BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ BÍCH TRÌNH
PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN
NGHỆ THUẬT VÀ TÌNH HUỐNG TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 5 – 04 - 33
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2004
MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................... 4
DẪN NHẬP .................................................................................................................. 6
1. Lý do chọn đề tài: ...........................................................................................................6
2. Giới hạn của đề tài: ........................................................................................................7
3. Lịch sử vấn đề: ................................................................................................................8
4. Phương pháp nghiên cứu: ............................................................................................17
5. Những đóng góp của luận văn: ....................................................................................18
6. Kết cấu của luận văn: ...................................................................................................18
CHƯƠNG 1: CÁC PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN NGHỆ THUẬT
5
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài:
Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân Việt Nam đã thực sự được làm chủ vận
mệnh của mình. Nền văn học cách mạng được khai sinh, phát triển dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Từ sau cách mạng tháng Tám đã xuất hiện một lớp nhà văn mang sức sống và hơi thở
của thời đại. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều nhà văn đã sẵn
sàng có mặt ở những nơi thử thách quyết liệt của cuộc chiến tranh chống xâm lược, có
những trang viết sinh động về nhân dân anh hùng, xứng đáng là nhà văn - chiến sĩ. Đặc biệt,
trong hơn hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, các nhà văn đã có những đóng góp rất to
lớn. Trong đó có nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa,
kịch bản phim, nhưng thành công hơn cả trong thể loại truyện ngắn. Ngay từ tác phẩm đầu
tay là tập truyện Con chim vàng ( 1958), ông đã được người đọc chú ý vì cách viết bình dị, tự
nhiên, tình cảm chân thành, xúc động. Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng thường giàu kịch
tính, cốt truyện có nhiều tình huống bất ngờ hoặc dữ dội. Lời văn mộc mạc, giản dị, mang
đậm nét phong cách Nam Bộ, giàu giá trị biểu cảm. Đặc biệt Nguyễn Quang Sáng đã miêu
tả chân thực hình ảnh của nhân dân miền Nam anh hùng " thành đồng Tổ quốc". Qua những
trang truyện ngắn của ông, chúng ta càng thêm yêu đất nước ta tươi đẹp, nhân dân ta anh
hùng. Cùng với nhà văn Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng đã vẽ nên
bức tranh sống động về quê hương, con người Nam Bộ.
Tác phẩm Nguyễn Quang Sáng hấp dẫn người đọc và được nhiều nhà nghiên cứu văn
học quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết, chuyên luận đã viết về quá trình
sáng tác, những đóng góp của Nguyễn Quang Sáng cho văn học cách mạng. Các công trình
này đã phân tích, đánh giá tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng về cách xây dựng hình tượng
nhân vật, sử dụng ngôn ngữ mang đậm màu sắc Nam Bộ, các chi tiết sống động, bất ngờ,
giàu kịch tính nhưng giàu chất trữ tình. Một số công trình viết về truyện ngắn Nguyễn
Quang Sáng từ góc độ thi pháp nhưng chưa đầy đủ, cụ thể. Phương thức tổ chức lời văn
Quang Sáng.
Ngoài đối tượng nghiên cứu chính, chúng tôi còn tiếp thu có chọn lọc những lời phê
bình, đánh giá quan trọng, có liên quan từ các thành tựu nghiên cứu phê bình của những tác
giả đi trước.
2.2. Nội dung vấn đề:
7
Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống là một vấn đề khá phức tạp, thể
hiện rõ nét phong cách riêng biệt của từng nhà văn. Với khả năng có hạn của mình, chúng
tôi khảo sát truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng ở hai vấn đề cơ bản: Các phương thức tổ chức
lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng.
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi tiếp thu những vấn đề có liên quan đến lời văn
nghệ thuật ở các công trình nghiên cứu và vận dụng lý thuyết từ Phong cách học tiếng Việt của
Đinh Trọng Lạc và Thi pháp học của M. Bakhtin.
3. Lịch sử vấn đề:
3.1. Phần mở đầu:
Độc giả trong và ngoài nước đều biết đến tên tuổi của nhà văn Nguyễn Quang Sáng
qua nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, ký và kịch bản phim nhưng "hai thể
loại thành công trong đời viết văn của anh vẫn là truyện ngắn và kịch bản phim" [23;86]; ngay từ truyện
ngắn đầu tay Con chim vàng (viết năm 1956), Nguyễn Quang Sáng đã được dư luận chú ý và
đánh giá là cây bút văn xuôi đầy triển vọng. Từ đó đến nay, Nguyễn Quang Sáng đã viết
được 8 tập truyện ngắn và truyện ngắn của ông luôn thu hút sự quan tâm của các nhà phê
bình, các nhà nghiên cứu.
Năm 1969, khi Ngọc Trai viết bài giới thiệu Đọc chiếc lược ngà cho tuyển tập nghiên cứu
phê bình Mười năm văn học chống Mỹ của Nhà xuất bản Giải Phóng thì người ta đã xem Nguyễn
Quang Sáng là nhà văn tài năng. Từ đó đến nay, nhiều bài viết, nhiều bài nghiên cứu viết về
truyện ngắn của ông, đặc biệt là cuốn phê bình, bình luận văn học: Anh Đức, Nguyễn Quang
Sáng, Nguyên Ngọc, Đoàn Giỏi do Vũ Tiến Quỳnh biên soạn.
thoáng, cách kiến tạo truyện nhiều rẽ ngoặt vốn có ở thời kỳ trước, song lại thấy thêm khả năng khai mở trường
diện trong nghệ thuật viết truyện” (tr 91). Phùng Quý Nhâm cũng có nhận xét tương đồng với
Hoàng Trung Thông về ngôn ngữ trong tác phẩm Nguyễn Quang Sáng: “văn mạch thoáng, tự
nhiên. Ngôn ngữ trong tác phẩm đạt được sự chuẩn xác của ngôn ngữ tiếng Việt mà vẫn giữ chất, giọng Nam
Bộ” [23; 95]. Đây là nhận định chính xác về văn mạch và ngôn ngữ của truyện ngắn Nguyễn
Quang Sáng.
Năm 1994, trong tập lý luận và phê bình văn học Tiếp cận văn học của trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Phùng Quý Nhâm nhận định về cảm hứng nghệ thuật
trong tập truyện ngắn Con mèo của Foujita: “Điều nhận thấy trước tiên là trong nguồn cảm xúc văn mạch
truyện ngắn của anh vẫn tuôn chảy theo hướng chính của cảm hứng nghệ thuật: tình yêu mặn mà, sâu đậm với
9
con người và vùng đất Nam Bộ, là khát vọng về đạo lý, về nhân bản” [41; 137]. Đọc truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng, người đọc được tiếp xúc với những câu chuyện được xây đựng trên
những tình tiết ngẫu nhiên, bất ngờ, nhiều khi căng thẳng đầy kịch tính. Vẻ đẹp của vùng
đất Nam Bộ, phẩm chất anh hùng, đôn hậu, lòng thủy chung son sắt của con người miền
Nam được thể hiện rõ nét trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng. Phùng Quý Nhâm đã phát
hiện tài tình nguồn cảm xúc và văn mạch của truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng - điều đã tạo
nên sức hấp dẫn trong tác phẩm của ông trong mấy chục năm qua.
Năm 1996, Bùi Việt Thắng trong lời giới thiệu tuyển tập Nguyễn Quang Sáng - Còn lại
tình yêu - đã nhận định về lối viết văn của Nguyễn Quang Sáng: “Nếu nói văn là người” thì câu này
rất hợp với Nguyễn Quang Sáng. Cái “chất Nam Bộ” thể hiện rất rõ trong văn của ông” [34; 15]. Bùi Việt
Thắng đã phát hiện ra cái hồn Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng. Điều đó nói
lên sự gắn bó máu thịt của nhà văn với vùng đất Nam Bộ tươi đẹp và anh hùng, nơi ông đã
sinh ra và lớn lên. Bùi Việt Thắng còn phát hiện ra những nét độc đáo, đặc sắc trong lối văn
Nguyễn Quang Sáng là ông có “một lối văn rất "hoạt", rất "động". Đọc văn của ông, thấy ẩn giấu sau
mỗi câu chữ là tiếng cười kể cả khi viết về những gay cấn, nguy hiểm nhất. Tiếng cười đó làm thư giãn và thanh
thản người đọc giúp họ khỏe hơn, yêu đời hơn. Lại có cảm giác Nguyễn Quang Sáng viết "như chơi" - nghĩa là
từ ngòi bút ấy tuôn chảy cái mạch tình cảm tự nhiên của một người có bản lĩnh lại thấu thị nhiều điều trong cuộc
đang diễn ra. Điểm nhìn của tác giả và điểm nhìn của nhân vật nhiều khi hòa nhập vào nhau.
Điều này làm cho truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng chân thực, sinh động và hấp dẫn đối với
người đọc.
Là người yêu thích tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng và có điều kiện lặng lẽ “theo dõi”
nhà văn nổi tiếng này, Bùi Việt Thắng năm 1996 làm công việc giới thiệu Tuyển tập Nguyễn
Quang Sáng qua Còn lại tình yêu đã khẳng định: “Người kể chuyện dù ở ngôi thứ ba thì đều giống nhau ở
cái chất tự nhiên mà dí dỏm, tình cảm mà khách quan” [34;15]. Nhận định của Bùi Việt Thắng phát
hiện ra một kiểu tường thuật khác trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng: người tường
thuật không biểu thị trong văn bản, dẫn dắt câu chuyện từ ngôi thứ ba. Người tường thuật
không tham gia vào hành động nghệ thuật, mà chỉ đứng ở sau hành động đó để quan sát.
Nhưng dù người tường thuật ở ngôi thứ ba thì truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng vẫn mang
những nét đặc sắc, độc đáo của nhà văn.
Năm 1969, Ngọc Trai Đọc chiếc lược ngà - bài phê bình cho tuyển tập nghiên cứu phê
bình của Mười năm văn học chống Mỹ, Nxb Giải Phóng đã xem “lối viết tế nhị vừa hiện thực ở sự chính
xác trong chi tiết, cụ thể trong sự kiện, lôgích khi miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật, tượng trưng ở lối nói bóng
bẩy, có ngụ ý. Một sự kiện, một chi tiết nào cũng có thể hiểu theo hai tầng nghĩa, nghĩa trắng và nghĩa đen là
điểm độc đáo của nghệ thuật diễn tả Quán rượu người câm” [39;322]. Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa
và làm nổi bật được cá tính đặc sắc của con người miền Nam ở Một chuyện vui là nhờ: “Cái lạc
quan hài hước toát lên toàn bộ câu chuyên biểu thị sức mạnh tinh thần, thế đứng trên đầu thù của nhân dân ta"
[39;324]. Tiếp cận ở phong cách nghệ thuật, Ngọc Trai nhận định: “Nghệ thuật của Nguyễn Quang
Sáng giàu tính trữ tình và có một tầm khái quát nhất định. Truyện của anh thường gợi cho người đọc suy nghĩ
12
sâu về những vấn đề thiết thân của cuộc sống. Mỗi truyện của anh như một lá thư, một lời tâm sự mà anh muốn
gởi gắm cho người đọc để nói những suy nghĩ của mình về cuộc sống, con người, đất nước miền Nam trong giai
đoạn kỳ diệu có một không hai này của lịch sử” [39;325]. Ở nhận định này, Ngọc Trai đã thừa nhận
trong văn Nguyễn Quang Sáng có chất triết lý, đây là một điều quan trọng của bài viết.
Nếu Ngọc Trai đọc Chiếc lược ngà thì Nguyễn Nghiệp tìm hiểu hình ảnh Đất nước và con
người miền Nam trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, vào năm 1977, đã nhận ra rằng: “Toàn
như khí trời nên sự triết lý của nhà văn cũng từ đó mà tự nhiên, nhuần nhị” [34 ; 12 ]. Ông cũng đưa ra ý
kiến của mình về 17 truyện ngắn viết sau năm 1975 của Nguyễn Quang Sáng: “Ở loạt truyện
ngắn này Nguyễn Quang Sáng lại như "phát sáng" trở lại - nghĩa là tung phá hơn nhưng rất uyển chuyển, vừa
giàu chất sống vừa thâm sâu triết luận, vừa cụ thể sinh động vừa rất gợi mở liên tưởng”.
Nếu như Ngọc Trai, Nguyễn Nghiệp, Vân Thanh xem văn Nguyễn Quang Sáng có
chất trữ tình kết hợp với lạc quan hài hước thì Bùi Viết Thắng cho rằng chất triết lý xuyên
suốt các sáng tác trước và sau năm 1975 của Nguyễn Quang Sáng. Đây là sự khám phá mới
mẻ đầy trân trọng về bút pháp trong văn Nguyễn Quang Sáng.
3.2.2 Những ý kiến bần về tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng
Tiếp cận truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng ở mặt nghệ thuật, bài nhận định Truyện
ngắn miền Nam của Văn học giải phóng miền Nam, tác giả Phạm Văn Sĩ viết: “Tác giả tỏ ra nhạy cảm
trong việc nắm bắt những sự kiện tiêu biểu, tinh tế trong việc khai thác tính cách người Nam Bộ, nhất là những
nam nữ thanh niên mới lớn trong thời kỳ chống Mỹ... Anh vận dụng rất khéo những xung đột mang tính thẩm mỹ
như xung đột giữa người cha (anh Sáu) và đứa con gái (Thu) trong Chiếc lược ngà, xung đột giữa người mẹ và
cô con gái trong truyện Bông cẩm thạch” [31; 83]. Nhận định của Phạm Văn Sĩ khẳng định thế mạnh
của ngòi bút Nguyễn Quang Sáng trong việc dựng nên những tình huống đầy kịch tính làm
bộc lộ tính cách của nhân vật. Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng có tính cách
người Nam Bộ rõ nét. Nhà văn tỏ ra tinh tế, khéo léo khi xây dựng tính cách của lớp nam nữ
thanh niên trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Điều này cho thấy truyện
ngắn Nguyễn Quang Sáng có điểm gặp gỡ với truyện ngắn của Nguyễn Thi.
Năm 1977, trong bài Truyện ngắn Nguyễn Sáng, Vân Thanh đặc biệt chú trọng đến nghệ
thuật của truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng khi viết: “Người đọc được tiếp xúc nhiều hơn với những
câu chuyện được xây dựng trên những tình tiết ngẫu nhiên, bất ngờ, lắm khi gay cấn, căng thẳng đầy
tính kịch” [21 ; 52]. Có thể nói rằng, tính kịch là điểm nổi bật trong nghệ thuật xây dựng tình
14
huống của Nguyễn Quang Sáng: “Giàu chi tiết sống, lắm tình huống bất ngờ, truỵện Nguyễn Quang
Sáng thường mang nhiều chất kịch. Có thể xem đó là phong cách của anh. Truyện của anh bao giờ cũng có khía
cạnh làm cho người đọc hồi hộp, chờ đợi. Kết thúc truyện bao giờ cũng đột ngột, người đọc khó đoán trước
trước năm 1975. Nhận định của Bùi Việt Thắng khẳng định thêm tài năng nghệ thuật của
Nguyễn Quang Sáng. Tác giả đã cung cấp thêm ý kiến xác đáng, tạo điều kiện cho việc tìm
hiểu nghệ thuật xây dựng tình huống trong truyện ngắn của nhà văn tài năng này.
Phan Đắc Lập nhận xét về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng viết trong và sau chiến
tranh: “Dù viết về đề tài chiến tranh, hay chuyện đời thường, phần lớn các tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng
đều hấp dẫn. Sức hấp dẫn ấy do nhiều yếu tố: chủ đề, bố cục, chi tiết... nhưng trước hết ở tác phẩm của anh là
giàu kịch tính. Thảo nào một số tác phẩm của anh rất thành công khi chuyển sang kịch bản điện ảnh và nghiễm
nhiên anh trở thành một cây bút viết kịch bản phim có tài” [16]. Phan Đắc Lập khẳng định truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng hấp dẫn người đọc trước hết là ở việc tạo nên những tình huống giàu
kịch tính. Ý kiến của Phan Đắc Lập một lần nữa khẳng định tài năng trong việc xây dựng
tình huống kịch trong truyện ngắn và chuyển thể tác phẩm truyện ngắn sang kịch bản điện
ảnh của Nguyễn Quang Sáng.
3.3. Nhận định chung:
Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, nhiều tác giả
tìm hiểu, đánh giá từ hơn 30 năm qua. Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng được nghiên cứu,
tìm hiểu ở nhiều mức độ khác nhau và tiếp cận từ nhiều góc độ: thời đại, nội dung tư tưởng,
phong cách nghệ thuật và thi pháp. Nhìn chung, các tác giả đều đánh giá cao truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng và thống nhất:
- Nguyễn Quang Sáng đã sử dụng ngôn ngữ địa phương, đạt được sự chuẩn xác của
ngôn ngữ tiếng Việt mà vẫn giữ được chất giọng Nam Bộ.
- Văn Nguyễn Quang Sáng có tính lạc quan, dí dỏm, giàu chất trữ tình, thâm sâu triết
lý tạo nên phong cách riêng biệt khó lẫn.
- Nghệ thuật kể chuyện được xây dựng trên những tình huống bất ngờ, gay cấn, kịch
tính cao, kết thúc truyện bất ngờ.
- Từ các công trình nghiên cứu của các tác giả, chúng tôi thấy rằng: số lượng nghiên
cứu, khảo sát về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng chưa nhiều, chỉ xét đến một số truyện
ngắn tiêu biểu. Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước được
nghiên cứu nhiều hơn truyện ngắn trong giai đoạn đất nước hòa bình, đi lên xây dựng chủ
16
Ngoài việc áp dụng phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, tổng hợp, chúng
tôi còn chú ý tới phương pháp miêu tả, phương pháp thống kế và phương pháp so sánh.
17
Phương pháp miêu tả làm nổi bật vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật trong lời kể. Chúng tôi
sử dụng phương pháp thống kê ở chừng mực nhất định, không nhất thiết phải có những
nhận định rút ra. Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu những hiện tượng
tương đồng và khác biệt giữa Nguyễn Quang Sáng và một số tác giả đương thời. Ở đề tài
này, chúng tôi so sánh phương thức tổ chức và tình huống của truyện ngắn Nguyễn Quang
Sáng với phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống của truyện ngắn Sơn Nam,
Anh Đức. Những tác phẩm của hai nhà văn này đều dựa vào văn bản truyện : Tuyển tập
Truyện ngắn và bút ký Anh Đức (nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002) và tập truyện ngắn
Hương rừng Cà Mau (nhà xuất bản Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, in lần thứ hai, 1998).
5. Những đóng góp của luận văn:
Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống là những phương thức trình bày
được tác giả lựa chọn để nêu lên tư tưởng mà mình muốn diễn đạt trong tác phẩm, những
tình thế mà tác giả lựa chọn để làm nổi bật tính cách, tâm trạng, số phận của nhân vật. vấn
đề này liên quan đến nhiều yếu tố nghệ thuật phức tạp của tác phẩm văn học. Một số nhà
nghiên cứu, một số bài viết đã bàn về vấn đề phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình
huống nhưng nội dung chưa sâu sắc, chưa đầy đủ, chiếm số lượng không nhiều, còn mang
tính chất khái quát, phân tích, đánh giá những tác phẩm đã quen thuộc với người đọc.
Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật và tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Quang
Sáng cũng nằm trong tình hình đó.
Từ thực tế trên, khi thực hiện đề tài này, chúng tôi cố gắng góp một số ý kiến về vấn đề
phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng. Chúng tôi
tìm hiểu nhiều tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng, đặt trong một hệ thống hợp lý để nhận
xét, đánh giá. Chúng tôi mong muốn đưa thêm một số ý kiến bổ sung vào những người đi
trước đã khám phá, tìm tòi. Thêm vào đó từ góc độ thi pháp, những yếu tố trong tổ chức lời
chuyện về mình, mình nói tâm lý, tư tưởng của mình, thì được người đọc tin tưởng là có
thật, là đúng. Vì vậy, trong thể loại truyện ngắn, nghệ thuật kể chuyện của nhà văn rất quan
trọng, góp phần to lớn vào việc thể hiện cái hay, cái đẹp của tác phẩm.
Tác phẩm văn học là cầu nối giữa nhà văn và độc giả. Những tư tưởng, tình cảm của
tác giả qua lối kể chuyện trong tác phẩm đến với người đọc. Lời kể chuyện trong tác phẩm
luôn in đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, thể hiện tài năng nghệ thuật và phong cách tác giả.
Qua lời kể, người đọc hình dung, suy ngẫm, tưởng tượng, cảm xúc về nội dung tư tưởng mà
tác giả gửi gắm trong tác phẩm.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Lời văn của tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ
thuật. Trong nghệ thuật, nhà văn hoàn thiện văn bản, tạo thành lời văn duy nhất hợp với ý
tình định nói. Lời văn nghệ thuật là hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học được tổ chức
theo qui luật nghệ thuật riêng, tùy thuộc vào nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ và tài năng sáng
tạo của nhà văn.
20
Tác phẩm văn học được xây dựng trên chất liệu ngôn ngữ. Đặc điểm nổi bật phân biệt
lời văn nghệ thuật với lời nói giao tiếp thông thường là tính hình tượng. G.N Pospelov trong
cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học đã khẳng định: “Lời văn của tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng có tính
biểu cảm - đó là lời văn biểu cảm hình tượng”. [36;55]. Đời sống hiện thực được phản ánh qua lăng
kính chủ quan của nhà văn, tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn tư tưởng, tình cảm của
nhà văn. Tính hình tượng của lời văn nghệ thuật bắt nguồn từ chỗ đó là lời của một chủ thể
tư tưởng thẩm mỹ có tầm khái quát nhất định. Vì vậy, lời văn nghệ thuật dễ làm cho người
đọc cảm xúc, yêu thích, trở thành lời nói của nhiều người. Lời văn nghệ thuật trong tác phẩm
văn học có khi là lời của nhà văn, lời của người kể chuyện, lời của các nhân vật. Có khi tác
giả nhập thân vào một người mẹ, một người vợ, một cô gái, anh bộ đội để phát biểu tư
tưởng, cảm xúc của mình. Lời văn nghệ thuật là của nhân vật trữ tình, không phải là một
người thực tế. Vì vậy, lời văn nghệ thuật rất phong phú, đa dạng, tinh tế.
Lời văn nghệ thuật cô đọng, súc tích, gợi hình, gợi cảm, giúp cho người đọc cảm thụ
thức tường thuật khách quan hóa chiếm 11/49 truyện ngắn. Phương thức tường thuật này
biểu hiện ở các kiểu tường thuật sau đây:
1.2.1. Kiểu tường thuật lạnh lùng
Trong kiểu tường thuật lạnh lùng, người kể hoàn toàn đứng ở bên ngoài, cố ý tạo ra
một khoảng cách nhất định với câu chuyện, cố gắng tách mình ra khỏi ttuyện, không chú ý
đến những biến cố xảy ra với nhân vật. Điều này làm cho người đọc hoàn toàn tự do có
những suy nghĩ, đánh giá theo cách riêng không cần sự trợ giúp của người kể : " Lối kể lạnh
lùng cũng làm cho người đọc cảm thấy rằng hiện thực được phản ánh thực sự khách quan và do đó gây ấn
tượng mạnh mẽ" [17; 167]. Xét 11 truyện ngắn được kể theo phương thức tường thuật khách
quan hóa thì chỉ duy nhất Con chim vàng thuộc kiểu tường thuật lạnh lùng.
Chúng tôi xin đề cập đến truyện ngắn Con chim vàng.
Ở truyện này, người kể dường như không quan tâm đến những biến cố của câu chuyện,
thuật lại lai lịch, tình cảnh của nhân vật một cách hoàn toàn khách quan. Người kể tuyệt đối
không tham gia vào câu chuyện bi thảm của em bé ở đợ chăn trâu 12 tuổi tên là Bào. Chỉ vì
mẹ em thiếu hai thúng thóc của tên hương quản trong làng mà Bào phải đến ở đợ cho nhà
nó. Thằng Quyên - con mụ chủ - ao ước được chơi với con chim vàng thường đậu trên cây
trứng cá trước sân nhà. Hai mẹ con nó buộc thằng Bào phải bắt đươc con chim quí. Sau
nhiều lần thất bại và nhiều đêm trằn trọc nghĩ kế, Bào quấn lá cây đầy mình "ngụy trang" rồi
22
rình sẵn trên cây. Cuối cùng, Bào cũng chộp được con chim vàng nhưng cả người và chim
đều rơi xuống đất, chim tan xác còn Bào lịm đi trong vũng máu. Vậy mà mụ chủ không hề
mảy may để ý đến tính mạng của cậu bé đáng thương, mụ chỉ tiếc con chim đã chết. Câu
chuyện thảm thương này đã gián tiếp tố cáo bản chất bất nhân của bọn địa chủ đối với
những người dân nghèo. Người đọc xót xa, thương cảm cho số phận bi thảm của người nông
dân dưới chế độ phong kiến bao nhiêu thì càng rùng mình kinh sợ trước sự độc ác của bọn
địa chủ bấy nhiêu, ở đây người kể dường như hoàn toàn dửng dưng với câu chuyện, sử dụng
lời nói trực tiếp của nhân vật để nó tự bộc lộ bản chất của mình: "Lời văn trực tiếp hướng thẳng tới
đối tượng của nó, với tư cách là sự biểu hiện của cấp ý nghĩa cuối cùng của người nói" [5;195]. Người kể
- Tui buông... cho tui buông cáng!
Dưới ánh sao đôi mắt nó thất lạc. Lão Tư Hưng hầu như không nghe tiếng kêu thảm thiết ấy. Lão đang
nghe tiếng cá dậy rộn trong lưới.... Trước mắt lão hiện ra vô số cá khoai, cá gộc. Cá ấy sẽ cho lão vô vàn giấy
bạc. Lão Tư Hưng giậm chân một cái rầm trên sạp ghe. Miệng lão còn đang nhai sò, huyết sò chưa chín ứa ra
mép lão như máu người".
Bằng những lời nửa trực tiếp, nhà văn đã phơi bày bản chất bất nhân coi lợi ích cá
nhân hơn tính mạng con người của lão chủ lưới Tư Hưng. Lời văn vẫn là gián tiếp nhưng ý
thức, ngữ điệu là của lão chủ độc ác, hám tiền: “nghe tiếng cá rộn trong lưới”, “hiện ra vô số các
khoai, cá gộc”, “vô vàn giấy bạc”. Hơn nữa, bản chất của Tư Hưng còn được thể hiện qua cách
cảm nhận, liên tưởng của người viết: “huyết sò chưa chín ứa ra mép lão như máu người”. Cách so
sánh thật mới lạ, độc đáo làm cho người đọc thêm phẫn uất, ghê tởm, căm ghét lão. Do đó,
nhân vật Tư Hưng hiện lên thật sống động như đang ở trước mặt người đọc.
1.2.2. Kiểu người tường thuật hòa mình với nhân vật
Theo Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc, ở kiểu tường thuật hòa mình với
nhân vật thì “người tường thuật một mặt thì cố tách mình ra khỏi diễn biến câu chuyện, nhưng mặt khác, khi
cần thiết thì lại hòa mình vào với những nhân vật để phô bày toàn bộ cái thế giới nội tâm của con người. Trong
trường hợp này, người tường thuật càng chứng tỏ mình là người “uyên bác”, có thể biết được mọi chuyên trên
đời, dù là trong ngõ ngách của tâm hồn” [17;168].
Trong kiểu tường thuật này, chủ thể kể chuyện thường hòa nhập vào những suy nghĩ ,
cảm xúc, hành động của nhân vật để tìm hiểu, khám phá thế giới nội tâm đa dạng, phong
phú. Những suy nghĩ thầm kín, những tình cảm tinh tế nhất của nhân vật được biểu hiện
trong việc sử dụng hình thức lời nói nửa trực tiếp. Lời nói nửa trực tiếp là lời tác giả phát
biểu dựa theo tâm trạng và suy nghĩ của một nhân vật nhất định. Đến một lúc nào đó, lời
24
phát biểu đó gần như là lời phát biểu của nhân vật, lời của tác giả và lời của nhân vật hòa
quyện vào nhau khó phân biệt rạch ròi được, thậm chí từ ngữ, cách nói cũng đặc trưng cho
nhân vật đó. Kiểu tường thuật hòa mình với nhân vật làm cho người đọc cùng hòa mình với
những suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật, cảm nhận được tài nghệ của tác giả khi mô tả những