BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đỗ Chí Công
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đỗ Chí Công
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số:
60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG
Đặc biệt, tôi xin được tri ân TS Nguyễn Thị Bích Hồng – Khoa Tâm lý giáo dục
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ rất nhiều trong thời gian nghiên cứu, khảo sát thực
trạng, định hướng nội dung, phương pháp nghiên cứu để thực hiện và hoàn thành
luận văn.
Song, do khả năng còn hạn chế nên trong luận văn chắc hẳn sẽ còn nhiều thiếu
sót. Tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy-Cô, các bạn đồng
nghiệp để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!!!
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ....................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài:............................................................................................................ 6
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................................... 9
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ............................................................................. 9
4. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................................... 9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................... 9
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài ............................................................................. 9
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 10
8. Cấu trúc của luận văn.................................................................................................. 11
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ................. 12
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề........................................................................................ 12
2.3. Thực trạng quản lý HĐGDHN ở các trường THPT tỉnh Bình Dương ................ 50
2.3.1. Xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện HĐGDHN ....................................... 50
2.3.2. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện HĐGDHN ................................................................. 51
2.3.3. Kiểm tra, đánh giá HĐGDHN .............................................................................. 52
2.3.4. Các điều kiện phục vụ dạy học HĐGDHN ở trường trung học phổ thông .......... 53
2.4. Nguyên nhân của thực trạng .................................................................................... 55
2.4.1. Nguyên nhân của ưu điểm ..................................................................................... 56
2.4.2. Nguyên nhân của hạn chế ...................................................................................... 56
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG............................................................................................................. 59
3.1. Nâng cao nhận thức về HĐGDHN ........................................................................... 59
3.2. Xây dựng đội ngũ giáo viên, các lực lượng tham gia HĐGDHN ....................... 62
3.3. Cải tiến nội dung và hình thức HĐGDHN ............................................................. 65
3.4. Tăng cường xã hội hoá, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ HĐGDHN .......... 67
3.5. Tổ chức tư vấn nghề cho học sinh ........................................................................... 70
3.6. Tăng cường trách nhiệm quản lý của hiệu trưởng về HĐGDHN .................... 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 83
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 87
4
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT VIẾT ĐẦY ĐỦ
VIẾT TẮT
06
Giáo viên chủ nhiệm
GVCN
07
Giáo viên bộ môn
GVBM
08
Giáo viên trung tâm Hướng nghiệp - Dạy nghề
GVTT HN-DN
09
Giáo viên hướng nghiệp
GVHN
10
Giáo viên chuyên trách
GVCT
16
Chương trình
CT
17
Sách giáo khoa
SGK
18
Phương tiện dạy học
PTDH
19
Bộ môn
BM
20
Cha mẹ học sinh
CMHS
hướng nghiệp phải bám sát xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nhu cầu nguồn nhân
lực của địa phương thì mới thực hiện được nhiệm vụ của GD trong phát triển nguồn
nhân lực. Chỉ thị số 33/2003/CT - BGD&ĐT ngày 23/7/2003 về việc tăng cường giáo
dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã nêu rõ: “...Giáo dục hướng nghiệp là
một bộ phận của nội dung giáo dục phổ thông toàn diện đã được xác định trong Luật
giáo dục. Chủ trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay cũng nhấn
mạnh đến yêu cầu tăng cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực và có
hiệu quả vào phân luồng học sinh chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động
hoặc được tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực của bản thân và nhu cầu của xã
hội...”
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục đã có nhiều cố
gắng để đẩy mạnh công tác GDHN và đã đạt được những kết quả bước đầu. Nhiều
trường đã triển khai thực hiện chương trình GDHN theo sự chỉ đạo của Bộ. Nhìn
chung, hiệu quả của HĐGDHN trong thời gian qua còn thấp, còn hình thức, chưa đáp
ứng được nhu cầu xã hội, nhiều học sinh chưa được định hướng tốt để chủ động chọn
6
nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông. Ngoài ra các em còn thiếu sự
chuẩn bị năng lực chuyên môn nghề nghiệp, thiếu khả năng tự định hướng nghề phù
hợp với xu thế của sự phát triển, nhu cầu xã hội về thị trường lao động,... Chính điều
này dẫn đến sự mất cân đối trong cơ cấu trình độ nguồn nhân lực có chuyên môn và
cơ cấu ngành nghề đào tạo ở nước ta. Hiện nay, hầu như mọi học sinh đều có nguyện
vọng thi vào đại học, trong khi nhu cầu xã hội cần một số lượng lớn những công nhân
lành nghề đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thị trường lao
động cần thiết tập trung ở những khu công nghiệp có trình độ khoa học kỹ thuật hiện
đại, việc chọn ngành vào các trường đại học chưa được dự báo một cách đúng đắn
theo nhu cầu và xu thế phát triển của xã hội. Vì vậy khi tốt nghiệp đại học hầu hết
sinh viên khó tìm được việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo, điều này gây ra sự
tiêu đến năm 2015 tỉnh Bình Dương cơ bản thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện
đại (theo Nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Bình Dương IX)
Công tác hướng nghiệp ở các trường THPT tại tỉnh Bình Dương trong những
năm gần đây đã có nhiều cố gắng, song vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là công tác
quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT chưa hiệu quả. Nguyên nhân do cán bộ quản lý
chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp, chưa
có những biện pháp quản lý hướng nghiệp THPT phù hợp với các quy luật khách
quan.
Để phát huy được ưu thế của giáo dục hướng nghiệp THPT thì việc giáo dục
hướng nghiệp tại các trường THPT tỉnh Bình Dương cần phải được định hướng cụ
thể hơn, sát thực với phát triển kinh tế của địa phương và đúng với xu thế phát triển
của nền kinh tế thị trường trong thời đại hiện nay công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước trong xu thế hội nhập toàn cầu. Vì lý do đó, việc nghiên cứu tăng cường công
tác quản lý đối với giáo dục hướng nghiệp THPT tại các trường THPT tỉnh Bình
Dương là một đòi hỏi cấp thiết, giúp tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục
hướng nghiệp, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục THPT và phục vụ yêu cầu
phát triển nguồn nhân lực của địa phương, đất nước.
Những phân tích trên đây về giáo dục hướng nghiệp và nhu cầu nhân lực của
tỉnh trong mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, từ nhiệm vụ
của giáo dục hướng nghiệp gắn với giáo dục trung học phổ thông của đơn vị trong
tỉnh, đây chính là lý do để bản thân lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng quản lý
hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông tỉnh Bình
Dương ”.
8
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung
học học phổ thông tỉnh Bình Dương, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý
quản lý, giáo viên trực tiếp làm công tác giáo dục hướng nghiệp, đại diện học sinh...
6.2. Nội dung nghiên cứu
Việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông
tỉnh Bình Dương thực hiện theo chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp của
Bộ Giáo dục và Đào tạo.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc:
Vấn đề được nghiên cứu một cách toàn diện, khách quan: Quản lý HĐGDHN cho
học sinh trung học phổ thông tỉnh Bình Dương phải được xem xét trong mối quan hệ
với các hoạt động khác của nhà trường với việc thực hiện đồng bộ các con đường
giáo dục hướng nghiệp, việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ
thông cũng như việc bồ dưỡng đội ngũ tham gia làm công tác hướng nghiệp ở các
trường trung học phổ thông so với mục tiêu đề ra.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Qua điều tra, nghiên cứu thực tế, phân tích để phát hiện những tồn tại trong quá
trình quản lý HĐGDHN cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Bình Dương, trên cơ
sở đó, đề xuất những biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả HĐGDHN ở các trường
trung học phổ thông.
7.1.3. Quan điểm lịch sử:
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của HĐGDHN trên thế giới và ở Việt Nam.
Đồng thời, xem xét xu thế phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu nguồn nhân lực của
đất nước và trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong những năm qua cùng với những
thành tựu cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu lý thuyết: sưu tầm, nghiên cứu tài liệu và cơ sở lý luận, phương pháp
10
11
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở một
số nước trên thế giới
Trên thế giới, hoạt động giáo dục lao động – hướng nghiệp cho học sinh có từ
hàng trăm năm nay và ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển kinh - tế xã hội,
các quốc gia luôn coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục để đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao về nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực và
nhu cầu giáo dục của nhân dân. Với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá
và sự ra đời của nền kinh tế tri thức, yêu cầu không ngừng hoàn thiện hệ thống giáo
dục ở mỗi quốc gia lại càng trở thành một vấn đề quan trọng của cải cách giáo dục.
Những vấn đề hướng dẫn chọn nghề được đặt ra một cách rộng rãi ở nhiều nước
với tính cấp thiết của nó vào những năm đầu thế kỷ XX. Để tuyển chọn được
những người lao động cho nhà máy, xí nghiệp, việc đưa HĐGDHN vào trường phổ
thông là việc làm hết sức cần thiết. Từ lâu, N.K.Crupxkaia, nhà giáo dục học và tâm
lý học người Nga đã từng nêu lên luận điểm “tự do chọn nghề” cho mỗi thanh
niên. Theo bà, thông qua hướng nghiệp, mỗi trẻ em đều phải nhận thức sâu sắc
hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu nào của nền sản xuất cần
được thỏa mãn, những nhiệm vụ mà thanh thiếu niên phải đáp ứng trước yêu cầu mà
xã hội đề ra trong lĩnh vực lao động sản xuất.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hướng nghiệp và giáo dục hướng
nghiệp ở các nước như Nga, Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc.
Chương trình giáo dục hướng nghiệp của Liên bang Nga: Bộ Giáo dục Liên
trường, đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở của việc học tập liên tục về sau và
chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động. “Công nghệ học là lĩnh vực cơ
bản của văn hóa. Nó không có mục tiêu đào tạo một nghề cụ thể mà nhiệm vụ chính
là giáo dục phổ thông phải cung cấp những tri thức kỹ thuật xác định và phát triển
những kỹ năng cần thiết giúp học sinh hiểu được thế giới công nghệ xung quanh”.
Sau trung học cơ sở, cấp trung học phổ thông là quá trình dần định hướng học sinh đi
vào trung học chuyên ban gồm ba phương thức đào tạo: phổ thông học trong 3 năm
13
cho văn bằng tú tài phổ thông; công nghệ học trong ba năm cấp bằng tú tài công nghệ
và học trong hai năm cấp bằng kỹ thuật viên; chuyên nghiệp cấp các văn bằng: chứng
chỉ khả năng nghiệp vụ hoặc chứng chỉ học chuyên nghiệp và bằng tú tài chuyên
nghiệp [23;tr 263]
Giáo dục hướng nghiệp của vương quốc Anh: học sinh của chương trình giai
đoạn từ 11 đến 14 tuổi và giai đoạn từ 14 đến 16 tuổi có thể lựa chọn nghề nghiệp của
mình theo bảng danh mục (ví dụ như của Ủy ban giáo dục hướng nghiệp Xcốtlen) và
hoàn thành chương trình hướng nghiệp này họ sẽ nhận được một chứng chỉ để làm cơ
sở cho việc nhận bằng quốc gia… Mục đích của giáo dục phổ thông là nhằm trang bị
cho học sinh vốn kiến thức tiếp thu chương trình đào tạo hướng nghiệp và giáo dục
đạo học ở những giai đoạn sau. Tất cả các học sinh 16 tuổi đều phải có hai tuần thử
việc ở các công ty địa phương như là một phần của chương trình hướng nghiệp
chung. [tl;tr281]
Giáo dục phổ thông trong nhà trường của Liên bang Đức đang tiến tới “Một
nhà trường Châu Âu thống nhất” nhưng vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp
nhất của nền giáo dục Đức. Vì vậy, định hướng cải cách của nhà trường Đức đã đặt
ra nhiệm vụ xem xét lại mục tiêu và nhiệm vụ của trường phổ thông, hiện đại hóa, cụ
thể là:
Chuyển từ nhà trường truyền thống với hệ 3 loại hình sang 2 loại hình
kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính
hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh.
Giáo dục hướng nghiệp của Ba Lan: Trong báo cáo về chiến lược hiện đại hóa
“con đường tới năm 2010”, “Ba Lan trong thế kỷ XXI” của Chủ tịch đoàn Viện Hàn
lâm Ba Lan có đoạn viết: “Ưu tiên cao nhất cho 15 năm tới là sử dụng tiếm lực trí
tuệ Ba Lan và nguồn nhân lực để rút ngắn và hiện đại hóa quá trình xã hội – kinh
tế. Chúng ta theo đuổi chiến lược đưa giáo dục trong năm 2010 đạt được những tiêu
chuẩn giáo dục Châu Âu”. Nhà nước Ba Lan chủ trương chế độ giáo dục bắt buộc 9
năm, gồm giáo dục tích hợp lớp 1 – 3, giáo dục theo khối 4 đến 6 và tiếp tục là hệ
thống giáo dục 3 năm phân hóa (từ 1/9/2001 sẽ tăng lên 4 năm) theo hai hướng: hàn
lâm và nghề nghiệp hướng vào lĩnh vực xã hội – kinh tế, văn hóa – nghệ thuật nhằm
đào tạo nghề phân hóa rộng. Báo cáo xác định một số nguyên tắc chỉ đạo cải cách
giáo dục gồm:
15
Nguyên tắc phân nhánh rộng thay cho hướng phân hóa hẹp trước đây, vì phân
hóa rộng đảm bảo thay đổi nhanh chóng trình độ lành nghề cho người lao động và
đào tạo cán bộ
Nguyên tắc phát triển mọi mặt trí tuệ, tâm lý, nghề nghiệp – xã hội, thể chất
của học sinh, đảm bảo mục tiêu con người phát triển toàn diện
Nguyên tắc giáo dục thông qua lao động được thực hiện thông qua quá trình
lao động, giáo dục kỹ thuật tổng hợp tiếp nhận tri thức và khả năng phù hợp với
các giai đoạn và hình thức học tập, công tác hướng học và hướng nghiệp.
Xu thế hiện tại của giáo dục phổ thông và giáo dục nói chung trên thế giới
là coi dạy nghề, bao gồm cả giáo dục tiền nghề nghiệp ở trường phổ thông, với
tính chất đặc biệt quan trọng đó là cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung đều
thống nhất với nhau ở chỗ: giáo dục lao động gắn liền với giáo dục công nghệ và
giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần mà người Nga gọi là giáo dục kỹ thuật tổng
dục hiện nay là sự phát triển của chính học sinh, giúp các em tự phát triển ngay từ
nhỏ cho đến khi trưởng thành. Sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng
trở thành một nguyên tắc cơ bản, trong đó vai trò chính của nhà trường phổ thông
là phải tạo động cơ học tập cho học sinh, dạy cho các em cách học, phát triển khả
năng tự học. Trên cơ sở đó, vai trò của từng cấp học thay đổi nhằm thích ứng với
yêu cầu phát triển này. Chương trình cải cách giáo dục được xây dựng trên cơ sở hai
luận điểm quan trọng đó là tăng cường tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ
thống giáo dục; thực hiện chương trình cải cách giáo dục không chỉ đóng khung
trong phạm vi nhà trường, trong hệ thống giáo dục mà còn mở rộng tầm nhìn ra
phạm vi toàn xã hội theo quan điểm mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế.
Với những thay đổi về nội dung, phương pháp học tập theo hướng nêu trên,
giáo dục phổ thông nhằm tăng cường năng lực thực tiễn của cá nhân học sinh, cần
thiết cho vai trò của người lao động. Theo quan điểm mới về chất lượng nguồn
nhân lực, trong tương lai, mỗi công dân cần phải có những kỹ năng đa dạng,
phong phú hơn là những kiến thức mà học sẽ quên ngay sau khi thi. Những kỹ
năng này không chỉ được học trong nhà trường, mà còn phải được luyện tập, thực
hành hằng ngày trong cuộc sống. Để đạt được mục tiêu này, phải có sự kết hợp
chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. Để học tập trong nhà trường cho
kết quả thật sự, học sinh phải được luyện tập những điều đã học được trong cuộc
sống thực tế. Kiến thức sẽ thiết thực đối với học sinh hơn khi được vận dụng trong
17
cuộc sống. Đó là điểm then chốt trong chương trình học tập, tạo hứng thú cho học
sinh.
Việc rèn luyện khả năng thích ứng của nhân lực đối với sự phát triển “nền
văn hóa công nghiệp Nhật Bản” trong giáo dục phổ thông. Nhà trường phổ thông
Nhật Bản rèn luyện khả năng thích ứng cho học sinh qua một số hoạt động như
hoạt động nhóm nhỏ và “tinh thần doanh nghiệp Nhật Bản”; giáo dục lòng trung
những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Nhà trường phải có khả
năng vẽ lên một bức tranh rõ nét nhất về khả năng của mỗi học sinh. Vì vậy, cần phải
có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khóa học
thích hợp (có tính đến chu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn
trong học tập và giúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết.
1.1.2. Công tác giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở nước ta
Công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông từ
19/03/1981 theo quyết định 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong
trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh trung học cơ sở, trung học phổ
thông tốt nghiệp ra trường. Quyết định nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác
hướng nghiệp, phân công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ
trung ương đến địa phương có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi trực tiếp giúp
đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lý và tiếp tục bồi dưỡng
học sinh phổ thông sau khi ra trường. Ban hành kèm quyết định 126/CP của Chính
phủ là thông tư 31-TT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn
thực hiện quyết định nêu trên. Nội dung thông tư nêu rõ mục đích, nhiệm vụ và
hình thức hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông, đồng thời phân
công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên đang công tác tại trường phổ thông, cho
dù đang đảm nhận chức vụ công tác nào đều phải hoàn thành nhiệm vụ được giao
trong công tác giáo dục hướng nghiệp.
Vấn đề hướng nghiệp cho học sinh ở các trường phổ thông không phải là
vấn đề mới. Đây là một vấn đề được tất cả các cấp, ban ngành đoàn thể trong xã hội
từ trung ương đến địa phương, các nhà quản lý giáo dục, các bậc cha mẹ học sinh
và các em học sinh thực sự quan tâm.
Qua quá trình tìm hiểu thì có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu qua các đề tài
về công tác hướng nghiệp như: “Đổi mới công tác hướng nghiệp phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước” của Phạm Tất Dong (1996), “Giáo dục lao
19
nhiệm vụ làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm, điều kiện
20
công tác,… của mình, giúp họ tìm hiểu những nghề nghiệp, chuyên môn mình cần
tuyển chọn. Cuối cùng, các cơ quan, cơ sở sản xuất phải tiến hành tuyển chọn người
trên cơ sở nguyện vọng và dự định nghề nghiệp của người đó.
Như vậy, hướng nghiệp có thể hiểu như là một hệ thống tác động của xã hội
về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học,… nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn
được nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân,
vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc
dân.
* Hướng nghiệp ở trường phổ thông
Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là hình thức hoạt động của
thầy và trò, có mục đích giáo dục học sinh trng việc chọn nghề, giúp các em tự quyết
định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích có khoa học về năng lực, hứng thú
của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội. Như vậy,
hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư
phạm nhằm làm cho các em HS lựa chọn nghề một cách hợp lý.
Với cách hiểu này, hướng nghiệp là nhiệm vụ của bất kỳ thành viên nào trong
tập thể sư phạm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, GV chủ nhiệm, GV bộ môn, cán
bộ phụ trách Đội thiếu niên tiền phong, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh,… Vấn đề là phải có sự phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng loại cán bộ nói
trên.
Hướng nghiệp là một trong những hình thức hoạt động học tập của HS.
Thông qua hoạt động này, mỗi HS phải lĩnh hội được những thông tin về nghề
nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, phải nắm được hệ
thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kĩ năng tự đối
chiếu những phẩm chất, đặc điểm tâm – sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của
Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để
khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích họp nhất.
Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao
động trẻ tuổi có văn hoá…
Ngày nay, để thực hiện tốt công tác hướng nghiệp, người ta thường xem giáo
dục hướng nghiệp trong trường trung học có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Định hướng nghề nghiệp là việc thông tin cho học sinh về đặc điểm hoạt động
và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là các nghề và các nơi đang
cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn hoá, về những yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề,
22
về tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnh lao động ở cộng đồng dân cư, về hệ
thống trường lớp đào tạo nghề của nhà nước, tập thể và tư nhân.Định hướng gồm :
giáo dục nghề nghiệp và tuyên truyền nghề nghiệp.
Tư vấn nghề nghiệp là một hệ thống những biện pháp tâm lý – giáo dục nhằm
đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu các năng
lực đó với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu
cầu nhân lực của địa phương và xã hội, trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về
chọn nghề có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chính chắn
trong khi chọn nghề.
Tuyển chọn nghề nghiệp: ở trường phổ thông có nhiệm cụ cung cấp tư liệu về
đặc điểm nhân cách của từng học sinh khi ra trường (đạo đức, học tập, văn hoá,
đánh giá học sinh dưới góc độ hướng nghiệp và bàn giao học sinh ra trường…). Nhà
trường góp ý kiến cho việc tuyển sinh vào các trường đào tạo nghề và tuyển chọn
người lao động vào các lĩnh vực kinh tế xã hội được thuận lợi, chính xác, khoa học.
1.2.3. Nội dung chương trình HĐGDHN
Chương trình HĐGDHN theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (thực