ÒBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-----------o0o-----------
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC HƯỚNG NGHIỆP
Ở CÁC TRƯỜNG THPT QUẬN 12
TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số
: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VÕ THỊ BÍCH HẠNH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài: “Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng
nghiệp ở các trường THPT tại quận 12 – Thành phố Hồ Chí Minh” đến nay tôi đã hoàn
thành luận văn.
Với tình cảm chân thành, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường, phòng Khoa học
công nghệ và sau đại học, các phòng ban chức năng của trường Đaịhọc Sư phạm TP.Hồ Chí
Minh. Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo phòng giáo dục & Đào tạo quận 12 TP.Hồ Chí
Minh, Ban giám hiện các trường THPT Quận 12 và các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ và
tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn.
KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................... 6
T
2
T
2
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 7
T
2
T
2
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................7
T
2
T
2
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................8
T
2
T
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ..............................................................................8
T
T
2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................... 11
T
2
T
2
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề .........................................................................................11
T
2
T
2
1.1.1 Vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở
một số nước trên thế giới................................................................................................11
T
2
T
2
1.1.2. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam : .................................................13
T
2
T
1.3. Lý luận về hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT .............................20
T
2
T
2
1.3.1. Khái niệm, ý nghĩa của hoạt động giáo dục hướng nghiệp ..................................20
T
2
T
2
1.3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp .............23
T
2
T
2
1.3.3. Các phương pháp, hình thức và lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp ......25
T
2
T
2
1.3.4. Những vấn đề mới cần phải quán triệt nhằm nâng cao hiệu quả công tác hướng
nghiệp hiện nay ..............................................................................................................25
T
2
1.4.4. Đảm bảo các điều kiện cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp ...........................30
T
2
T
2
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................................31
T
2
T
2
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG THPT QUẬN 12 TP. HỒ CHÍ MINH ................. 32
T
2
T
2
2.1 Đặc điểm về dân cư, kinh tế, văn hóa-xã hội ở Quận 12 TP. HCM ......................32
T
2
2
2.2.2 Số lượng trường lớp ..............................................................................................34
T
2
T
2
2.2.3 Đội ngũ giáo viên, Cán bộ quản lý (CBQL) .........................................................34
T
2
T
2
2.2.4. Kết quả học tập của học sinh Bậc THPT ở Quận 12 TP.HCM ...........................35
T
2
T
2
2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT Q12 TP.HCM
............................................................................................................................................35
T
2
T
2
2.3.5 Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá HĐGDHN .....................................................44
T
2
T
2
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT Q12
TP.HCM ............................................................................................................................45
T
2
T
2
2.4.1 Thực trạng nhận thức tầm quan trọng của từng nội dung quản lý của Hiệu trưởng
đối với hoạt động giáo dục Hướng nghiệp .....................................................................45
T
2
T
2
2.4.2. Thực trạng quản lý việc xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động giáo dục
hướng nghiệp ..................................................................................................................47
T
2
T
T
2
2.6 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng .............................................................................62
T
2
T
2
2.6.1 Nguyên nhân khách quan ......................................................................................62
T
2
T
2
2.6.2 Nguyên nhân chủ quan ..........................................................................................63
T
2
T
2
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................................63
T
2
T
2
3.3.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về HĐGDHN .................................................66
T
2
T
2
3.3.2. Biện pháp 2: Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ những người tham gia HĐGDHN 68
T
2
T
2
3.3.3. Biện pháp 3: Tăng cường công tác quản lý tổ chức, chỉ đạo thực hiện HĐGDHN
........................................................................................................................................71
T
2
T
2
3.3.4. Biện pháp 4: Cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện hoạt
động giáo dục hướng nghiệp ..........................................................................................72
T
2
T
2
3.4.1. Tính cần thiết của các biện pháp đề xuất .............................................................80
T
2
T
2
3.4.2. Tính khả thi của các đề xuất .................................................................................81
T
2
T
2
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................................84
T
2
T
2
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................... 85
T
2
T
2
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 88
: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ĐHSP
: Đại học sư phạm
Đoàn TNCS HCM
: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Đội TNTP HCM
: Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
GD
: Giáo dục
GDĐT
: Giáo dục đào tạo
GVBM
: Giáo viên bộ môn
HĐGD
: Hoạt động giáo dục
: Thành phố Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những vấn đề bức xúc của giáo dục Việt Nam hiện nay, khiến toàn xã hội
phải quan tâm đó là việc định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh. Mỗi năm có
khoảng 12.000 học sinh vào lớp 10 và số học sinh tốt nghiệp THPT đều đăng kí thi Đại học,
Cao đẳng. Xét về nhu cầu, xu hướng và nguyện vọng của lớp trẻ thì những số liệu nêu trên
là đáng trân trọng, nhưng thực tiễn về năng lực và nhu cầu xã hội lại không cho phép
nguyện vọng đó thành hiện thực. Mỗi năm số học sinh được tuyển vào Đại học, Cao đẳng (
ĐH, CĐ) chỉ chiếm khoảng 10 – 15%, tạo nên sự ùn tắc trong các kì thi tuyển sinh, gây tốn
kém cho gia đình và xã hội.
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông có ý nghĩa rất to lớn. Về
mặt giáo dục đó là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng
thú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội, góp phần vào việc cụ
thể hóa các mục tiêu đào tạo của trường phổ thông. Về ý nghĩa kinh tế thì công tác hướng
nghiệp luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước, từ đó
nâng cao năng suất lao động của xã hội. Để đảm bảo được ý nghĩa đó nhà trường phổ thông
phải gắn mục tiêu đào tạo với những mục tiêu kinh tế – xã hội. Về ý nghĩa chính trị – xã hội,
công tác hướng nghiệp có chức năng thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước.
Vì thế nếu làm tốt công tác hướng nghiệp, chúng ta sẽ có những lớp người đủ năng lực và
phẩm chất cách mạng để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, hướng nghiệp có tác
dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong việc phân bổ lực
lượng dân cư. Tóm lại, công tác hướng nghiệp có ý nghĩa đối với việc triển khai chiến lược
con người – một bộ phận của chiến lược kinh tế, khoa học và công nghệ.
Từ Đại hội III, Đảng ta đã khẳng định: Giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là đầu tư cho sự
phát triển. Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCHTW (Ban chấp hành Trung ương) Đảng khoá
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục ở các trường THPT Quận 12 - TPHCM
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT Quận 12 TPHCM
4. Giả thuyết khoa học
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường THPT Q12 đã đạt được
một số thành tích như đã đưa chương trình giáo dục hướng nghiệp vào giảng dạy chính
khóa, xây dựng kế hoạch ngay từ đầu năm, có sử dụng công nghệ thông tin để phục vụ cho
giảng dạy... Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong quá trình quản lý hoạt động giáo
dục hướng nghiệp như xây dựng kế hoạch, thực hiện chương trình, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra
đánh giá. Vì vậy, cần phải có những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
hợp lý cho học sinh THPT thì sẽ khắc phục được những hạn chế và nâng cao hiệu quả của
hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT Q12.TP.HCM.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục hướng nghiệp và công tác quản lý
HĐGDHN cho học sinh các trường THPT
5.2. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT
Q12 TP.HCM.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo
dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở phương pháp luận
6.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc trong công tác quản lý hoạt động giáo dục
hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông Q12 TP.HCM bao gồm những yếu tố như:
Đặt câu hỏi phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm lớp của một số trường
THPT ở Q12 TP HCM.
6.2.2.4 Phương pháp thống kê toán học :
Sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm SPSS FOR WINDOW
7. Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở 3
trường Trung học phổ thông Q12 TP.HCM (Trường THPT Võ Trường Toản, Trường THPT
Thạnh Lộc, Trường THPT Trường Chinh).
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở
một số nước trên thế giới
Trong hệ thống giáo dục, giáo dục trung học phổ thông là giai đoạn học tập chính
quy cuối cùng của đa phần thanh thiếu niên học sinh. Giáo dục trung học phổ thông không
chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học mà chủ yếu là chuẩn bị cho học sinh –
những con người trưởng thành bước vào cuộc sống lao động xã hội. Xuất phát từ thực tế đó,
thanh thiếu niên học sinh phổ thông dù học lên đại học hay sớm đi vào cuộc sống lao động
nghề nghiệp, họ đều phải được trang bị những tri thức khoa học, kĩ năng kĩ thuật, kĩ năng
lao động nghề nghiệp, năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật và những phát minh nhằm
thiết thực góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia .
Trên thực tế, khi khoa học – kĩ thuật phát triển, quy trình công nghệ thay đổi, đặc biệt
là trong thời kì bùng nổ thông tin, với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay, người
lao động thường không có khả năng để thích ứng kịp thời. Trong khi đó, số học sinh phổ
thông khi rời ghế nhà trường với vốn kiến thức “văn hoá chay” không có cơ sở và khả năng
hội nhập vào cuộc sống lao động – xã hội. Xuất phát từ thực tiễn đó, có các nhà tư tưởng và
giáo dục học tiến bộ, đã đưa ra những hình thức gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp, với
cuộc sống. Nhiều công trình nghiên cứu về hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp ở các
động.
Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng
tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông.
Theo tác giả, học sinh trung học phải được: “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản
của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả
năng lựa chọn nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân”[40, tr.49]. Mặc dù từ lâu, giáo dục
Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung
cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học
sinh phổ thông. Chính vì vậy, ở Nhật, trong vòng 30 năm từ 1952 – 1982 nhiều cuộc cải
cách giáo dục đã được tiến hành, với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các
yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước.
Các nước ASEAN: Đang tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông
- Tại Malaysia: Một trong những chức năng chính của giáo dục bên cạnh việc góp
phần phát triển nhân cách là xây dựng nguồn nhân lực. Mục tiêu của khoá học phổ thông 9
năm (từ lớp 1 – lớp 9) là tạo điều kiện cho mỗi học sinh có cơ hội bước vào ngưỡng cửa
nghề nghiệp.
- Tại Philippin: Một trong những mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo nguồn nhân
lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể lựa chọn nghề. Chính vì thế ở cấp II đã thực
hiện giáo dục nghề nghiệp và chuẩn của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kĩ năng,
thông tin nghề nghiệp và tinh thần làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề. Sang cấp
III tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như hướng nghiệp – dạy nghề.
- Tại Thái Lan: Ngay từ Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, kĩ
năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công. Sang cấp II đẩy
mạnh công tác GDHN gắn với một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu
của mỗi học sinh. Đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III. Giáo dục nghề nghiệp gắn
liền với hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp. Tất cả các
trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ nghề.
Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ XXI của
thuật cao cho nền kinh tế thành phố.
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX-05-09 mang tên "Giáo dục phổ thông và hướng
nghiệp - nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá"
đã tiến hành khảo sát học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh, cán bộ quản lý trên phạm vi 8
tỉnh, thành phố. Kết quả khảo sát cho thấy có tới 85 - 90% học sinh trung học cơ sở (được
điều tra) muốn được tiếp tục học lên, chỉ có 6,1% số học sinh muốn được thôi học để đi làm,
kiếm tiền. Có từ 76,8 - 90,1% số học sinh (được điều tra) muốn có một nghề nghiệp ổn
định, phù hợp với sở thích và năng lực.Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận đáng kể HS (23,8%)
cho rằng chọn nghề nghiệp nào không quan trọng, miễn là kiếm ra nhiều tiền. Đa số giáo
viên được hỏi cũng cho rằng phần lớn học sinh ít hiểu biết về nghề .Theo đánh giá của
những người nghiên cứu thì kết quả này phản ánh công tác giáo dục nói chung và giáo dục
hướng nghiệp nói riêng ở các trường phổ thông hiện nay chưa định hướng tốt cho HS.
Một đề tài khác nói về việc quản lý công tác hướng nghiệp đó là “Quản lý công tác
hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc trung học tại các trung tâm giáo dục thường
xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Thực trạng và giải pháp” (của tác giả Huỳnh
Thị Tam Thanh). Đề tài này đã xác định được các đầu việc quản lý của lãnh đạo các nhà
trường trong công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp và đưa ra những biện pháp nhằm tăng
cường hiệu quả của công tác này. Tuy nhiên, đề tài còn chưa xây dựng được một cơ sở lý
luận hoàn chỉnh làm nền tảng cho việc giải quyết phần nội dung. [32, tr. 25]
Trong công trình khoa học của tác giả Phạm Tất Dong đã cho thấy: “Trong
những người không kiếm ra việc làm có đến 85% là thanh niên. Trong tổng số thanh niên
đứng ngoài việc làm thì 67,4% là không biết nghề” [20, tr. 25]. Trên cơ sở đó, tác giả đã xác
định cần: “ Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm
ra việc làm”, [20, tr.19] đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy
nghề cho học sinh...đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản”[20, tr.40]
- Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được tác giả Hoàng
Đức làm sáng tỏ: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị nghề nghiệp là một yêu
cầu nóng bỏng của thực tế xã hội”. Học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp có phần giao
thoa ngày càng rõ theo hướng mô đun hoá ở mức phổ thông. Phần giao thoa đó ngày càng
lớn nghĩa là công tác GDHN và dạy nghề phổ thông được tiến hành sớm và phát triển mạnh.
1.2.1.1 Hướng nghiệp
Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển
chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa mãn nhu
cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương
và quốc gia. Trước đây chúng ta vẫn tưởng rằng hướng nghiệp chỉ là sự lựa chọn một nghề
nghiệp mà mình yêu thích, chọn một trường đại học phù hợp với mình, tuy nhiên đây chỉ là
phần ngọn của một quá trình, một hoạt động trong số rất nhiều các hoạt động của hướng
nghiệp. Thuật ngữ hướng nghiệp (career mentoring) nếu được hiểu chính xác nó là sự kết
hợp của nhiều lĩnh vực như: đánh giá nghề nghiệp (career assessment), quản lý nghề nghiệp
(career management), phát triển nghề nghiệp (careerdevelopment)... Trong đó lựa chọn nghề
nghiệp chỉ là một giai đoạn đầu trong tiến trình hướng nghiệp của mỗi người. Hướng nghiệp
là một quá trình liên tục tác động từ khi người học còn ngồi học ở bậc phổ thông, qua quá
trình trau dồi chuyên môn nghề nghiệp và tìm được những ngành nghề phù hợp với khả
năng hứng thú và sở trường của mình. Khi mỗi cá nhân đều có được chuyên môn nghề
nghiệp vững vàng phù hợp, họ sẽ có nhiều cơ hội có một nghề nghiệp ổn định, nâng cao
chất lượng cuộc sống cá nhân. Ở một góc độ khác, hướng nghiệp có hiệu quả tạo ra một lực
lượng lao động có định hướng rõ ràng, do vậy họ có năng lực nghề nghiệp tốt, làm tăng
năng suất lao động, góp phần cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy, hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà
trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn
bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang
cần phát triển đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân
1.2.1.2 Giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của nội dung giáo dục phổ thông toàn diện đã
được xác định trong Luật giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 và chủ
trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tăng
cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng
cho học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động hoặc được tiếp tục đào tạo
- Làm công tác giảng dạy khoa học quản lý giáo dục ở các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng
giáo viên, cán bộ, nhân viên quản lý trong và ngoài ngành giáo dục đào tạo.
- Nghiên cứu khoa học quản lý và quản lý giáo dục ở các cơ sở nghiên cứu, các cơ
quan tham mưu hoạch định chiến lược quản lý xã hội nói chung và phát triển giáo dục nói
riêng.
Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo
dục, đó có thể là một trường học, một trung tâm KTTH – HN, một tập hợp các cơ sở giáo
dục phân bố trên một địa bàn dân cư... Và muốn quản lý một cách khoa học (hoặc tối ưu)
thì chủ thể quản lý phải nắm được các quy luật khách quan đang chi phối vận hành của đối
tượng quản lý.
1.2.2.3 Quản lý trường học
Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật
của chủ thể quản lý nhà trường, làm cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm
giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, góp phần
thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại tác động quản lý: (1) tác động của những chủ
thể quản lý bên trong và bên ngoài nhà trường, (2) tác động của chủ thể quản lý bên trong
nhà trường.
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp
trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, giáo dục, học tập của nhà
trường. Quản lý nhà trường cũng bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên
ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp với nhà trường như cộng đồng được đại diện
dưới hình thức Hội đồng nhân dân, nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ
tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó.
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường (Hiệu trưởng) bao gồm
các hoạt động: quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học – giáo dục,
quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý lớp
coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh
trong việc chọn nghề. Trên cơ sở đó giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên
cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các
ngành sản xuất trong xã hội. Như vậy, hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện
như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho các em học sinh lựa chọn nghề một cách
hợp lý.
Với cách hiểu này, hướng nghiệp là nhiệm vụ của bất kỳ thành viên nào trong tập thể
sư phạm: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên bộ môn, cán bộ
phụ trách Đội thiếu niên tiền phong, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,….
Vấn đề là phải có sự phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng loại cán bộ nói trên.
Hướng nghiệp là một trong những hình thức hoạt động học tập của học sinh.Thông
qua hoạt động này, mỗi học sinh phải lĩnh hội những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội,
đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương. Các em phải nắm được hệ thống yêu cầu của từng
nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kỹ năng tự đối chiếu những phẩm chất, đặc điểm
tâm – sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao động,…
1.3.1.2 Ý nghĩa của hoạt động giáo dục hướng nghiệp
* Ý nghĩa giáo dục
- Công tác hướng nghiệp là một bộ phận của công tác giáo dục xã hội. Về phương
diện này, hướng nghiệp là công việc điều chỉnh động cơ nghề của học sinh, điều chỉnh hứng
thú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân công lao động xã hội. Kinh nghiệm trong và
ngoài nước cho thấy rằng, sự chọn nghề một cách tự phát của thanh thiếu niên thường
không phù hợp với hướng phát triển sản xuất và cơ cấu ngành, nghề trong xã hội. Vì vậy,
tác động giáo dục trong quá trình hướng nghiệp có ý nghĩa rất đặc biệt. Kết quả cuối cùng
cần đạt là mỗi học sinh phải tự lựa chọn nghề với ý thức đặt lợi ích của sự phát triển sản
xuất lên trên nguyện vọng cá nhân.
- Hướng nghiệp với ý nghĩa giáo dục sẽ là một công việc góp phần vào việc cụ thể
hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông. Trong giai đoạn hiện nay, trường phổ thông
phải đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể. Tốt
Làm tốt công tác hướng nghiệp, chúng ta sẽ có những lớp người đủ năng lực và phẩm
chất cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tóm lại, công tác hướng
nghiệp có ý nghĩa lớn đối với sự triển khai chiến lược con người – một bộ phận của chiến
lược kinh tế, khoa học và công nghệ.
* Ý nghĩa xã hội
Xét ở bình diện xã hội, hướng nghiệp có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động
xã hội, tạo ra sự cân bằng trong việc phân bố lực lượng dân cư. Khi xã hội gặp khó khăn
trong việc tìm kiếm “công ăn, việc làm” cho thanh thiếu niên, thì hướng nghiệp kết hợp chặt
chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có tác dụng làm ổn định đời sống xã hội. Nó góp
phần tạo điều kiện để xã hội sử dụng có hiệu quả lực lượng học sinh phổ thông ra trường
trong lĩnh vực kinh tế, kể cả kinh tế quốc doanh, ngoài quốc doanh và kinh tế gia đình.
Chúng ta biết rằng, thanh thiếu niên không tham gia lao động nghề nghiệp, không có
việc làm sẽ gây ra nhiều tiêu cực cho xã hội. Điều này không chỉ gây lo âu cho người lớn,
mà nguy hiểm hơn là tạo ra những thói hư, tật xấu ở tuổi trẻ. Từ đó dẫn đến tình trạng suy
thoái nhân cách của lớp người mới lớn. Hướng dẫn thanh thiếu niên chọn nghề, hình thành ở
các em tinh thần yêu thích lao động, thái độ sẵn sàng tham gia sản xuất, đóng góp sức lực,
tài trí cho sự mở mang ngành, nghề, phát triển kinh tế - đó là một nội dung giáo dục rất cơ
bản. Điều đó giúp thế hệ trẻ hứng thú và tự giác chấp nhận sự phân công lao động xã hội.
1.3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.3.2.1. Mục tiêu của hoạt động giáo dục hướng nghiệp
- Hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai.
- Biết được một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương, đất nước và khu vực; về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo
dục nghề nghiệp (trung học chuyên nghiệp và dạy nghề), cao đẳng, đại học ở địa phương và
cả nước.
- Biết cách tìm kiếm thông tin nghề và cơ sở đào tạo cầu thiết cho bản thân
- Biết cách tự đánh giá năng lực bản thân, điều kiện gia đình và nhu cầu xã hội để
định hướng học tập và chọn nghề tương lai.
Định
hướng
nghề
Tư vấn
nghề
Tuyển
chọn
nghề
1.3.2.3. Nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo (thực hiện với thời lượng 3 tiết/tháng) bao gồm:
- Nhóm chủ đề về kiến thức chung, cơ sở cho việc chọn nghề
- Nhóm chủ đề về kiến thức liên quan đến nhóm nghề và nghề cụ thể
- Nhóm chủ đề về giao lưu, thảo luận, tham quan
- Nhóm chủ đề về tư vấn nghề
Nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp với thời lượng 1tiết/tháng
(theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM) ở hai năm học 2006 – 2007 và
2007 – 2008 thì chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo
ở các khối lớp 10 và 11 gồm 27tiết/năm học, thực hiện 1 chủ đề/3tiết/tháng. Song ở năm học
2008 – 2009 theo hướng dẫn số 7475/BGDĐT – GDTH về việc thực hiện nhiệm vụ giáo
dục trung học năm học 2008 – 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì chỉ còn 9tiết/năm học ở
tất cả các khối lớp THPT. Bên cạnh, nội dung giáo dục hướng nghiệp đề cập đến quá nhiều
lĩnh vực, nhiều thông tin thuộc các lĩnh vực rất rộng và chuyên sâu, có nhiều thông tin thuộc
các lĩnh vực của các ngành, nghề, thị trường lao động, các phương hướng phát triển kinh tế xã hội ...thời lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa đảm bảo đủ thời lượng với số
tiết theo phân phối chương trình là 1tiết/1chủ đề/1tháng. Chính điều này đã ảnh hưởng lớn