước cái đói và sự sợ hãi.
Đến thời kì cường thịnh của đế quốc La Mã, các chuyến du ngoạn bằng
ngựa đã mang mục đích tiêu khiển của tầng lớp thống trị. Khi tàu hoả ra đời vào
thế kỉ XIX, nó tạo động lực cho du lịch phát triển hơn. Rồi lần lượt đến tàu
thuỷ, ô tô, máy bay, chúng ngày càng làm cho du lịch gắn bó mật thiết với con
người.
17
Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập tại Hà Lan,
đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch. Đầu
tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời
khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ
ngơi, giải trí hay chữa bệnh.
Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động
kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp du lịch như lữ hành,
lưu trú, ăn uống.... Cần phải phân biệt hai loại du khách cơ bản. Những người mà
chuyến đi của họ có mục đích chính là nâng cao hiểu biết tại nơi đến về các điều
kiện, tài nguyên tự nhiên, kinh tế, văn hoá được gọi là du khách thuần tuý. Ngược
lại có những người thực hiện chuyến đi vì một mục đích khác như công tác, tìm
kiếm cơ hội làm ăn, hội họp... Trên đường đi hay tại nơi đến, những người này sắp
xếp được thời gian cho việc thăm quan, nghỉ ngơi. Khi đó họ mới được coi là du
khách. Để nói lên sự kết hợp đó, chuyến đi của họ được gọi là du lịch công vụ, du
lịch thể thao du lịch tôn giáo...
Do du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một lĩnh vực kinh tế
với đối tượng phục vụ là người đi du lịch nên việc thống nhất khái niệm du khách là
một nhu cầu tất yếu. Đối với doanh nghiệp du lịch, thông qua số lượng du khách có
thể nắm được doanh thu. Sự chuẩn hoá khái niệm du khách sẽ giúp các nhà thống
kê thống nhất được tiêu chí phân định giữa khách tham quan và du khách, giúp cho
các cơ quan quản lý xác định được nghĩa vụ, đối với nhà nước của các doanh nghiệp
du lịch. Việc thống nhất và chuẩn hoá định nghĩa du khách còn có ý nghĩa làm cho
du lịch Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào hoạt động thống kê du lịch khu vực và
quốc tế.
1.1.2.2. Quan niệm về phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến , nâng cấp và
hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi người quan
tâm trong những năm gần đây. Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) cho
rằng : Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng
du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch
tương lai. Khái niệm này chỉ ra rằng mội hoạt động du lịch ở hiện tại không được
19
xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì