SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Phú Ngọc
Mã số:..............
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
MỘT VÀI SUY NGHĨ
VỀ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH CHUẨN BỊ
BÀI CÓ HIỆU QUẢ TRONG MÔN NGỮ VĂN
Người thực hiện: PHẠM QUANG ĐỨC
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn:
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác:.....................
Có đính kèm
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2012-2013
+ Một vài suy nghĩ về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả.
+Một vài suy nghĩ về phương pháp giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả
2
I. Lý do chọn đề tài:
Nghề dạy học là nghề cao quý. Người giáo viên khi đã chọn nghề giáo là
đã thể hiện lòng yêu nghề, có nhiều mong ước sẽ đem hết tâm huyết và năng
lực của mình để truyền đạt kiến thức cho học sinh. Đó là mục tiêu hướng tới
của người thầy giáo. Tuy nhiên mục tiêu đó có được thực hiện hiệu quả hay
không còn tùy thuộc vào đối tượng học sinh và quan trọng nhất là ở tinh thần
thái độ học tập của các em. Trong thực tiễn dạy học bộ môn ngữ văn trong nhà
trường THPT hiện nay tôi nhận thấy một điều vô cùng quan trọng cần phải suy
nghĩ và trăn trở là thái độ học tập của học sinh mà nhất là sự chuẩn bị bài ở nhà
của các em đóng một vai trò quyết định đến chất lượng giờ học và kết quả học
tập của học sinh. Bởi vì lý do đơn giản nhất là người học sinh không thể tiếp
thu được bài có hiệu quả nếu không có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp là do
môn ngữ văn nhất là phân môn đọc văn vốn có những vấn đề trừu tượng,
không dễ hiểu đối với học sinh .Lại có những bài học với nội dung quá dài
,nhiều chi tiết, vấn đề mà người giáo viên làm sao có thể truyền đạt hết kiến
thức cho các em. Đó là câu hỏi đặt ra của mỗi người thầy giáo dạy văn khi đứng
lớp cũng như bản thân tôi.
Như vậy thì làm thế nào để giúp các em học môn ngữ văn có hiệu quả với
những bài học có nội dung dài nhưng theo yêu cầu của phân phối chương trình
thì thời lượng rất hạn chế và những bài có nội dung không dễ tiếp thu? Điều đó
tùy thuộc vào năng lực của người thầy ,sức học và tinh thần học tập của học
sinh. Nhưng theo tôi một vấn đề vô cùng quan trọng rất có ý nghĩa và ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng giờ học, kết quả học tập của học sinh đó là sự
chuẩn bị bài ở nhà của các em. Nếu như các bộ môn tự nhiên như toán, lý, hóa
+ Bản thân tích cực học tập không ngừng để nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ ,chịu khó trong trao đổi chuyên môn, các phương pháp dạy học
với đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để học hỏi, đúc rút, tích lũy kinh
nghiệm.
+ Bản thân luôn gần gũi học sinh cố gắng lắng nghe những suy nghĩ, trăn
trở, vướng mắc của các em để tìm ra những điểm còn tồn tại và tìm cách tháo
gỡ vấn đề.
+ Dự giờ đồng nghiệp ,tham gia thao giảng , rút tỉa kinh nghiệm .
- Yếu tố khách quan ảnh hưởng tích cực đến chuyên đề :
+ Tổ chuyên môn hoạt động khá sôi nổi, tích cực trong trao đổi chuyên
môn, tinh thần thẳng thắn, cỡi mở để học tập lẫn nhau.
+ Ban giám hiệu, lãnh đạo nhà trường có sự quan tâm ,thường xuyên động
viên sâu sắc, đúng mức đến hoạt động chuyên môn đặc biệt là không khí giờ
học trên lớp, chất lượng dạy và học của thầy và trò.
2. Khó khăn:
- Nhìn chung tinh thần học tập và sự quan tâm của học sinh chưa cao về
môn văn. Phần lớn học sinh có xu hướng chọn các khối thi đại học,cao đẳng
gắn với các môn toán, lý, hóa, sinh nên thời gian đầu tư cho môn văn còn rất
hạn chế và khiêm tốn, có học sinh chỉ học môn văn như là một sự miễn cưỡng,
bắt buộc.
- Trường ở địa bàn miền nuí xa xôi, tài liệu sách báo tham khảo ở thư viện
còn hạn chế , nghèo nàn . Chưa có đủ tư liệu để học sinh và giáo viên tham
khảo, nghiên cứu một cách thoải mái, dễ dàng.
- Quan điểm chung của nhiều phụ huynh còn xem nhẹ các bộ môn xã hội
trong đó có môn văn, suy nghĩ còn thực dụng trong việc chọn khối thi, nghề
nghiệp ,dẫn đến ảnh hưởng tinh thần thái độ học tập của học sinh.
3. Số liệu thống kê:
Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm thì kết quả học tập của học sinh
còn thấp. Thống kê kết quả học tập trên lớp ở khối 11, 12 ở các học kì 1 ,kì 2,
4
bài ở nhà. Với chuyên đề này tôi nhận thấy những vấn đề kinh nghiệm mà một
số chuyên đề trước các giáo viên chưa đề cập đến hoặc có đề cập nhưng cách
nhìn có khác. Đó chính là nội dung, mục đích hướng tới của sáng kiến kinh
nghiệm này.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của chuyên đề :
Trong thực tế dạy học, biết rằng có nhiều phương pháp khác nhau để đạt
được mục tiêu giảng dạy. Có thể có nhiều giáo viên có yêu cầu ở học sinh trong
các hoạt động học tập ở nhà không hoàn toàn giống nhau. Điều đó tùy thuộc
vào nhiều điều kiện ,hoàn cảnh cụ thể của từng nơi . Song trong khuôn khổ
chuyên đề này người viết chỉ đưa ra một số nội dung mà mình thấy khả thi và
rút ra được trong thực tế giảng dạy tại địa phương . Hy vọng nó sẽ mang lại
những điều bổ ích trong sự trao đổi kinh nghiệm chuyên môn của đồng nghiệp.
*Nội dung của chuyên đề cụ thể như sau:
5
- Khi được phân công lớp giảng dạy ,giáo viên làm việc với lớp, thông báo
cho học sinh về yêu cầu của hoạt động chuẩn bị bài ở nhà là cần thiết và bắt
buộc.
- Yêu cầu cụ thể đối với học sinh là phải có vở soạn bài riêng và phải soạn
bài đầy đủ trước khi đến lớp.
- Nội dung yêu cầu học sinh chuẫn bị bài .
- Kiểm tra và xử lý việc soạn bài của học sinh.
a) Giáo viên làm việc với lớp thông báo cho học sinh về yêu cầu của hoạt
động chuẩn bị bài ở nhà là cần thiết và bắt buộc.
Đây là bước công tác tư tưởng đầu tiên trong buổi đầu giáo viên tiếp xúc
với lớp học mà mình được ban giám hiệu nhà trường phân công giảng dạy. Giáo
viên cần quán triệt tinh thần cho học sinh, bởi nếu tư tưởng không thông thì sẽ
không làm được việc gì. Giáo viên cần phân tích rõ cho học sinh nếu không
soạn bài ở nhà thỉ sẽ có những hạn chế gì ? tác hại ra sao ? Học sinh sẽ thụ động
b) Yêu cầu cụ thể đối với học sinh là phải có vở soạn bài riêng và phải
soạn bài đầy đủ trước khi đến lớp.
Trong thực tế học tập môn ngữ văn có nhiều lớp, nhiều học sinh lười biếng
không soạn bài, hay soạn bài theo kiểu đối phó, lấy lệ. Điều đó thể hiện ngay
trong vở soạn bài của học sinh, có học sinh dùng vở soạn chung với vở học trên
lớp hoặc vở soạn viết một cách lem nhem, cẩu thả chung với các bộ môn
khác .Điều này rất thiếu tính hệ thống, không khoa học. Ngay điều này cũng
phần nào đánh giá tinh thần, thái độ của học sinh và kết quả học tập. Vì thế giáo
viên ngay từ đầu năm học cần yêu cầu cụ thể với học sinh về vở soạn môn ngữ
văn phải là một cuốn vở dày riêng có ghi tên, lớp… cụ thể, rõ ràng để giáo viên
có thể dễ dàng kiểm trong suốt năm học . Thực tế cho thấy nếu giáo viên không
yêu cầu, kiểm tra ,nhắc nhở thì tình trạng vở soạn ngữ văn của học sinh dù là ở
các lớp khối THPT vẫn không khoa học, thậm chí cẩu thả, tùy tiện theo ý thích
riêng của học sinh. Việc yêu cầu thống nhất về vở soạn mà học sinh thực hiện
nghiêm túc cũng là một phần để đánh giá thái độ , tinh thần học tập của học
sinh.
Sau đó là xét đến khâu soạn bài của học sinh. Không thể chấp nhận việc
lên lớp học mà không có vở soạn ,hoặc chưa soạn bài hay soạn bài quá sơ sài.
Giáo viên cần nhắc nhở học sinh phải có kế hoạch, thời gian trong chuẩn bị bài
ở nhà, tránh để cập rập, có thể phải soạn bài trước khi học vài ba hôm hoặc một
tuần. Tuy nhiên có những học sinh có vở soạn, soạn bài có vẻ đầy đủ nhưng
chưa chắc là học sinh đó có ý thức học tập tốt và thực sự soạn bài, đây là một
khâu quan trọng mà giáo viên cần phát hiện để xử lý từng đối tượng học sinh để
lớp học , giờ học có chất lượng và hiệu quả. Đó là bước sẽ nói ở phần sau.
c) Nội dung, yêu cầu học sinh soạn bài:
Có thể phân phối chương trình môn ngữ văn ở các khối lớp 10,11,12 giáo
viên có thể cho học sinh ghi chép theo học kỳ, hoặc theo cả năm học. Như thế
dĩ nhiên là học sinh sẽ biết được bài học sắp tới hôm sau là bài gì ? phân môn
nào ? để có tinh thần tự giác và kế hoạch chuẩn bị bài ở nhà .Giáo viên cần
phải dạy đúng theo phân phối chương trình , không được tự ý thay đổi trình tự
văn là kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình ,giữa nghị luận sắc
bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học ,
văn hóa ,địa lí , lịch sử… tất cả được thể hiện trong lối văn súc tích ,hướng nội ,
mê đắm và tài hoa thì làm sao có thể hiểu và cảm nhận được hết nét đặc sắc
trong vẻ đẹp của câu từ và ý nghĩa của bài kí .
Nói tóm lại việc tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh xuất xứ của văn bản văn học
chưa phải là phần nội dung chính nhưng không phải là không quan trọng mà
trái lại nó có ý nghĩa như chiếc chìa khóa để đi vào khám phá tác phẩm. Vì thế
giáo viên cần nhắc nhở ,quán triệt học sinh về khâu đầu tiên tưởng là đơn giản
nhưng không thể bỏ qua.
Bước 2:
Bước tiếp theo là yêu cầu học sinh phải dành thời gian thỏa đáng để đọc
tác phẩm văn học trong phân môn đọc văn nhất là các văn bản văn học có nội
dung khá dài. Đối với các phân môn tiếng việt và làm văn cũng rất cần phải đọc
qua nội dung sách giáo khoa để nắm được cơ bản các khái niệm, yêu cầu nội
dung chính, bước đầu nắm và hiểu được các ngữ liệu mà sách giáo khoa đã
phân tích hoặc yêu cầu học sinh tìm câu trả lời.
Riêng với phân môn đọc văn thì vô cùng quan trọng trong khâu đọc văn
bản. Bởi nếu chưa thực sự đọc, thâm nhập tác phẩm có chiều sâu làm sao có thể
hiểu đúng và nắm cơ bản được ý nghĩa và cái hay cái đẹp mà tác phẩm văn học
mang lại cho người đọc. Vì văn học có tính hình tượng và đa nghĩa. Bản thân
tôi thường xuyên yêu cầu học sinh đặc biệt xem trọng vấn đề này trước khi đi
vào soạn bài là phải đọc kỹ, đọc chậm, đọc nhiều lần, nếu chưa đọc thậm chí là
không đọc chậm, đọc kỹ văn bản văn học hay nội dung bài học thì không có cơ
sở để soạn bài tốt được. Nhất là đối với phân môn đọc văn . Cho nên những gì
8
học sinh thể hiện trong vở soạn nếu chưa đọc kỹ tác phẩm văn học thì phần lớn
là trả lời chung chung hay sơ sài, không đạt yêu cầu để học tập có chất lượng
đối phó mà thực chất không nắm bắt và cảm nhận được gì. Điều đó là vô cùng
tác hại nhưng cũng còn tồn tại trong thực tế học tập của học sinh. Giáo viên cần
bám sát, kiểm tra và xử lý đúng mức, kịp thời để yêu cầu các em phải có ý thức
soạn bài.
Ngoài việc đọc văn bản để hiểu nội dung cơ bản ban đầu để học sinh soạn
bài là điều cần thiết đầu tiên, điều thứ hai là ngay cả việc giáo viên giảng dạy
trên lớp có những bài học quá dài cũng không thể cho học sinh đọc và giảng tất
cả các nội dung chi tiết được. Giáo viên có thể cho đọc và giảng kỹ ở những
đoạn hay và đặc sắc ,trọng tâm của các tác phẩm truyện ký và những bài thơ dài
9
. Còn lại thì thời gian trên lớp không cho phép, giáo viên cũng không thể đi hết
và giảng kĩ được v.v… Vì vậy đọc kĩ tác phẩm là điểu rất quan trọng mà học
sinh cần phải thực hiện khi soạn bài và học bài.
Bước 3
Là yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi theo phần hướng dẫn học bài ở sách
giáo khoa trong phân môn đọc văn với những câu hỏi bao quát, căn bản một
cách đầy đủ, cụ thể nhất. Nếu người học sinh có ý thức học tập tích cực, đã thực
hiện đầy đủ các bước trên thì việc trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn học
bài cũng không phải là quá khó. Có thể có những học sinh sẽ trả lời không trọn
vẹn hoặc không phải đúng chính xác như yêu cầu bởi phần hướng dẫn cũng có
những câu hỏi khó.
Tuy nhiên trả lời cơ bản các yêu cầu của câu hỏi của hướng dẫn học bài
trong phân môn đọc văn là bước đầu học sinh đã nắm cơ bản và bao quát toàn
bộ nội dung của bài học. Đó là bước thành công đầu tiên để học sinh chủ động,
tích cực và tự tin trong giờ học trên lớp. Nó khác hoàn toàn với việc học sinh
không soạn bài hay chỉ soạn lấy lệ thì hoàn toàn thấy khó hiểu, ngỡ ngàng trước
việc thầy giáo giảng về nội dung của bài học.
Đối với các phân môn như tiếng việt, làm văn thì yêu cầu nắm các khái
khuyến khích học sinh tìm thêm ngữ liệu , ví dụ và lý giải, phân tích ngữ liệu để
việc hiểu nội dung bài học thêm kĩ hơn. Và giáo viên khi giảng dạy các bài học
về tiếng việt và làm văn có thể sử dụng ngữ liệu bên ngoài không nhất thiết lúc
nào cũng bám theo sách giáo khoa. Một số bài tiếng việt ở chương trình lớp
10,11 như bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng việt , Phong cách ngôn ngữ nghệ
thuật , Thực hành về các phép tu từ : phép điệp và phép đối , Thực hành về
thành ngữ và điển cố thì sẽ có kho ngữ liệu vô cùng phong phú bên ngoài sách
giáo khoa mà giáo viên yêu cầu học sinh có thể tìm để luyện tập thêm trong
quá trình soạn bài v.v…
Ngoài các câu hỏi giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh thì giáo
viên có thể yêu cầu học sinh sưu tầm thêm các nội dung về tác giả, tác phẩm ,có
thể là những tư liệu về hình ảnh mà học sinh có thể tìm tòi và thu nhận được ở
môn đọc văn ( Có thể là một bức tranh ,bức ảnh, một đoạn videoclip.v.v..)
nhưng có thể đó là tư liệu rất thiết thực, minh họa cho tiết dạy thêm sinh động,
để nâng cao chất lượng dạy và học. Việc sưu tầm tư liệu, hình ảnh này giáo viên
có thể phân công cho nhóm, tổ.
d) Kiểm tra và xử lý việc soạn bài của học sinh.
Như trên đã trình bày về công việc soạn bài của học sinh mà giáo viên
quán triệt, yêu cầu học sinh thực hiện. Nếu mỗi học sinh đều có ý thức tự giác
cao trong học tập thì kết quả học tập sẽ được nâng lên, mọi điều sẽ trở nên tốt
đẹp. Tuy nhiên mọi hoạt động học tập của học sinh nếu như không có việc kiểm
tra thường xuyên của giáo viên thì nhiều học sinh cũng không thực hiện tốt theo
như kinh nghiệm của tôi thấy được qua một số năm học. Bởi cũng có một số
học sinh có tinh thần ý thức học tập còn thấp nên việc kiểm tra là không thể
không làm. Hơn nữa việc kiểm tra này phải thường xuyên, bất ngờ trong giờ
học mới có thể có tác dụng tác động tích cực tới ý thức của học sinh. Việc kiểm
tra sự chuẩn bị bài của học sinh có thể có nhiều cách, giáo viên có thể kiểm tra
nhanh vở soạn bài của học sinh trong đầu tiết học. Việc soạn bài có kỹ và đảm
bảo hay không được biểu hiện đầu tiên ở vở soạn. Không có vở soạn hay soạn
bài quá sơ sài, chiếu lệ là điều mà giáo viên có thể nhận thấy ngay. Đối với
cột điểm hệ số 1 để khuyến khích học sinh. Nếu học sinh soạn bài tốt, đầy đủ
sẽ được điểm cộng và ngược lại học sinh thiếu chuyên cần, soạn bài sơ sài
cũng sẽ bị điểm trừ và các biện pháp xử lý khác của giáo viên. Giáo viên cũng
có thể chấm vở soạn để lấy vào một cột điểm 15 phút .
Nói tóm lại công việc kiểm tra và xử lý học sinh trong việc chuẩn bị bài ở
nhà thì giáo viên không nên xem nhẹ. Nếu giáo viên lơ là học sinh sẽ lười
biếng, tìm nhiều cách đối phó ,dẫn đến hiệu quả rất xấu trong công tác dạy và
học và dĩ nhiên là kết quả học tập cũng đi xuống. Có thể việc kiểm tra thường
xuyên đôi khi phần nào cũng làm cho không khí giờ học có cảm giác không
được thoải mái một chút nhưng nó sẽ mang lại nhiều giá trị tích cực rõ rệt cho
việc dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
IV. Kết quả:
- Chuyên đề đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, có tác động tích
cực rất lớn đối với học sinh. Tạo được tinh thần chủ động, tự tin, hăng say phát
biểu xây dựng bài, không khí lớp học sôi động hơn trước rất nhiều.
- Số liệu thống kê phân tích ,so sánh kết quả đạt được khi thực hiện sáng
kiến kinh nghiệm so với trước khi thực hiện :
+ Trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm thì kết quả học tập của học
sinh còn thấp, thống kê ở các khối lớp 11,12 ở học kỳ, cả năm thì số lượng học
sinh dưới trung bình khá cao có lớp trên 45% học sinh dưới 5 ( tính cả kết quả
thi học kỳ và kết quả học tập cả học kỳ , năm học ). Nhưng sau khi áp dụng các
12
giải pháp của chuyên đề thì kết quả học tập của học sinh được cải thiện, khoảng
70-80% đạt kết quả điểm từ trung bình trở lên , tỷ lệ học sinh có điểm khá giỏi
tăng đáng kể. Đặc biệt tỷ lệ kết quả học sinh thi tốt nghiệp có tiến triển đáng
mừng . Qua một số năm cho thấy tỷ lệ kết quả thi tốt nghiệp bộ môn của các lớp
mà tôi giảng dạy ở một ngôi trường miền núi còn non trẻ đạt bằng tỷ lệ bộ môn
môn văn nên không khí tẻ nhạt, sự đối phó với thầy cô của học sinh là việc khá
phổ biến. Tuy nhiên làm thế nào để yêu cầu học sinh học tập thực sự có hiệu
quả, tạo được niềm tin và hứng thú, sôi nổi đối với các em trong giờ học văn đó
là mối băn khoăn và trách nhiệm của người thầy giáo. Đó chính là mục tiêu
hướng tới của người viết chuyên đề này là tìm cách để giúp đỡ học sinh tự tìm
hiểu bài học ở nhà trước khi lên lớp.
13
Vì vậy trong giới hạn của chuyên đề này người viết chỉ khiêm tốn đưa ra
một vài suy nghĩ và trải nghiệm của riêng mình trong quá trình dạy học. Có thể
xem như đây là một vấn đề nhỏ mà bản thân tôi nhận thấy và tích lũy qua thực
tiễn giảng dạy . Tuy nhiên kiến thức về văn học thì mênh mông và phương pháp
dạy học vô cùng phong phú. Do thời gian có hạn mà kiến thức thì vô hạn nên
chắc chắn chuyên đề sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định .
Người viết rất mong nhận được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến của các đồng
nghiệp, nhất là những thầy cô trong cùng bộ môn.
VIII. Tài liệu tham khảo:
- Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ngữ văn ở
trường THPT.(Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT)
- Tâm lý học và giáo dục học.(Jean Piaget) (Nhà xuất bản giáo dục)
Một số tư liệu khác
Người thực hiện
Phạm Quang Đức
14
- Có giải pháp cải tiến đổi mới từ giải pháp đã có.
2. Hiệu quả:
- Hoàn toàn mới và đã triển khai trong toàn ngành có hiệu quả cao.
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong
toàn ngành có hiệu quả.
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao.
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả.
3. Khả năng áp dụng:
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối chính sách:
Tốt
Khá
Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ
đi vào cuộc sống: