BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Văn Hạnh
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG E-BOOK DẠY HỌC
CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ”-VẬT LÝ 12
CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
GIÚP HỌC SINH TỰ HỌC VÀ ÔN TẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Văn Hạnh
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG E-BOOK DẠY HỌC
CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ”-VẬT LÝ 12
CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
GIÚP HỌC SINH TỰ HỌC VÀ ÔN TẬP
Chuyên ngành : LL&PP dạy học bộ môn Vật lí
Mã số
: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
1
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN VÀ CẢM ƠN ................................................................................ 1
MỤC LỤC .................................................................................................................... 2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN .......................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài và thực trạng ..................................................................................... 6
2. Mục đích của đề tài ......................................................................................................... 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 9
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 9
6. Giả thuyết khoa học ...................................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .............................................................................. 11
1.1. Tổng quan về phương pháp dạy học theo xu hướng tích cực ................................ 11
1.1.1. Các đặc trưng của dạy học tích cực ....................................................................... 12
1.1.2. Các yếu tố tác động trong phương pháp dạy học tích cực .................................... 15
1.1.3. Thuận lợi và khó khăn của phương pháp dạy học tích cực ................................... 16
1.2. Tổng quan về tự học và hoạt động ôn tập củng cố ................................................. 17
1.2.1. Tổng quan về tự học .............................................................................................. 17
1.2.2. Tổng quan về hoạt động ôn tập củng cố ............................................................... 21
1.3. Tổng quan về kiểm tra đánh giá ............................................................................... 30
1.3.1. Khái niệm chung về đánh giá ................................................................................ 30
1.3.2. Vai trò của kiểm tra, đánh giá ............................................................................... 31
1.3.3. Các phương pháp đánh giá .................................................................................... 33
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG E-BOOK DẠY HỌC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ”
– VẬT LÝ LỚP 12 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) GIÚP HỌC SINH TỰ HỌC
2.5.1. Xây dựng giao diện và tương tác .......................................................................... 58
2.5.2. Xây dựng nội dung ................................................................................................ 59
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM............................................................ 67
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm .................................................. 67
3.1.1. Mục đích ................................................................................................................ 67
3.1.2. Nhiệm vụ ............................................................................................................... 67
3.2. Xây dựng mô hình thực nghiệm-lựa chọn đối tượng và nội dung thực nghiệm .. 68
3.2.1. Xây dựng mô hình thực nghiệm ............................................................................ 68
3.2.2. Lựa chọn đối tượng và nội dung thực nghiệm định tính ....................................... 69
3.2.3. Lựa chọn đối tượng và nội dung thực nghiệm định lượng.................................... 69
3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm ................................................................................. 71
3.3.1. Quy trình thực nghiệm sư phạm ............................................................................ 71
3.3.2. Kết quả định lượng ................................................................................................ 71
3.4. Phân tích-đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm ................................................. 74
3.4.1. Về mặt định tính: thông qua quan sát, phiếu điều tra............................................ 74
3.4.2. Về mặt định lượng ................................................................................................. 78
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 91
3
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 93
4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
năm gần đây đã tác động vào hầu hết các lĩnh vực, làm thay đổi rất lớn đến đời sống
kinh tế xã hội. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề ứng dụng công
nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là giáo dục. Để
hòa nhập với tốc độ phát triển của nền khoa học kĩ thuật trên thế giới, sự nghiệp giáo
dục cũng phải nhanh chóng đổi mới nhằm tạo ra những con người có đủ kiến thức,
năng lực trí tuệ sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt. Một trong những trọng tâm của
việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường THPT là phát huy tính tích cực
và khả năng tự học của học sinh. Trong luật Giáo dục (2005), Điều 28.2 nêu rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Để thực hiện điều
này, giáo viên cần phải áp dụng những phương pháp và hình thức dạy học thích hợp,
bên cạnh đó cần cung cấp cho HS những công cụ tự học có hiệu quả. Bởi lẽ, tự học là
một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức, kĩ năng
cần phải có với quĩ thời gian học tập ít ỏi ở trường.
Để đáp ứng việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tự lực,
tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh, bên cạnh những hình
thức tự học qua sách báo, truyền hình, tham quan … thì việc tự học với sự trợ giúp
của e-book đang trở nên hết sức phổ biến. Trong những năm gần đây, hướng nghiên
cứu thiết kế e-book để phục vụ quá trình dạy học đã được thực hiện và áp dụng vào
một số môn học. Ưu điểm nổi bật của e-book là khả năng lưu trữ lớn, cung cấp cho
HS nhiều thông tin, hình ảnh, phim minh họa rõ nét, hấp dẫn mà sách in thông
thường không có được, do đó nâng cao hiệu quả tự học thông qua những kiến thức
được minh họa một cách sinh động, hấp dẫn. Vì thế việc nghiên cứu xây dựng một ebook vận dụng vào dạy học Vật lí nhằm cung cấp cho học sinh một tài liệu hướng
6
dẫn cụ thể, giúp học sinh tự học ở nhà như là khi học trên lớp, học sinh được đặt vào
những tình huống có vấn đề, được tự mình tìm cách giải quyết các vấn đề để nâng
rất quan tâm.Vì vậy, cần có một nguồn tài liệu nào đó giúp HS có thể tự học ở nhà để
giảm bớt việc phải đi học thêm, giảm chi phí cho gia đình HS và thời gian đi lại
của HS.
Chính vì những lí do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Thiết kế và sử
dụng e-book dạy học chương “dao động cơ” Vật lý lớp 12-Chương trình chuẩn
giúp học sinh tự học và ôn tập”. Với đề tài này, chúng tôi mong muốn HS sẽ tích
cực tự lực học tập, hứng thú trong việc học Vật lý, đồng thời một phần nào đó rèn
luyện được kĩ năng cần thiết cho làm bài tập trắc nghiệm, tự kiểm tra đánh giá chính
khả năng của mình để điều chỉnh phương pháp học tập cho phù hợp với điều kiện của
bản thân cũng như những kiến thức quan trọng để tiếp tục học các chương tiếp theo
và chuẩn bị tốt nhất cho ki thi tốt nghiệp và đại học. Chúng tôi cũng mong muốn đề
tài của mình sẽ đóng góp phần nào đó cho công cuộc đổi mới và nâng cao chất lượng
cho giáo dục phổ thông.
2. Mục đích của đề tài
Xây dựng e-book hỗ trợ dạy học chương “dao động cơ”-Vật lý 12-chương trình
chuẩn với các nội dung: Hệ thống hóa-tóm tắt kiến thức sau mỗi bài học theo phân
phối chương trình, phân loại các dạng toán của chương, phương pháp giải từng loại
toán, bài tự kiểm tra với 2 mức độ: cho thi tốt nghiệp THPT và cho thi đại học, cao
đẳng. Nhằm mục đích giúp cho HS hứng thú và tích cực tự lực học tập, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học môn Vật Lý trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới GD nhằm phát huy tính tích cực chủ động
sáng tạo của HS.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về một số phương pháp tự học, các mức độ của nhận
thức, hình thức trắc nghiệm khách quan.
- Nghiên cứu cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và thi đại học, cao đẳng. Nghiên
cứu chương trình, nội dung của Vật Lý 12
- Biên soạn: Tổng kết kiến thức sau mỗi bài học theo phân phối chương trình,
phân loại các dạng toán của chương “dao động cơ”, đưa ra các phương pháp giải
9
- Thống kê, đánh giá: kết quả thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Phước
Vĩnh – Phú Giáo – Bình Dương trong tháng 8 và nửa đầu tháng 9 của học kì 1 năm
học 2013.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được e-book dạy học chương “Dao động cơ” với hình thức đẹp, hấp
dẫn, nội dung phù hợp thì có thể làm cho học sinh hứng thú và tích cực tự lực học tập
ở trên lớp cũng như ở nhà.
10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan về phương pháp dạy học theo xu hướng tích cực
Thực tế đã chứng minh, việc học chỉ thực sự có được khi học sinh tích cực và
chủ động tham gia vào quá trình dạy – học. Trong quá trình dạy học, khối lượng kiến
thức, kĩ năng và kĩ xảo của học sinh tăng lên, tầm hiểu biết được mở rộng, quan điểm
và niềm tin chính trị được hình thành. Chỉ trong quá trình hoạt động tích cực, HS mới
tiếp thu kiến thức, rèn luyện được kĩ năng, có được sự say mê học tập và sự hoàn
thiện những năng lực nhận thức chung và riêng. Tất cả những cái đó dẫn tới việc
hoàn thiện nhân cách nói chung, và làm phong phú thêm những nhu cầu nhận thức.
Vậy tính tích cực nhận thức là gì? Đó là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc
trưng bởi khát vọng, sự cố gắng, sự quyết tâm và thể hiện nghị lực cao trong quá trình
học tập lĩnh hội kiến thức. Để HS có được tính tích cực trong nhận thức, cần phải có
chủ trương và biện pháp đúng đắn, phải có sự đổi mới về mặt phương pháp giáo dục.
Trong Luật giáo dục, điều 24.2 đã ghi : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của
tâm ra đời từ bối cảnh đó.
Trên thực tế, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động
dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo
của thầy, người học phải tích cực chủ động hoàn thiện bản thân về kiến thức, kĩ năng,
thái độ, hoàn thiện nhân cách. Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không
chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế.
Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì phải phát
huy tính tích cực chủ động của người học. Tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung
tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể. Đó là một tư tưởng, quan điểm
GD, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả qúa trình dạy học về mục
tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ
liên quan đến phương pháp dạy và học.
1.1.1. Các đặc trưng của dạy học tích cực
a. Dạy và học không qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học là đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời cũng là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt
động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều
12
mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt.
Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát,
thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó
nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ
năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng
sáng tạo.
Dạy theo cách này thì GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng
dẫn hoạt động. Trong quá trình dạy học, GV phải giúp cho từng HS biết cách hoạt
động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.
mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên
một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của
người thầy giáo.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ,
lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong
nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải
giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá
nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có
hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát
triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa
vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác
trong lao động
xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên
quốc gia; năng lực hợp tác đang trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải
chuẩn bị cho học sinh.
d. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây, GV giữ độc quyền đánh giá HS. Trong phương pháp tích cực, GV
phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên
quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn
14
nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự
thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người
khiển quá trình dạy – học. Đôi khi không phải kiến thức nào học sinh cũng có thể tự
tìm hiểu, khám phá ra, mà kiến thức đó phải do người thầy đem lại
Tóm lại, điều khác biệt giữa phương pháp dạy học tích cực với phương pháp dạy
học truyền thống, chính là ở chỗ: “thầy giáo là chất xúc tác, không đảm nhận một
hành động trực tiếp nào. Thầy là người kích thính nhằm thường xuyên thức tỉnh một
số khuynh hướng, một số quy trình bỏ sung cần thiết cho sự thăng bằng nhân cách”
[1].
1.1.2.2. Phương tiện vật chất
Phương tiện vật chất luôn luôn là một yếu tố cần thiết, nếu được sử dụng hợp lí
có thể dẫn tới biến đổi lớn đối với hiệu quả, chất lượng giáo dục. Học cụ được sử
dụng đúng liều lượng sẽ thích hợp với hứng thú và mục tiêu học tập. Trật tự lớp học
cũng biến đổi: từ kiểu trật tự bất động và im lặng của kiểu “lớp học - thỉnh giảng” hay
lớp học truyền thống đến trật tự “vận động” của kiểu lớp học “xưởng thợ”.
Sách giáo khoa cũng đổi hướng, cung cấp nhiều dữ liệu hơn là quy tắc, nhiều bài
tập hơn là bài giải, nhiều lời khuyên giải sưu tầm hơn là bài tóm tắt, nhiều gợi ý hơn
là giảng dạy.
Hiện nay, không thể cá thể hóa dạy học nếu không có sự liên kết với phương
tiện và nghe nhìn và liên kết các phương tiện vật chất khác nhằm phát huy tính tích
cực của HS. Do đó, để hỗ trợ cho phương pháp tích cực, không gian học đường cần
phải được trang bị thật sinh động.
1.1.3. Thuận lợi và khó khăn của phương pháp dạy học tích cực
1.1.3.1. Những thuận lợi
Đứng về mặt hiểu biết, xây dựng nhân cách phương pháp tích cực có hiệu quả
hơn phương pháp độc đoán vì huy động được nhân cách học sinh vào hành động hiểu
biết. Câu thành ngữ “Tôi nghe thì tôi quên, tôi thấy thì tôi nhớ, tôi làm thì tôi hiểu” đã
có trên hai ngàn năm tuổi, đây chính là con đường, là phương pháp phát triển cả kỹ
năng thực hành lẫn kĩ năng tư duy trí tuệ ở HS. Chỉ có tự vận động suy nghĩ, tự tham
gia trực tiếp vào công việc mới đạt được cấp cao hơn của nhận thức trong chuỗi quá
cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho
họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ
được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học
trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học
17
chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học
ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV.
1.2.1.1. Các khái niệm về tự học
Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ cùng các
phẩm chất khác của mình, cả động cơ và tình cảm, thế giới quan để chiếm lĩnh một
lĩnh vực hiểu biết nào đó thành sử hữu của mình. Có thể nói một cách ngắn gọn, tự
học là quá trình độc lập khám phá và sáng tạo.
Có nhiều cách tự học như: Tự mình mò mẫm ( đối với người không có điều
kiện đi học, các tri thức của họ tìm được là do sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản
thân họ trong cuộc sống); Tự học ở nhà, không có sự hướng dẫn của người thầy (đối
với người học đã có một trình độ học vấn nhất định, đã trải qua một thời gian học với
thầy); Tự học với sự hướng dẫn của người thầy (đối với người đang theo học, hoạt
động tự học này gắn với quá trình dạy-học).
Ở cấp học phổ thông, hoạt động tự học của HS thường gắn liền với sự hướng
dẫn của người thầy. Hoạt động này diễn ra ở hai phạm vi: tự học trên lớp với sự
hướng dẫn trực tiếp của người thầy và tự học ngoài giờ lên lớp.
• Tự học trên lớp:
- Nghe GV giảng và hướng dẫn.
- Lập luận, đánh giá, rút ra kết luận.
- Nghi chép theo cách hiểu của bản thân.
- Trao đổi với GV và HS khác những vấn đề còn thắc mắc.
• Tự học ngoài giờ lên lớp:
có kế hoạch rõ ràng, phụ thuộc vào thời khóa biểu các môn học trên trường, do đó
không đề ra được kế hoạch cụ thể dẫn đến việc không kiểm soát và quản lý quá trình
học.
- Lựa chọn tài liệu tham khảo: CNTT bùng nổ, đây là lợi thế cho việc tự học, vì
nguồn tài nguyên cho học tập được phổ biến, nhưng cũng lại là khó khăn. Bởi vì,
giữa mênh mông tài liệu, sách tham khảo, lớp học trực tuyến, phần mềm tự học... HS
không biết lựa chọn nguồn tài liệu nào cho phù hợp với bản thân.
- Khắc phục khó khăn trong trường hợp không có GV trợ giúp: Từ việc lựa
trọn tài liệu không phù hợp, dẫn tới gặp khó khăn trong lúc giải quyết các vấn đề của
bài học, khi đó HS dễ nản chí, không còn hứng thú nghiên cứu tài liệu.
- Đánh giá kết quả và hiệu quả của việc tự học: tự học rất khó kiểm soát, khó
đánh giá kết quả.
19
1.2.1.3. Một số biện pháp
Có rất nhiều tài liệu nói về phương pháp tự học cũng như tác dụng của phương
pháp này. Vấn đề cốt lõi là phải làm thế nào để giúp HS thực hiện được phương pháp
này, cũng như giải quyết được những khó khăn khi tự học. Sau đây là một số biện
pháp
- Thiết kế các bài tập tự học cho học sinh
Các bài tập tự học bao hàm nội dung học tập mà HS phải tự hoàn thành. Đồng
thời bài tập tự học này cũng chỉ dẫn cách học cho HS, đây cũng là cơ sở để GV đánh
giá kết quả tự học của HS. Do đó, việc thiết kế bài tập tự học cho HS có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc hướng dẫn tự học.
* Trước khi thiết kế bài tập tự học, GV cần lựa chọn và quyết định nội dung tự
học. Thông thường, các nội dung được chọn là những vấn đề cơ bản, đơn giản, mang
tính thực tiễn cao, gắn liền với nội dung học tập chính khóa của HS, có nhiều nguồn
tài liệu. Tiếp theo, phải phân tích nội dung đã được chọn thành những đơn vị kiến
thức nhỏ và theo các đề mục rõ ràng, để dễ thiết kế cũng như HS dễ soạn thảo thành
* Cho đáp án và cung cấp các bài mẫu cũng như cách giải tối ưu sau khi HS đã
hoàn thành bài tự kiểm tra, khi đó HS sẽ tự so sánh và đánh giá.
* Khuyến khích HS tìm cách giải mới, cũng như tìm kiếm các câu hỏi tự kiểm
tra ở các tài liệu khác. Sau đó yêu cầu HS phát biểu tự đánh giá về quá trình và hiệu
quả việc tự học của mình.
* Khuyến khích HS việc tự học theo nhóm, cho HS đóng vai trò người GV để
giúp đỡ nhau trong học tập cũng như đánh giá và nâng cao trách nhiệm đối với nhau.
Đây cũng là cách để khắc phục khó khăn trong việc tự học khi không có GV.
- Hướng dẫn lựa chọn nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu góp phần rất lớn cho chất lượng của việc tự học. Vì vậy, GV
nên lập các loại danh mục tài liệu cho HS. Trong đó nên chỉ rõ tài liệu nào là bắt buộc
phải có và tài liệu nào là tài liệu tham khảo. Với tài liệu bắt buộc nên chỉ rõ số trang
phải đọc và câu hỏi cho bài học tương ứng.
Sưu tầm và phân loại nguồn tài liệu là một trong những kĩ năng cần được hình
thành trong hoạt động tự học. Hướng dẫn cho HS sưu tầm những tài liệu có nguồn
gốc rõ ràng, được viết gắn liền với nội dung, chương trình mà HS đang học, không
quá dàn trải. Tác giả của tài liệu phải có uy tín trong hoạt động nghiên cứu khoa
học...
1.2.2. Tổng quan về hoạt động ôn tập củng cố
21
1.2.2.1. Ôn tập củng cố và mục đích của ôn tập củng cố
Theo cách hiểu thông thường, ôn tập củng cố là hệ thống lại, nhớ lại, xây dựng
lại kiến thức một cách chắc chắn hơn. Theo tâm lý học thì ôn tập không chỉ là nhớ lại
mà còn là cấu trúc lại các kiến thức đã được lĩnh hội, sắp xếp các thông tin, kiến thức
theo một cấu trúc mới, kết hợp với các thông tin, kiến thức cũ để tạo nên sự hiểu biết
mới. Theo đó, việc ôn tập phụ thuộc vào chủ quan của HS. Mỗi HS có một cách sắp
xếp, cấu trúc nội dung kiến thức, thông tin khác nhau, tùy thuộc vào tính cách, cách
thức học và trình độ kiến thức của mỗi HS khác nhau. Khi cần thiết, HS có thể tái
được thu nhận của mỗi bản thân HS. Tuy nhiên muốn làm được điều này đòi hỏi
không chỉ tính tự giác, năng lực cá nhân của HS mà còn phụ thuộc vào nội dung,
phương pháp và hình thức tổ chức ôn tập của GV.
Sự lưu trữ thông tin trong trí nhớ giống như một tủ hồ sơ lưu giữ những thông
tin đã được lập thành tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai. Tuy nhiên
không phải bất cứ thông tin nào được lưu giữ trong trí nhớ cũng tồn tại suốt đời. Vì
trí nhớ có xu hướng chỉ cho phép tái hiện lại những thông tin, dữ kiện hữu ích khi các
dữ kiện này được tái hiện thường xuyên. Do đó, muốn thông tin được lưu giữ lâu dài
trong trí nhớ thì cần được sử dụng và gợi nhớ thông tin này một cách thường xuyên.
Điều này đồng nghĩa với việc nếu thông tin mà không sử dụng thường xuyên thì cũng
sẽ bị lãng quên. Vì vậy, trong quá trình dạy học, để thông tin được lưu giữ lâu dài thì
GV cần tổ chức cho HS thường xuyên sử dụng kiến thức đã được lĩnh hội dưới nhiều
hình thức khác nhau, đặc biệt là vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn, thực hành.
Theo giáo dục học thì ôn tập là giúp HS củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tạo cơ
hội cho GV sửa chữa những sai lầm trong nhận thức của HS, rèn luyện kỹ năng, kỹ
xảo, phát huy tính tích cực, độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức,
chú ý của HS. Ôn tập còn giúp HS mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa
những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành.
Một số tác giả khác cho rằng ôn tập là quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin
đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hoặc thấy có chỗ tối ưu
hơn, góp phần củng cố và phát họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả
trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau.
Như vậy, theo tôi, ôn tập là quá trình học sinh tự xây dựng, tổ chức lại tri thức,
thông tin đã thu nhận được, đồng thời cấu trúc và sắp xếp thông tin một cách khoa
học, logic, có hệ thống, có xử lý, bổ sung và chỉnh sửa để việc ghi nhớ thông tin được
dễ dàng, lâu dài và sử dụng một cách hiệu quả các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã thu
nhận được.
23