BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
KHOA HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG SẮT HOÀ TAN TRONG
NƯỚC BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC QUANG
SỬ DỤNG THUỐC THỬ 1,10–PHENANTROLIN
GVHD: ThS. Trần Thị Lộc
SVTT: Chu Thị Kim Hương
Lớp: Hóa 4A
MSSV: 35201030
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Tháng 5 Năm2013
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành tại phòng thí nghiệm Hóa Công Nông – Môi
Trường - khoa Hoá học - Trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh.
Bằng tấm lòng trân trọng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Nguyễn
Văn Bỉnh, Cô Trần Thị Lộc - người đã hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo em
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, tất cả các thầy cô trong khoa Hoá đã
quan tâm, tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian qua, đặc biệt là các thầy cô
trong tổ Công Nông – Môi Trường, tổ Hữu cơ.
1.4.
PHÂN LOẠI NƯỚC [13, 14, 16].................................................... 6
1.5.
TÀI NGUYÊN NƯỚC SÔNG Ở VIỆT NAM [15] ..................... 10
1.6.
TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH [23] . 10
1.7.
THÀNH PHẦN SINH HÓA CỦA NƯỚC [16] .......................... 12
1.8.
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC [16] ...................................... 15
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ SẮT ......................................... 18
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NGUYÊN TỐ SẮT [11, 19] ................................ 18
2.1.1
Vị trí, cấu tạo và tính chất của sắt. ....................................................................... 18
2.1.2
Trạng thái tự nhiên. ............................................................................................... 18
SÔNG.......................................................................................................... 34
KẾT LUẬN .................................................................................... 51
PHỤ LỤC ....................................................................................... 53
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội, cuộc sống con người ngày càng ổn định hơn, nhưng hậu quả không thể tránh
khỏi, chính là môi trường sống càng trở nên ô nhiễm hơn. Bằng chứng là trong
những năm gần đây, thảm họa thiên nhiên liên tục xảy ra trên toàn thế giới như
động đất, sóng thần, lũ lụt gây thiệt hại lớn về con người và của cải. Chính vì thế
việc nghiên cứu về ô nhiễm môi trường và biện pháp bảo vệ môi trường ngày càng
cấp thiết.
Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, trong đó có
thể kể tới ô nhiễm kim loại nặng trong nước. Vì vậy, xác định hàm lượng kim loại
nặng trong nước là công việc vô cùng quan trọng. Một trong những kim loại được
chú ý là sắt, do nếu hàm lượng sắt hòa tan quá cao thì không chỉ ảnh hưởng tới sức
khỏe của con người mà còn ảnh hưởng xấu tới các hoạt động sản xuất, du lịch, cấp
nước…
Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, có nhiều cách xác định
hàm lượng sắt hòa tan trong nước khác nhau như: phương pháp trắc quang, phổ hấp
thụ nguyên tử, cực phổ Von-Ampe hoà tan... Một trong những phương pháp phân
tích phổ biến để xác định hàm lượng sắt hòa tan trong nước là phương pháp trắc
quang. Đây là phương pháp được sử dụng nhiều, tuy chưa phải hoàn toàn ưu việt
nhưng xét về nhiều mặt có những ưu điểm nổi bật như: có độ lặp lại cao, độ chính
xác và độ nhạy đạt yêu cầu của phép phân tích. Mặt khác, phương pháp này thao tác
trên các phương tiện máy móc không quá đắt, dễ bảo quản và sử dụng, cho giá
thành phân tích rẻ, phù hợp yêu cầu cũng như điều kiện của các phòng thí nghiệm
Qua việc xác định hàm lượng sắt hòa tan trong nước sông, đánh giá chất lượng
nước của kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè và kênh Tàu Hủ - Bến Nghé để đánh giá mức
độ cải tạo của hai dòng kênh này.
7. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
- Dùng phương pháp trắc quang với thuốc thử 1,10-phenantrolin, thực hiện
trong phòng thí nghiệm Công Nông – Môi Trường trường Đại Học Sư Phạm thành
phố Hồ Chí Minh.
- Mẫu nước lấy ở kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè và kênh Tàu Hủ - Bến Nghé
thành phố Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC
1.1.
PHÂN BỐ NƯỚC TRÊN TRÁI ĐẤT [15]
Trên hành tinh chúng ta, nước tồn tại khắp nơi: trên mặt đất, trong biển và đại
dương, dưới đất và trong không khí dưới các dạng: lỏng (nước sông, suối, ao hồ,
biển, khí (hơi nước) và rắn (băng tuyết).
Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO),
lượng nước trong thủy quyển được phân bố như sau:
Lượng nước trong thủy quyển:
1386.106 km3
100%
Nước ngọt:
dẫn tới tình trạng bênh lý.
Nước là môi trường khuyếch tán cho các chất của tế bào, tạo nên các chất lỏng
sinh học như máu, dịch gian bào, dịch não tủy.
Nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ.
Nước là môi trường hoà tan chất vô cơ và phương tiện vận chuyển chất vô cơ và
hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật.
Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.
Cuối cùng nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinh
vật, nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
Vì vậy các cơ thể sinh vật thường xuyên cần nước. Một người nặng 60 kg cần
cung cấp 2-3 lít nước để đổi mới lượng nước của cơ thể, và duy trì các hoạt động
sống bình thường.
Vai trò của nước đến khí hậu
Nước quyết định vai trò của đại dương về khí hậu bởi nước có nhiệt dung riêng
lớn. Các đại dương và biển tích lũy nhiệt lượng của bức xạ mặt trời vào mùa hè và
dùng lượng nhiệt đó để sưởi ấm khí quyển vào mùa đông.
Các dòng hải lưu mang nhiệt năng từ các vùng nhiệt đới lên các biển phía bắc,
làm dịu và cân bằng khí hậu của nhiều vùng trên Trái Đất. Ví dụ như khí hậu vùng
Tây Âu dịu mát nhờ vai trò của dòng hải lưu nóng khổng lồ Gulf - stream chảy từ
vịnh Mexico qua Đại Tây Dương vòng qua bờ biển Anh và Nauy. Đại dương cùng
với gió đóng vai trò điều hòa thành phần không khí hòa tan các chất của khí quyển,
còn các dòng hải lưu thì chuyển chúng đi rất xa.
Vai trò của nước đối với sự phát triển kinh tế
Nước đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người như sử dụng trong sinh hoạt: tắm
rửa, giặt, nấu ăn… Tùy theo trình độ phát triển xã hội và khả năng cung cấp mà
lượng nước cần cho mỗi người một ngày trong các vùng đô thị có thể đạt từ 100 300 lít hay hơn nữa.
Trong nông nghiệp, nước là yếu tố vô cùng quan trọng để tạo ra năng suất và
sản lượng cây trồng. Nước có vai trò hòa tan các loại muối khoáng trong đất và giúp
Trong chu trình thủy văn nguồn nước ngọt được luân hồi qua quá trình bốc hơi
và mưa (thời gian luân hồi thường ngắn theo hàng năm). Hiện nay hàng năm toàn
thế giới mới sử dụng 4000km3 nước ngọt, chiếm khoảng hơn 40% tổng số nguồn
nước ngọt có thể khai thác. Tuy nhiên nguồn nước mưa và nước ngọt phân bố rất
không đồng đều, trong khi có nhiều vùng bị ngập lụt thì các vùng khác lại thiếu
nước ngọt.
1.4.
PHÂN LOẠI NƯỚC [13, 14, 16]
Nước mặt
Đây là khái niệm chung chỉ các nguồn nước trên mặt đất, bao gồm các dạng
động (chảy) như sông, suối, kênh, rạch và dạng tĩnh hay dạng chảy chậm như ao,
hồ, đầm… Nước mặt có nguồn gốc chính là nước chảy tràn do mưa hay cũng có thể
từ nước ngầm chảy ra do áp suất cao hay dư thừa độ ẩm trong đất cũng như dư thừa
số lượng trong các tầng nước.
Nước chảy tràn vào các sông luôn ở trạng thái động, phụ thuộc vào lưu lượng và
mùa trong năm. Chất lượng nước phụ thuộc nhiều vào các lưu vực. Nước qua vùng
núi đá vôi, đá phấn thì sẽ trong và cứng. Nước chảy qua vùng đất có tính thấm kém
thì sẽ đục và mềm. Các hạt mịn hữu cơ và vô cơ bị cuốn theo khó sa lắng. Nước
chảy qua rừng rậm thì sẽ trong và chứa nhiều chất hữu cơ hòa tan. Nạn phá rừng
làm cho nước cuốn trôi hầu hết các thành phần trong đất.
Bảng 1.1. Chất lượng nước mặt-QCVN 08:2008/BTNMT
Thông số
TT
Giá trị giới hạn
mg/l
≥6
≥5
≥4
≥2
3
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
mg/l
20
30
50
100
4
COD
mg/l
0,2
0,5
1
7
Clorua (Cl-)
mg/l
250
400
600
-
8
Florua (F-)
mg/l
1
1,5
15
11
Phosphat (PO 4 3-)(tính theo P)
mg/l
0,1
0,2
0,3
0,5
12
Xianua (CN-)
mg/l
0,005
0,01
0,02
0,02
Chì (Pb)
mg/l
0,02
0,02
0,05
0,05
16
Crom III (Cr3+)
mg/l
0,05
0,1
0,5
1
17
Crom VI (Cr6+)
0,5
1,0
1,5
2
20
Niken (Ni)
mg/l
0,1
0,1
0,1
0,1
21
Sắt (Fe)
mg/l
0,5
0,4
0,5
24
Tổng dầu, mỡ (oils & grease)
mg/l
0,01
0,02
0,1
0,3
25
Phenol (tổng số)
mg/l
0,005
0,005
0,01
BHC
mg/l
0,05
0,1
0,13
0,015
DDT
mg/l
0,001
0,002
0,004
0,005
Endosunfan (Thiodan)
mg/l
0,005
Heptachlor
mg/l
0,01
0,02
0,02
0,05
Paration
mg/l
0,1
0,2
0,4
0,5
Malation
mg/l
0,1
2,4,5T
mg/l
80
100
160
200
Paraquat
mg/l
900
1200
1800
2000
29
Tổng hoạt độ phóng xạ a
Bq/l
50
100
200
2500
5000
7500
10000
100ml
32
Coliform
MPN/
100ml
Ghi chú: Việc phân hạng nguồn nước mặt nhằm đánh giá và kiểm soát chất
lượng nước, phục vụ cho các mục đích sử dụng nước khác nhau:
A1 – Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt và các mục đích khác như
loại A2, B1 và B2.
A2 - Dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng phải áp dụng công nghệ xử
lý phù hợp; bảo tồn động thực vật thủy sinh, hoặc các mục đích sử dụng như loại B1
và B2.
B1 – Dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có
Rất thấp, hầu như không có
Thường cao và thay đổi theo
mùa
Chất khoáng
Ít thay đổi, cao hơn so với
Thay đổi tùy thuộc vào lượng
hòa tan
nước mặt
đất lượng mưa
Hàm lượng
Fe2+, Mn2+
Khí CO 2 hòa
Thường xuyên có trong nước
Rất thấp, chỉ có khi nước ở sát
đáy hồ
Có nồng độ cao
Rất thấp hay bằng 0
Vi sinh vật
Có khi nguồn nước bị nhiễm
bẫn
Thường rất thấp
Chủ yếu do các vi trùng sắt
Nhiều loại vi trùng, virut gây
gây ra
bệnh và tảo
Nước biển
Nước biển tương đối đồng đều về thành phần, đặc biệt là giàu NaCl, vì vậy
nước biển được gọi là nước mặn. Khoảng ¾ bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi nước
biển. Có thể phân theo tỉ lệ muối hòa tan từ mức độ lớn tới nhỏ là nước mặn ở các
vùng biển và đại dương, nước lợ ở vùng cửa sông và ven biển, nước ngọt ở sông hồ.
Thành phần chủ yếu của nước biển là các ion Cl-, SO 4 2-, CO 3 2-, SiO 3 2-, Na+, Ca2+,
Mg2+. Nước biển thích hợp với các loài thủy hải sản nước mặn, là môi trường sống
của nhiều giới sinh vật. Biển đóng vai trò quan trọng trong chu trình tuần hoàn nước
toàn cầu.
1.5.
mùa lũ lên tới 10000 m3/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước và là nguồn nước ngọt
chính của thành phố Hồ Chí Minh. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản,
chảy qua Thủ Dầu Một đến thành phố với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa
phận thành phố dài 80 km. Hệ thống các chi lưu của sông Sài Gòn rất nhiều và có
lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m3/s
Bề rộng của sông Sài Gòn tại thành phố thay đổi từ 225m đến 370m và độ sâu
tới 20m. Sông Ðồng Nai nối thông qua sông Sài Gòn ở phần nội thành mở rộng, bởi
hệ thống kênh Rạch Chiếc. Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp lưu của sông Ðồng
Nai và sông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố khoảng 5km về phía Ðông Nam. Nó
chảy ra biển Ðông bằng hai ngả chính - ngả Soài Rạp dài 59km, bề rộng trung bình
2km, lòng sông cạn, tốc độ dòng chảy chậm; ngả Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái,
dài 56km, bề rộng trung bình 0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu bè
ra vào bến cảng Sài Gòn.
Ngoài trục các sông chính kể trên ra, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch
chằng chịt, như ở hệ thống sông Sài Gòn có các rạch Láng The, Bàu Nông, rạch
Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò
Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hủ, Kênh Ðôi và ở phần phía Nam thành phố thuộc địa bàn các
huyện Nhà Bè, Cần Giờ mật độ kênh rạch dày đặc; cùng với hệ thống kênh cấp 3-4
của kênh Ðông-Củ Chi và các kênh đào An Hạ, kênh Xáng, kênh Bình Chánh đã
giúp cho việc tưới tiêu hiệu quả, giao lưu thuận lợi và đang dần dần từng bước thực
hiện các dự án giải tỏa, nạo vét kênh rạch, chỉnh trang ven bờ, tô điểm vẻ đẹp cảnh
quan sông nước, phát huy lợi thế hiếm có đối với một đô thị lớn.
Nước dưới đất
Nước ngầm ở thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung khá phong phú tập trung ở
vùng nửa phần phía Bắc-trên trầm tích Pleixtoxen; càng xuống phía Nam (Nam
Bình Chánh, quận 7, Nhà Bè, Cần Giờ) - trên trầm tích Holoxen, nước ngầm thường
bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.
Ðại bộ phận khu vực nội thành cũ có nguồn nước ngầm rất đáng kể, nhưng chất
Nước biển
Nước sông, hồ, đầm
Nồng độ (mg/l)
Thứ tự
Nồng độ (mg/l)
Thứ tự
Clo Cl-
19340
1
8
4
Natri Na+
10770
2
6
2
Các ion chính
Kali K+
399
6
2
7
Bicacbonat HCO 3 -
140
7
58
1
Bromua Br-
65
15
Silic Si
5.000
1
13.100
3
Flo F
1400
3
100
12
Nito N
250
4
230
14
Sắt Fe
3
8
670
9
Mangan Mn
2
9
7
16
Các khí hòa tan
Các khí hòa tan trong nước là do sự hấp thụ của không khí vào nước, hoặc do
quá trình hóa học, sinh hóa trong nước tạo ra, các khí chủ yếu là oxy và cacbonic,
ngoài ra còn một số khí khác.
Các chất rắn
Các chất rắn bao gồm các thành phần vô cơ, hữu cơ và được phân thành 2
loại dựa vào kích thước:
Chất rắn không thể lọc được: là loại có kích thước hạt nhỏ hơn 10-6m, ví dụ
nghĩa rất quan trọng với môi trường nước. Phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng, vi
khuẩn được chia làm hai nhóm chính: vi khuẩn dị dưỡng (heterotrophic) và vi
khuẩn tự dưỡng (autotrophic).
- Siêu vi trùng (virus): Loại này có kích thứơc nhỏ (khoảng 20 ÷ 100nm), là
loại kí sinh nội bào. Khi xâm nhập vào tế bào vật chủ nó thực hiện việc chuyển
hóa tế bào để tổng hợp protein và axit nucleic của siêu vi trùng mới, chính vì
cơ chế sinh sản này nên siêu vi trùng là tác nhân gây bệnh hiểm nghèo cho con
người và các loài động vật.
- Tảo: là loại thực vật đơn giản nhất có khả năng quang hợp, không có rễ,
thân, lá; có loại tảo có cấu trúc đơn bào, có loại có dạng nhánh dài, tảo thuộc
loại thực vật phù du. Tảo là loại sinh vật tự dưỡng, chúng sử dụng cacbonic hoặc
bicacbonat làm nguồn cacbon, sử dụng các chất dinh dưỡng vô cơ như photphat
và nitơ để phát triển.
Người ta có thể dùng tảo làm chỉ thị sinh học để đánh giá chất lượng nước
tự nhiên.
1.8.
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC [16]
Nguồn gốc gây ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là sự làm thay đổi bất lợi cho môi trường nước, hoàn toàn hay
đại bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên. Những hành động
gây tác động trực tiếp hay gián tiếp đến những thay đổi về mặt năng lượng, mức độ
bức xạ Mặt Trời, thành phần vật lý hóa học của nước, và sự phong phú của các loại
sinh vật sống trong nước.
Về nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hay nhân tạo. Sự ô nhiễm có
nguồn gốc tự nhiên là do mưa, tuyết tan. Nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, khu
hợp này do nhu cầu sự phân huỷ hiếu khí cao sẽ dẫn đến hiện tượng thiếu oxi.
Nước có màu vàng bẩn do sự xuất hiện quá nhiều các hợp chất humic
(axit mùn). Nhiều loại nước thải của các nhà máy, công xưởng, lò mổ có nhiều
màu sắc khác nhau. Các màu sắc có ảnh hưởng tới ánh sáng mặt trời chiếu xuống
dẫn đến hậu quả khôn lường cho các hệ sinh thái nước. Nhiều màu sắc do hóa chất
gây nên rất độc đối với sinh vật nước.
Mùi và vị
Nước thải công nghiệp chứa nhiều hợp chất hoá học làm cho nước có vị không
tốt và đặc trưng, như các muối của sắt, mangan, clo tự do, sunfuahidro, các
phenol và hidrocacbon không no. Nhiều chất chỉ với một lượng nhỏ đã làm cho vị
xấu đi. Các quá trình phân giải các chất hữu cơ, rong, tảo đều tạo nên những
sản phẩm làm cho nước có vị khác thường.
D o v ậ y, khi nước bị ô nhiễm, vị của nó biến đổi làm cho giá trị sử dụng của
nước giảm nhiều.
Mùi của nước là một đặc trưng quan trọng về mức độ ô nhiễm nước bởi
các chất gây mùi như: amoniac, phenol, clo tự do, các sunfua, các xianua v.v...
Mùi của nước cũng gắn liền với sự có mặt của nhiều hợp chất hữu cơ như dầu
mỡ, rong tảo và các chất hữu cơ đang phân rã. Một số vi sinh vật cũng làm cho
nước có mùi như động vật đơn bào Dinobryon và tảo Volvox gây mùi tanh cá.
Các sản phẩm phân huỷ protein trong nước thải có mùi hôi thối.
Độ đục
Một đặc trưng vật lý chủ yếu của nước thải sinh hoạt và các loại nước thải công
nghiệp là độ đục lớn. Độ đục do các chất lơ lửng gây ra, những chất này có kích
thước rất khác nhau, từ cỡ các hạt keo đến những thể phân tán thô, phụ thuộc vào
trạng thái xáo trộn của nước. Những hạt này thường hấp thụ các kim loại độc và
các vi sinh vật gây bệnh lên bề mặt của chúng. Nếu lọc không kĩ vẫn dùng thì rất
nguy hiểm cho người và động vật.
Mặt khác, độ đục lớn thì khả năng xuyên sâu của ánh sáng bị hạn chế nên quá
7,874 kg/m3.
Bề ngoài:
Kim loại màu xám, có ánh kim.
Khối lượng nguyên tử:
55,845 đvc.
Bán kính nguyên tử (Ao):
1,35.
Năng lượng ion hóa (eV):
I 1 = 7,9; I 2 = 16,18; I 3 = 30,63.
Trạng thái oxi hóa:
+2, +3.
Hóa trị:
II, III.
2.1.2 Trạng thái tự nhiên.
Sắt là nguyên tố phổ biến đứng hàng thứ 4 về hàm lượng trong vỏ Trái Đất sau
O, Si, Al. Trong thiên nhiên sắt có 4 đồng vị bền: 54Fe, 56Fe (91,68%), 57Fe và 58Fe.
màu của phức giảm đi. Khi nồng độ SCN- lớn không những nó làm tăng độ nhạy
của phép đo mà còn loại trừ được ảnh hưởng của F-, PO 4 3- và một số anion khác tạo
phức được với Fe3+. Trong môi trường axit có những ion gây ảnh hưởng đến việc
xác định Fe 3+ bằng SCN- như C 2 O 4 2-, F-. Ngoài ra còn có các ion tạo phức màu hay
kết tủa với ion thioxianat như Cu2+, Co2+, Ag+, Hg2+.
Thuốc thử axit sunfosalixilic [2]
Axit sunfosalixilic tạo phức với sắt (III) có màu phụ thuộc vào nồng độ axit của
dung dịch. Theo Saclo, với dung dịch có pH=1,5 thì λ max =500nm, còn pH=5 thì
λ max =460nm. Axit sunfosalixilic còn được sử dụng để xác định sắt (III) trong môi
trường axit, xác định tổng lượng Fe2+ và Fe3+ trong môi trường kiềm.
Ở pH=1,8-2,5 phức Fe3+ với axit sunfosalixilic có màu tím đỏ ứng với
λ max =510nm, ở pH=4-8 phức Fe3+ với axit sunfosalixilic có màu đỏ da cam ứng với
λ max =490nm và ở pH=8-12 phức Fe3+ với axit sunfosalixilic có màu vàng da cam
ứng với λ max =420-430nm. Khi pH > 12 xảy ra sự phân hủy phức do sự hình thành
hiđroxo.
Thuốc thử bato–phenantrolin [9]
Phức của Fe2+ với bato–phenantrolin có thể được chiết bằng nhiều dung môi
hữu cơ, trong đó tốt nhất là ancol n–amylic, ancol iso–amylic và clorofom.
Người ta thường dùng clorofom để chiết vì nó có tỷ trọng cao nên dễ chiết.
Phức này có thể được chiết bằng hỗn hợp clorofom – ancol etylic khan với tỉ lệ 1:5
hoặc 5:1, pH thích hợp cho sự tạo phức là 4 – 7. Để tránh hiện tượng thủy phân đối
với các ion ta cho thêm vào dung dịch một ít muối xitrat hay tactrat. Cu2+ gây ảnh
hưởng cho việc xác định Fe2+ bằng thuốc thử bato–phenantrolin, ngoài ra một số ion
kim loại hóa trị II như Co, Ni, Zn, Cd với một lượng lớn cũng gây ảnh hưởng. Các
anion không gây ảnh hưởng cho việc xác định sắt bằng thuốc thử này.
Thuốc thử 1-(2-pyridylazo)-2-naphthol (PAN)
Thuốc thử tạo phức với sắt được nghiên cứu trong môi trường kiềm ở pH tối ưu
6 – 8, phức bền theo thời gian và phức có thành phần Fe:R là 1:2 ở λ max =565nm ,