BM01-Bìa SKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị THPT Nguyễn Đình Chiểu
-------------------------Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẤN ĐỀ LIÊN HỆ THỰC TẾ
TRONG GIỜ DẠY ĐỌC VĂN Ở THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lê
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục :
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Tên sáng kiến kinh nghiệm: VẤN ĐỀ LIÊN HỆ THỰC TẾ TRONG GIỜ DẠY
ĐỌC VĂN Ở THPT.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Học Ngữ văn là để trau dồi tình cảm thẩm mĩ và nhân cách.Đó là một mục
tiêu vô cùng quan trọng. Song chương trình Ngữ văn trong nhà trường THPT còn
chú trọng phương diện văn hóa của văn bản văn chương. Văn chương trong nhà
trường còn cung cấp những hiểu biết về nhiều phương diện của đời sống... Học
Ngữ văn phải hướng vào cuộc sống để vận dụng kiến thức và để sống đúng, sống
đẹp. Đó là quan điểm văn hóa và thực tiễn của việc dạy- học Ngữ văn .
Ngày nay, cuộc sống xã hội diễn biến phức tạp, mỗi em học sinh đang hàng
ngày phải va chạm tiếp xúc với biết bao luồng thông tin văn hóa thẫm mĩ khác xa
những điều thầy cô truyền đạt.Thái độ thờ ơ lạnh lùng của học sinh trước nỗi đau
buồn của con người trong cuộc đời cũng như trong văn chương là điều khiến chúng
ta phải suy nghĩ, day dứt. Nếu học sinh không đồng cảm được, không xúc động nổi
thì đó là dấu hiệu không lành mạnh trong tâm hồn, tình cảm của các em.
Có một số học sinh sống hàng ngày thì ích kỷ ngay cả với người thân trong
gia đình, bạn bè. Nhưng khi làm bài văn lại huênh hoang sáo rỗng với những mĩ từ
đạo lí. Có những học sinh trơn tru về đạo lí nhưng lại thờ ơ với những bất hạnh của
người khác. Cách biệt giữa cuộc sống với việc làm văn là một sự dối trá. Là giáo
viên dạy văn chúng ta có thể làm ngơ trước những hiện trạng như thế chăng? Biết
rằng việc liên hệ thực tế trong giờ dạy Đọc văn không còn là vấn đề mới mẻ, tuy
nhiên có nhiều lí do khách quan, chủ quan ( thời gian, không gian, tâm lí...) mà
không phải giờ nào, giáo viên nào cũng thực hiện có hiệu quả. Vì vậy, ở bài viết
này tôi muốn đề cập tới vài vấn đề liên hệ thực tế trong mỗi tác phẩm, đoạn trích
văn chương cụ thể từ đó có cái nhìn bao quát trong toàn bộ phân môn Đọc văn ở
bậc THPT và cũng là để kéo gần khoảng cách giữa hiện thực đời sống với văn
chương trong tâm hồn học sinh thân yêu, giúp các em nhận thức được những vấn
đề của cuộc sống và hoàn thiện nhân cách tốt đẹp.
Một thực tế khác thôi thúc tôi chọn đề tài này đó là trong nhiều tiết dự giờ
của đồng nghiệp tôi thấy giáo viên dạy và liên hệ thức tế vào bài dạy rất hiệu quả,
hóa vào từng cá nhân học sinh, có khi bất ngờ, ngẫu nhiên. Từ một hình tượng,
một tâm trạng, một hoàn cảnh cụ thể, người thầy có thể liên hệ thực tế gần gũi với
học sinh. Phải coi học sinh là ngọn lửa cần thắp sáng chứ không phải là cái bình
chứa kiến thức.
Xuất phát từ mục đích đó. Tôi muốn mỗi giờ dạy Văn của mình sẽ đem lại
cho học sinh những hiểu biết thực tế , tác động học sinh có sự chuyển biến
trong lối sống, nhận thức qua chính các nhà thơ, nhà văn, các hình tượng nhân
vật văn học. Góp phần giáo dục đạo đức, nhân cách, lòng nhân ái, lòng dũng
cảm, lòng vị tha, cao thượng, lòng yêu nước,... của học sinh.
Trong nhận thức của mình Mác đã nói rõ quá trình nhận thức của con
người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, trở về thực tiễn” vì thế khi
dạy học sinh cần hướng cho các trở về với thực tiễn đời sống xã hội.Phát huy khả
năng cảm thụ, năng lực hiểu biết, hình thành nhân cách người học. Từ đó giúp các
tưởng tượng và định hình được xã hội mình đang sống hoặc ở cả những thời đại đã
qua ( cả không gian và thời gian).
Nói như Macarenco: “Giáo dục chủ nghĩa cộng sản mà không giáo dục lòng
yêu nước và nhân ái thì giáo dục cái gì nữa” . Viện sỹ Mikhancốp hai lần anh
hùng Liên Xô khi góp ý về việc dạy văn đã nói: “Không thể bớt khoa học nhân
văn, bớt văn trong chương trình vì bớt văn tức bớt chất người”
Trong nhà trường THPT độ tuổi 15 đến 18 là lứa tuổi chưa trải nghiệm
nhiều, vốn hiểu biết chưa phong phú, kinh nghiệm sống hạn chế nhưng lại nhạy
cảm với đời sống bên ngoài. Vì vậy, khi truyền thụ những kiến thức giáo điều xa
rời thực tế khiến các em không hứng thú học tập , thậm chí cảm thấy điều thầy cô
nói là không có thật. Hơn nữa trong tâm lí học sinh cũng như của không ít người
cho rằng Văn học là bay bỗng, lãng mạn, không thiết thực ...Cho nên việc liên hệ
4
thực tế của giáo viên cần sinh động hấp dẫn, gần với hiện thực đời sống đang xảy
ra. Để các em có thể tư duy, nhận thức , lựa chọn sáng tạo, trau dồi cho mình
con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày, Hưng Đạo Đại Trần Quốc Tuấn của Ngô Sĩ
Liên Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ,...
+Lớp11: chương trình thay thế và đưa thêm một số tác phẩm như Bài ca
ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát, Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm, Vĩnh
biệt cửu Trùng Đài, Hầu trời của Nguyễn Huy Tưởng, Về luân lí xã hội ở nước ta
của Phan Châu Trinh,...
+ Lớp 12: chương trình thay thế và đưa thêm một số tác phẩm như: Đò Lèn (
Nguyễn Duy), Đàn ghi ta của Lor – ca ( Thanh Thảo), Ai đã đặt tên cho dòng
sông? ( Hoàng Phủ Ngọc Tường ), Một người Hà Nội ( Nguyễn Khải ), Mùa lá
rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Chiếc thuyền ngoài xa ( Nguyễn Minh Châu),
Hồn Trương Ba, da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ),…Chương trình cũng chú ý thêm
về loại thể. Về văn nghị luận, có thêm bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng
5
trong văn nghệ của dân tộc ( Phạm Văn Đồng ). Ngoài ra, còn có một bài về chân
dung văn học của Xvai – gơ và hai văn bản nhật dụng. Kịch sau năm 1975 được
đưa vào sgk với Hồn Trương Ba, da hàng thịt .Kí được bổ sung bút kí Ai đã đặt
tên cho dòng sông? ( Hoàng Phủ Ngọc Tường ),...
- Chương trình không chỉ chọn các sáng tác nghệ thuật văn chương mà còn tăng
cường phần nghị luận xã hội, nghị luận văn học và thêm một số văn bản nhật dụng.
2.2/Biện pháp chung:
Ngữ văn là môn học đòi hỏi người học khả năng tư duy, năng lực nhận biết và
cả trái tim biết rung động, thương yêu . Nói cách khác là cần kết hợp nhiều kĩ
năng( kĩ năng đọc, kĩ năng nghe, kĩ năng quan sát, kĩ năng nói, kĩ năng bộc lộ cảm
xúc,...). Đây cũng là bộ môn tổng hòa nhiều kiến thức bao gồm cả khoa học tự
nhiên và khoa học xã hội. Nó không chỉ phong phú về nội dung mà còn đa dạng về
hình thức, mỗi bài học mở ra nhiều vấn đề khác nhau, đưa người đọc đi đến những
nhận thức đa diện, nhiều chiều. Người đọc thấy được mối liên hệ sâu sắc giữa văn
học và đời sống hiện thực.
Nhà thơ Tố Hữu đã bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc đối với những phụ nữ bất đó,
ông viết :
“Răng không cô gái trên sông
Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài
Thơm như hương nhụy hoa nhài
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng”
2.3.2/Lớp 11:
*Khi dạy bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến. Từ vẻ đẹp của cảnh
thu điển hình ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, chúng ta thấy được tình cảm yêu
thiên nhiên, đất nước của nhà thơ Nguyễn Khuyến . Giáo viên liên hệ với nhiều
nhà thơ khác cũng miêu tả về thiên nhiên miền quê Bắc Bộ với bốn mùa: Xuân Hạ -Thu -Đông (Nguyễn Trãi cảm nhận về mùa hè với âm thanh sôi động , màu
sắc đặc trưng ; cũng nói về mùa thu Xuân Diệu
có cái nhìn khác:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới, mùa thu tới
Với áo mơ phai rệt lá vàng,...
Hay từ chính kinh nghiệm bản thân là người con của vùng Trung du Bắc Trung
Bộ, tôi cảm nhận sâu sắc về khí trời mua thu,về sắc thu. Đó là cái gió heo may, là
tiếng xào xạc của lá vàng rơi, là cái điệu trầm, điệu tĩnh khiến lòng người nao nao
buồn. Ở bài này khi giảng đến từng chi tiết, từng ảnh liên quan đến đời sống tôi có
thể kể rất chân thực hoặc trình chiếu những hình ảnh về làng Bắc bộ, về ao thu,
ngõ trúc,...cho các em xem, ví dụ như chi câu cá – bởi chính tôi đã từng chốn học
rủ bạn đi câu cá ở ao nhà ông ngoại. Nhiều nội dung, chúng ta có thể liên hệ mở
rộng, tuy nhiên cần chọn lọc những vấn đề phù hợp với nội dung, mục đích, yêu
cầu bài học.Và điều quan trọng là làm cho những học sinh ở miền Đông Nam Bộ
có cảm nhận bao quát, chân thực, đọng lại trong các em một bức tranh mùa thu đặc
sắc, điển hình; qua đó thấy được tình yêu làng cảnh của nhà thơ đồng thời nhen
nhóm ngọn lửa yêu cảnh đẹp quê hương trong mỗi học sinh.
các em thấy mình giống và khác trong những câu chuyện như thế nào, thấy môn
văn gần gũi với các em .
* Qua bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm:
- Giáo dục tinh thần yêu nước và hiểu thêm về Đất Nước: ĐN không ở đâu xa mà ở
trong căn nhà, trong hạt gạo ta ăn hàng ngày, trong môi trường học tập, sinh
hoạt…và ở ngay trong mỗi chúng ta, vì vậy, chúng ta hãy bảo vệ và yêu ĐN như
yêu cơ thể chúng ta…chúng ta phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ đất nước…
- Giáo dục lòng tự hào về nguồn gốc, về dân tộc, về truyền thống tốt đẹp của con
người VN. Từ đó giúp HS thêm yêu cội nguồn và đất nước, phải cố gắng học tập...
- GV đặt vấn đề : Bản thân em cần có trách nhiệm và nghĩa vụ gì với ĐN ? Cần ra
sức học tập, tu dưỡng đạo đức... như vậy cũng là cống hiến, là góp sức mình cho
ĐN thêm giàu mạnh...
* Bài đọc thêm Một người Hà Nội của Nguyễn Khải :
+Qua việc dạy con của bà Hiền giáo viên có thể cho học sinh nhận xét về
cách dạy.
+Bà Hiền dạy con từ những cái nhỏ nhất : ngồi ăn, cầm bát, cầm đũa,..giáo
viên đặt câu hỏi gợi mở , chốt lại : đây không phải chuyện sinh hoạt vặt vãnh mà
nó là văn hóa sống.
+Bà Hiền dạy con phải có lòng tự trọng. Giáo viên gợi mở học sinh nhận
thức : con người phải có lòng tự trọng dù trong bất kì hoàn cảnh nào. Bởi lòng tự
trong không cho phép con người ta sống ích kỷ, hèn nhát.Từ đó giáo viên liên hệ
thêm một số tấm gương có lòng tự trọng mà các em biết trong cuộc sống.
* Bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 của Cô –
Phi – An – Nan. Giáo dục các em biết thêm về căn bệnh thế kỷ.
Qua bài này giúp HS tự nhận thức: Nhận thức được đây là một căn bệnh thế
kỷ có tính chất nóng bỏng của toàn cầu. Từ đó, xác định được trách nhiệm của mỗi
cá nhân khi tham gia vào cuộc chiến đấu này, có những hành động thiết thực góp
phần ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh thế kỷ.
8
- Qua cuộc đối thoại giữa hồn và xác là cuộc đấu tranh giữa các mặt khác nhau
trong một con người, tác giả muốn nhắn gửi: Con người cần chăm sóc nội dung và
hình thức, con người nhu cầu và con người thiên chức, cái cao cả và cái tầm
thường để thống nhất, hài hoà giữa hồn và xác.
- Lời cảnh báo của tác giả: Khi con người phải sống trong dung tục thì sớm hay
muộn những phảm chất tốt đẹp cũng sẽ bị cái dung tục ngự trị, lấn át và tàn phá. Vì
thế, phải đấu tranh để loại bỏ sự dung tục, giả tạo để cuộc sống trở nên tươi sáng
hơn, đẹp đẽ và nhan văn hơn.
- Qua đối thoại giữa hồn với Đế Thích:
+ Cho thấy cái nhìn quan liêu, hời hợt về cuộc sống của con người.
+ Khẳng định không thể chữa sai bằng cách vá víu, tạm bợ; nếu không sẽ càng
trầm trọng (vì nó không đem lại kết quả tốt đẹp mà gây ra tai hoạ cho nhiều người
tốt, tạo cơ hội cho những kẻ xấu sách nhiễu, làm vẫn đục cuộc sống).
9
- Đoạn kết: qua lời thoại của Trương Ba và cái Gái: Kết thúc vở kịch, hồn TB
chấp nhận cái chết , một cái chết làm sáng bừng lên nhân cách đẹp đẽ của Trương
Ba, thể hiện sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp và sự sống đích thực.
-> GV rút ra giá trị tư tưởng:
- Phê phán:
+ Hai quan niệm sống lệch hoặc chỉ chú trọng đến thân xác, ham muốn vật chất,
hoặc chỉ chú trọng đến đời sống tinh thần.
+ Lối sống giả tạo làm con người có nguy cơ rơi vào con đường tha hoá, đánh
mất mình.
+ Những tiêu cực trong xã hội: lối sống và cái nhìn hời hợt, sửa cái sai này bằng
cái sai khác.
- Kêu gọi con người hãy sống là chính mình, biết đấu tranh để hoàn thiện nhân
cách.
→ Giá trị nhân văn của tác phẩm.
như vậy chúng ta có thể vận dụng liện hệ thực tế bất kì lĩnh vực nào, nhằm giáo
dục cho học sinh những nội dung phong phú có ý nghĩa thiết thực trong đời sống
và việc hoàn thiện nhân cách của các em. Tuy nhiên cũng cần căn cứ vào điều kiện
thời gian, tùy vào hoàn cảnh, đối tượng để giáo viên vận dụng liện hệ thực tế mở
rộng vấn đề mang tính giáo dục đạt hiệu quả cao nhất.
2.4/ Giáo án minh họa:
Đọc văn
CÂU CÁ MÙA THU
(Thu điếu) - Nguyễn Khuyến –
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Cảm nhận được vẻ đẹp của cảnh thu điển hình cho mùa thu Việt Nam vùng
đồng bằng Bắc Bộ và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân.
- Tài năng thơ Nôm với bút phát tả cảnh và nghệ thuật sử dụng từ ngữ của
Nguyễn Khuyến.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức
- Vẻ đẻp của bức tranh mùa thu ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, tình yêu
thiên nhiên, đất nước và tâm trạng của tác giả.
- Sự tinh tế, tài hoa trong nghệ thuật tả cảnh và trong cách sử dụng ngôn từ
của Nguyễn Khuyến.
2. Kĩ năng
- Biết cách đọc- hiểu bài thơ Đường luật
- Phân tích, bình giảng thơ.
C. NỘI DUNG LÊN LỚP
1. Ổn định, kiểm tra
- Ổn định lớp: kiểm tra sĩ số
- Kiểm tra bài cũ:
luận, kết.
+ Chia theo nội dung cảm xúc gồm 2 phần: cảnh thu và
tình thu
Ở bài này chúng ta nên đọc- hiểu theo nội dung cảm xúc .
* Hoạt động 2: Đọc - hiểu văn bản
Gv: Cho học sinh đọc diễn cảm bài thơ
- Tìm hiểu hai câu đề :Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
- Sự quan sát của tác giả về cảnh thu như thế nào?
- Trong bức tranh thu hoàn hảo ấy, em có thể chỉ ra nét
riêng của cảnh thu?
- Ấn tượng nhất ở bức tranh thu là gì?
GVBS :- Nếu như ở Thu vịnh cảnh thu được đón nhận từ
cao xa tới gần rồi từ gần đến cao xa thì ở Thu điếu cảnh thu
được đón nhận từ gần tới cao xa rồi từ cao xa tới gần.
Liên hệ : - Gv trình chiếu cảnh ao cá, ngõ trúc
Nguyễn Khuyến là bậc
túc nho tài năng, có cốt
cách thanh cao, có tấm
lòng yêu nước thương
dân nhưng bất lực trước
thời cuộc; được mệnh
danh là “nhà thơ của dân
tình làng cảnh Việt
Nam”.
2. Bài thơ
a. Xuất xứ
Bài thơ nằm trong
chùm thơ thu (3 bài) của
+Nghệ thuật đối: sóng
gợn / lá rơi, xanh / vàng
->màu sắc ,âm thanh đậm
nét đường thi => Tiếp tục
nét vẽ về mùa thu với
hình ảnh sóng biếc gợn
thành hình, lá vàng rơi
thành tiếng, gợi vẻ tĩnh
lặng của mùa thu.
Gv cho học sinh tìm hiểu hai câu luận:
* Hai câu luận
Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt
Không gian của bức
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Không gian bức tranh mùa thu được mở ra theo những tranh thu được mở rộng
cả về chiều cao và chiều
chiều nào?
sâu với nét đặc trưng của
Hs: Suy nghĩ trả lời->Gv chốt ý.
cảnh thu đồng bằng Bắc
Bộ thanh, cao, trong, nhẹ,
Liên hệ: Xuân Diệu cảm nhận :
…
Đỗ trời xanh ngọc qua muôn lá
14
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền
=> Cách vận dụng các từ đắt, dựng lên một bức tranh
để nói điều gì?
Học sinh thảo luận trả lời.
GVBS:Cõi lòng nhà thơ yên tĩnh trong sự cảm nhận độ
trong veo của nước, gợn tí của sóng, rơi khẽ của lá. Đặc
biệt: cái tĩnh lặng trong tâm hồn thi nhân gợi lên từ âm
thanh tiếng cá đớp mồi.
Gv: Em hiểu gì về tình cảm của nhà thơ?
Hs: Suy nghĩ trả lời?
Giaó dục kĩ năng sống: cho học sinh thảo luận về cách
thể hiện cảm xúc của bài thơ, qua đó tìm hiểu vẻ đẹp của
mùa thu và tâm sự của Nguyễn Khuyến.
->Từ cách thể hiện cảm xúc cũng như tình cảm của nhà
thơ , em có liên hệ gì với bản thân (đối với thiên nhiên,
quê hương, đất nước mình) ?
* Hai câu kết
Hình ảnh của ông câu
cá trong không gian thu
tĩnh lặng và tâm trạng u
buồn trước thời thế.
3. Nghệ thuật
- Ngôn ngữ giản dị, trong
Gv: Em hãy nêu những nét chính về nghệ thuật của bài sáng
thơ?
- Sử dụng tử vận (vần eo)
15
Hs: Suy nghĩ trả lời?
1. Hướng dẫn học bài
- Học thuộc lòng bài thơ.
- Theo Xuân Diệu, trong ba bài thơ thu chữ Nôm của Nguyễn Khuyến, Thu
điếu (điển hình hơn cả). Anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến của nhà thơ./.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Trong quá trình vận dụng sự liên hệ mang tính giáo dục cho các em như :
giáo dục môi trường, giáo dục tình yêu thiên nhiên, giáo dục lòng yêu nước, lòng
tự hào dân tộc, khát vọng lập công vì nước, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với
cộng đồng, tính cương trực, thật thà, dũng cảm hành động vì nghĩa, học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cung cấp thêm những kiến thức về văn hóa
các vùng miền có liên quan đến trong bài học. Đặc biệt, lồng ghép giáo dục tình
yêu trong sáng ( một đề tài mà độ tuổi các em rất quan tâm ), nói thêm về bạo hành
gia đình nói riêng và bạo lực nói chung để các em hiểu thêm về những vấn đề
trong cuộc sống. Trang bị thêm cho các em về vấn đề gia đình như: sinh nhiều con,
nạn thất học, cuộc sống khó khăn, túng thiếu về vật chất…sẽ ảnh hưởng như thế
nào đến cuộc sống…Đây là những kiến thức hình thành kĩ năng sống bổ ích cho
các em làm hành trang vững chắc để bước vào đời.
Qua quá trình giảng dạy tôi thấy việc liện hệ thực tế có tính giáo dục đạt
được kết quả cao: học sinh hứng thú hơn với môn Văn, thích học và lắng nghe hơn,
hiệu quả thể hiện rõ rệt qua những bài làm văn, chất lượng môn học được nâng lên
đáng kể.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:
16
- Đề tài là một kinh nghiệm nhỏ của bản thân trong quá trình dạy môn Văn trong
nhà trường, bản thân cũng đã thu nhận được hiệu quả khi việc áp dụng đề tài, nên
tôi mạnh dạn đưa ra đây với mong muốn: Tùy vào đối tượng học sinh, tùy theo các
giáo viên, chúng ta có thể áp dụng đề tài đưa môn Văn liên hệ thực tế để giúp HS
học môn Văn tốt hơn.
chương. Không thế, thì ngược lại, chính con người và xã hội sẽ ngoảnh mặt lại với
văn học, coi là thứ đồ giả, đồ thừa, không chỉ không cần thiết mà còn tốn tài hao
lực, cản trở tới sự phát triển tự nhiên, sống động của đời sống.
“Văn học là nhân học” – M.Gorki. Nắm được đặc trưng của môn học giúp
người dạy có cái nhìn bao quát, toàn diện, đưa ra những giải pháp phù hợp giúp
học sinh lĩnh hội được tốt nhất, hiệu quả tự nhiên những tri thức mà môn Văn cung
cấp.
17
Có thể khẳng định rằng: trong nhà trường không có môn khoa học nào có
thể thay thế được môn Văn .Vì đó là môn học vừa giáo dục hình thành nhân cách
vừa vun đắp tâm hồn cho học sinh .Trong thời đại hiện nay ,khoa học kĩ thuật phát
triển nhanh chóng, môn Văn sẽ giữ lại tâm hồn con người, giữ lại những cảm
giác nhân văn để con người tìm đến với con người, trái tim hòa cùng nhịp đập
trái tim. Chính vì vậy, hãy để những nội dung giáo dục thái độ đạo đức, những thái
độ đối với môi trường, những bài học về cuộc sống, những giá trị đạo đức cao đẹp
của Bác Hồ tự nhiên đi vào lòng các em , tự nhiên biến thành hành vi đạo đức tích
cực của các em một cách nhẹ nhàng , khéo léo và tinh tế.
Trên đây là một vài vấn đề xung quanh việc liên hệ thực tế có ý nghĩa giáo
dục trong giờ dạy Đọc văn . Bài viết chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhân
được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp !
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 10,11,12 tập 1 – Nhà xuất bản giáo dục.
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 10,11, 12 tập 2 – Nhà xuất bản giáo dục.
3.Tài liệu giáo dục bảo vệ môi trường.
4.Tài liệu Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Bộ Giáo dục
và đào tạo- Hà Nội , tháng 8/2010.
5. Sách chuẩn kiến thức- kĩ năng NXB Giáo dục và đào tạo.
Long Thành, ngày 01 tháng 05 năm 2013.
- Phương pháp giáo dục
- Lĩnh vực khác: ........................................................
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị
Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
-
Có giải pháp hoàn toàn mới
-
Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
-
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
20