SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ PHƯƠNG
PHÁP DẠY THỂ LOẠI KỊCHMột vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 1
MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ PHƢƠNG PHÁP
DẠY THỂ LOẠI KỊCH
********
PHẦN I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Cùng với việc yêu cầu đổi mới phương pháp, Bộ giáo dục và đào tạo đã tiến
không mới song khó, hơn nữa chiếm một tỉ lệ quá khiêm tốn so với các văn bản về
thơ và văn xuôi.
- Điều kiện cơ sở vật chất của trường còn thiếu thốn.
- Tài liệu tham khảo về kịch không phổ biến, dễ kiếm như các thể loại văn học
khác.
- Kinh nghiệm thưởng thức kịch hạn chế, kĩ năng giảng dạy chưa nhiều.
2. Đối với học sinh:
- Ý thức học tập và sự yêu thích kịch chưa trở thành niềm đam mê trong học sinh.
- Ít hoặc chưa từng được trực tiếp xem biểu diễn kịch trên sân khấu.
PHẦN III: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lí luận
1. Khái niệm kịch:
1.1. Ở cấp độ loại hình:
- Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (Kịch, tự sự, trữ tình). Kịch
vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Kịch bản vừa dùng để diễn là chủ yếu lại
vừa dùng để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Theo đó, tiếp
nhận kịch bản chính là tiếp nhận phương diện của văn học kịch (tr.142). Nói đến
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 3
kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động,
cử chỉ, nét mặt, điệu bộ và bằng lời nói (riêng kịch câm không diễn tả bằng lời).
1.2. Ở cấp độ thể loại:
- “ Thuật ngữ kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học - sân khấu có vị trí
tương đương với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này, kịch còn được gọi là chính
kịch” (tr.143). Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sống riêng của con
người bình thường nhưng mục đích chính không phải là chế giễu các thói hư tật
xấu mà là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tính đối với xã hội.
Và cũng giống như bi kịch, kịch chú trọng tái hiện những mâu thuẫn gay gắt, song
động kịch thường phát triển theo hướng thuận chiều với xung đột kịch. Xung đột
càng căng thẳng thì thiên hướng hành động càng trở nên quyết liệt, vì thế sức hấp
dẫn của tác phẩm tăng lên.
- Hành động kịch không thể tự nhiên diễn ra mà phải được thực hiện bởi các nhân
vật kịch. Do sự dồn nén quy tụ những nét bản chất của hiện thực trong xung đột
cho nên nhịp điệu hành động của các nhân vật kịch thường dồn dập, gấp gáp có khi
hết sức quyết liệt, sự biểu hiện và vận động phát triển của tính cách các nhân vật
kịch có thể gây nên cảm xúc đau buồn, thương xót nhưng sự biểu hiện và vận động
phát triển của tính cách các nhân vật kịch cũng có thể làm người ta bật cười vì xấu
nhưng cố tình tỏ ra là đẹp, ti tiện làm ra vẻ vĩ đại, ngu ngốc làm ra vẻ thông thái
(Gu la ep).
2.3. Ngôn ngữ kịch: Đối thoại, độc thoại, bàng thoại
3. Các kiểu loại kịch:
Có nhiều cách phân loại kịch theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Nhưng cách phân
loại phổ biến nhất là theo tính chất của các loại hình xung đột: Bi kịch, hài kịch,
chính kịch,…
II. Nội dung và biện pháp thực hiện
1. Sự khác nhau giữa thơ, truyện, kịch
Thể loại
văn học
Thơ
Truyện
Kịch
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 5 Đặc
trƣng
tình cảm, cảm xúc):
+ Thơ ca là tấm gương
của tâm hồn, là tiếng
nói của tình cảm con
người. Đúng như ý kiến
của Lê Quý Đôn: “Thơ
phát khởi từ trong lòng
người ta”.
+ Thơ là tiếng nói mở
cửa đi ra từ trái tim và
trở về rung động trái
tim.
- Ngôn ngữ thơ rất hàm
súc, giàu hình ảnh và
- Kể lại, (miêu tả) trình
tự các sự việc, có nhân
vật
- Tập trung miêu tả
xung đột trong đời
sống. Hê-ghen
khẳng định: “ tình
thế giàu xung đột
là đối tượng ưu
tiên của nghệ thuật
kịch”. Bê-lin-xki
cũng cho rằng:
“Xung đột tạo nên
tính kịch”.
- Xung đột kịch
được cụ thể hóa
bằng hành động
kịch. Hành động
kịch được tổ chức
qua cốt truyện và
được thực hiện
bởi các nhân vật
(ngôn ngữ, hành
động…).
- Ngôn ngữ kịch
mang đặc điểm
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 6 Từ đặc trưng của kịch và sự khác nhau giữa thơ, truyện, kịch ở trên, tôi có một vài
suy nghĩ về phương pháp dạy thể loại kịch như sau:
thơ có họa)
+ Giàu nhạc điệu: Thi
trung hữu nhạc ( trong
thơ có nhạc).
Maiacốpxki cho rằng:
“Nhịp điệu là năng
lượng cơ bản của câu
thơ”.
- Xét theo nội dung
biểu hiện: thơ trữ tình,
thơ tự sự, thơ trào
phúng…
- Xét theo cách thức tổ
chức bài thơ: thơ cách
luật, thơ tự do, thơ văn
xuôi…
gần với ngôn ngữ đời
sống.
- Ở bộ phận văn học
dân gian: thần thoại,
truyền thuyết, truyện cổ
tích, truyện cười, truyện
ngụ ngôn.
- Ở văn học trung đại:
- Giáo viên chia lớp làm 4 tổ, chuẩn bị tập kịch trước một tuần.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chọn lớp kịch để diễn. (Vd : với đoạn trích Vĩnh
biệt Cửu Trùng Đài, 4 tổ nên lần lượt diễn các lớp 1,7,8,9).
- Giáo viên giới thiệu tài liệu tham khảo, băng đĩa cho học sinh, địa chỉ trên mạng
để tìm tư liệu,…
- Giáo viên phân công một học sinh trong vai trò MC đồng thời là người dẫn
chuyện, dẫn dắt để đi vào vở diễn.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh diễn kịch: Phải làm nổi bật đặc điểm, tính cách của
nhân vật, xung đột và hành động kịch qua lời thoại của từng nhân vật. Chú ý tới
giọng điệu, cử chỉ, nét mặt, điệu,bộ, từ ngữ, kiểu câu của mỗi nhân vật. Từ đó làm
rõ chủ đề tư tưởng, ý nghĩa xã hội của đoạn trích, tác phẩm.
- Học sinh diễn thử cho giáo viên xem trước, giáo viên nhận xét, góp ý, sửa chữa.
- Giáo viên phải chú ý thời gian biểu diễn của học sinh.
2.1.2. Công việc của học sinh:
- Học sinh nhận câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà từ giáo viên ( tìm hiểu và soạn trước ở
nhà).
- Tập diễn kịch theo tổ.
- Diễn thử cho giáo viên xem trước, lắng nghe góp ý.
- Chỉnh sửa theo yêu cầu của giáo viên để tốt hơn.
- Chú ý thời gian biểu diễn trên lớp.
2.2. Thực hiện trên lớp
2.2.1. Diễn kịch (10 phút):
Áp dụng cho các trích đoạn kịch được học ở chương trình Trung học phổ thông.
- Giáo viên dẫn dắt học sinh vào bài
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 8
- Gọi học sinh trình bày hiểu biết của mình về cuộc đời và tác phẩm của tác giả,
cho biết hoàn cảnh và mục đích sáng tác vở kịch, xác định vị trí và tóm tắt đoạn
6. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích!
Với đoạn trích Tình yêu và thù hận, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi:
1. Trình bày hiểu biết của em về Thời đại phục hưng, cuộc đời tác giả Sếchxpia và
vở kịch Rômêô và Giuliet (đề tài, thể loại, tóm tắt tác phẩm)!
2. Cho biết vị trí đoạn trích Tình yêu và thù hận !
3. Hình thức sáu lời thoại đầu và mười lời thoại sau của đoạn trích là gì?
Với đoạn trích Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi:
1. Trình bày những hiểu biết của em về cuộc đời của tác giả Lưu Quang Vũ!
2. Trình bày những hiểu biết của em về tác phẩm của Lưu Quang Vũ!
3. Tóm tắt vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt!
4. Cho biết vị trí đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt!
5. Khi gặp Đế Thích, hồn Trương Ba có thái độ, quyết định như thế nào?
6. Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng
thịt!
2.2.2.2. Câu hỏi giải thích, phân tích :
Giúp học sinh khám phá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm kịch. Các em có thể
trình bày hiểu biết của mình về vấn đề được đưa ra, từ đó giáo viên hướng dẫn các
em đi vào những cảm nhận đúng, sâu sắc. Loại câu hỏi này phù hợp với học sinh
trung bình và khá.
Ví dụ:
Với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 10
1. Cho biết diễn biến và kết quả của hai mâu thuẫn trong vở kịch Vũ Như Tô. Hai
mâu thuẫn này có quan hệ và tác động lẫn nhau không ?
2. Tính cách, diễn biến tâm trạng Vũ Như Tô được thể hiện như thế nào qua thái
độ, ngôn ngữ, hành động của ông ở các lớp kịch thuộc hồi V ?
3. Tính cách, diễn biến tâm trạng Đan Thiềm được thể hiện như thế nào qua thái
7. Trong lời hồn Trương Ba nói với vợ sau khi đã chết thật, cứ nhắc đi nhắc lại “
Tôi vẫn ở đây…” và qua so sánh sự thay đổi trong hai lời thoại của cái Gái, các
nhân vật đã nói hộ tư tưởng gì của Lưu Quang Vũ? Phát biểu cảm nghĩ về câu nói
của cái Gái “ cho nó mọc lên thành cây mới… mãi mãi”.
2.2.2.3. Câu hỏi bình:
Là câu hỏi mở rộng, nâng cao cảm thụ của học sinh sau khi đã phân tích giá trị nội
dung và nghệ thuật. Có thể bình một chi tiết, một nhân vật hay một khía cạnh của
văn bản kịch. Loại câu hỏi này phù hợp với học sinh khá, giỏi.
Ví dụ:
Với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi:
1. Em hãy bình về vẻ đẹp của nhân vật Vũ Như Tô trên cơ sở bài viết đã chuẩn bị
ở nhà!
2. Em hãy bình về vẻ đẹp của nhân vật Đan Thiềm trên cơ sở bài viết đã chuẩn bị
ở nhà!
3. Mâu thuẫn 2 vẫn còn là một câu hỏi để ngỏ, chưa thể giải quyết triệt để. Thử lí
giải nguyên do và nêu cách giải quyết của em! Theo em, Vũ Như Tô phải hay
những kẻ giết Vũ Như Tô phải, Vũ Như Tô có tội hay là có công?
4. Viết đoạn kết cho vở kịch Vũ Như Tô!
Với đoạn trích Tình yêu và thù hận, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi
1. Tác giả giải quyết vấn đề tình yêu và thù hận như thế nào?
2. Hãy bình về vẻ đẹp tình yêu của Rômêô và Giuliet!
Với đoạn trích Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt, giáo viên đƣa ra một số câu hỏi:
1. Có ý kiến cho rằng cái chết của cu Tị là chi tiết độc đáo có tính “mở nút”, trình
bày ý kiến của em!
2.2.3. Học nhóm, thảo luận:
Giáo viên chia lớp làm 4 nhóm, các em thảo luận một hoặc một số câu hỏi có vấn
đề mà giáo viên đã cho từ trước hoặc có thể thảo luận thêm những câu hỏi mới (
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 12
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 13
3. Giáo án thực nghiệm: Đoạn trích “VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI”
Nguyễn Huy Tƣởng
A. Mục tiêu cần đạt:
- Hiểu và phân tích được xung đột kịch, tích cách, diễn biến tâm trạng và bi kịch
của Vũ Như Tô, Đan Thiềm trong đoạn trích.
- Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật của vở kịch.
B. Tiến trình lên lớp:
- Kiểm tra bài cũ; kiểm tra việc chuẩn bị bài mới của học sinh.
- Giới thiệu dẫn nhập vào bài mới
Phƣơng pháp
Nội dung cần đạt
Giáo viên gọi một học sinh đứng dậy
trình bày những hiểu biết của mình về
cuộc đời của tác giả Nguyễn Huy
Tưởng.
Học sinh trình bày những nội dung
chính về tác giả đã chuẩn bị ở nhà, giáo
viên nhận xét, điều chỉnh lại và yêu cầu
học sinh tự ghi chép.
Giáo viên gọi học sinh khác trình bày
những hiểu biết của mình về tác phẩm
của Vũ Như Tô.
Gọi học sinh cho biết hoàn cảnh và mục
đích sáng tác vở kịch Vũ Như Tô.
Giáo viên gọi một học sinh xác định vị
trí đoạn trích.
Giáo viên gọi một học sinh trình bày
phần tóm tắt vở kịch Vũ Như Tô đã
chuẩn bị trước ở nhà. Trong khi nhận
xét, đánh giá phần trình bày của học
sinh, giáo viên nhấn mạnh hơn đến nội
dung tóm lược của đoạn trích sẽ học.
Giáo viên tổ chức cho học sinh diễn
kịch: một học sinh trong vai trò MC
đồng thời là người dẫn chuyện, dẫn dắt
để đi vào vở diễn.
Những học sinh ở 4 tổ được phân công
diễn kịch, diễn lần lượt theo trình tự
từng lớp kịch (10 phút). Khi diễn, chú ý
thể hiện tính cách nhân vật, xung đột,
hành động kịch và bài học giáo dục
được rút ra.
Học sinh còn lại thưởng thức và nhận
xét. Kết thúc, giáo viên nhận xét, đánh
giá cho điểm, tuyên dương cá nhân và tổ
diễn tốt.
Giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào tìm
cao vai trò của người nghệ sĩ trong sáng
tác nghệ thuật. Tác phẩm lúc đầu 3 hồi,
sau tác giả viết tiếp thành 5 hồi.
4. Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng
Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo
luận (chia lớp làm 4 nhóm, thảo luận
trong 3 phút).
Nhóm 1: Cho biết các mâu thuẫn cơ bản
của vở kịch Vũ Như Tô, diễn biến và
kết quả. Hai mâu thuẫn này có quan hệ
và tác động lẫn nhau không ?
Vũ Như Tô mang hoài bão “tranh tinh
xảo với hóa công”, rất tin vào tài năng
xuất chúng của mình. Ông đã không
đếm xỉa đến nỗi khốn khổ của dân
chúng. Ông trở thành kẻ đối địch của
họ. Ở hồi V, dân chúng tập trung tập
trung sự căm phẫn vào Vũ Như Tô, Đan
Thiềm hơn là việc tiêu diệt bạo chúa Lê
Tương Dực. Xung đột kịch mỗi lúc một căng thẳng,
gay gắt thể hiện qua thái độ, ngôn ngữ,
hành động của mỗi nhân vật.
Nhóm 2: Tính cách, diễn biến tâm trạng
Vũ Như Tô được thể hiện như thế nào
qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của
ông ở các lớp kịch thuộc hồi V?
binh biến, bạo
loạn, hết lời
- Không trốn,
tin mình
“quang minh
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 16
Gọi một học sinh khá, giỏi của lớp bình
nhân vật Vũ Như Tô trên cơ sở bài viết
đã chuẩn bị ở nhà. Giáo viên nhận xét,
bổ sung.
Nhóm 3: Tính cách, diễn biến tâm trạng
Đan Thiềm được thể hiện như thế nào
qua thái độ, ngôn ngữ, hành động của bà
ở các lớp kịch thuộc hồi V?
Lớp
6
Lớp
7
khuyên Vũ Như
Tô đi trốn (8
lần).
- Lo lắng hơn
cho Vũ Như Tô,
tha thiết khuyên
thậm chí giục
giã Vũ Như Tô
trốn đi “Ông
trốn đi, mau lên,
khổ lắm”.
- Lời lẽ khuyên
Vũ Như Tô mỗi
lúc một thiết
tha, khẩn khoản
hơn-> mức độ
yêu cầu càng
lúc càng tăng,
chắp tay lạy,
van xin Vũ Như
- Giận dữ
trước thái độ,
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 17
Gọi một học sinh khá, giỏi của lớp bình
nhân vật Đan Thiềm trên cơ sở bài viết
đã chuẩn bị ở nhà. Giáo viên nhận xét,
bổ sung.
9
để cứu Vũ Như
Tô, khi biết
không thể cứu
nổi Vũ Như Tô
buông lời vĩnh
biệt: “ Ông Cả!
Đài lớn tan
tành! Ông Cả
ơi! Xin cùng
ông vĩnh biệt”
dạy thể loại kịch
Trang 18
Nhóm 4: Em có nhận xét gì về cách giải
kiến trúc sư
thiên tài, là
hiện thân cho
niềm khát
khao, say mê
sáng tạo cái
đẹp.
Là một nghệ
sĩ có nhân
cách lớn,
hoài bão lớn
và có lí
tưởng nghệ
thuật cao cả
song lại lầm
lạc trong suy
nghĩ và hành
động. 3. Quan điểm nghệ thuật của tác giả:
- Mâu thuẫn 1: giải quyết dứt khoát
theo quan điểm của nhân dân: Những kẻ
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 19
ngỏ, chưa thể giải quyết triệt để. Thử lí
giải nguyên do và nêu cách giải quyết
của em! Theo em, Vũ Như Tô phải hay
- Các lớp kịch được chuyển linh hoạt, tự
nhiên, liền mạch.
III. Tổng kết: SGK
C. Củng cố:
1. Trình bày tổng quát về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích! (Học sinh tham
khảo phần ghi nhớ trong sách giáo khoa để trả lời).
2. Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài có ý nghĩa như thế nào?
Đặt ra vấn đề sâu sắc có ý nghĩa muôn thuở về cái đẹp, về mối quan hệ giữa người
nghệ sĩ và nhân dân, đồng thời tác giả cũng bày tỏ niềm cảm thông, trân trọng đối
với người nghệ sĩ tài năng, giàu khát vọng nhưng rơi vào bi kịch.
3. Viết đoạn kết cho vở kịch Vũ Như Tô.
D. Dặn dò: Học sinh học bài, chuẩn bị bài thực hành về sử dụng một số kiểu câu
trong văn bản.
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 20
4. Giáo án thực nghiệm: Đoạn trích “HỒN TRƢƠNG BA, DA HÀNG THỊT”
Lƣu Quang Vũ
A. Mục tiêu cần đạt:
- Hiểu được bi kịch của Trương Ba khi tâm hồn thanh cao phải nấp trong thân xác
anh hàng thịt thô thiển và lí giải mong ước được giải thoát của nhân vật này; ý
nghĩa phê phán, chiều sâu tư tưởng nhân văn của vở kịch.
- Thấy được những đặc sắc của kịch Lưu Quang Vũ qua đoạn trích cụ thể.
B. Tiến trình lên lớp:
- Kiểm tra bài cũ; kiểm tra việc chuẩn bị bài mới của học sinh.
- Giới thiệu dẫn nhập vào bài mới
Phƣơng pháp
Nội dung cần đạt
- Là một trong những vở kịch đặc sắc
nhất của Lưu Quang Vũ, đã công
diễn nhiều lần trong và ngoài nước.
- Từ một cốt truyện dân gian, Lưu
Quang Vũ đã xây dựng thành một vở
kịch nói hiện đại, đặt ra nhiều vấn đề
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 21
phần trình bày của học sinh, giáo viên
nhấn mạnh hơn đến nội dung tóm lược
của đoạn trích sẽ học. Giáo viên tổ chức cho học sinh diễn
kịch: một học sinh trong vai trò MC
đồng thời là người dẫn chuyện, dẫn dắt
để đi vào vở diễn.
Những học sinh ở 4 tổ được phân công
diễn kịch, diễn lần lượt theo trình tự mỗi
tổ (10 phút). Khi diễn, chú ý thể hiện
tính cách nhân vật, xung đột, hành động
kịch và bài học giáo dục được rút ra.
Học sinh còn lại thưởng thức và nhận
xét. Kết thúc, giáo viên nhận xét, đánh
giá cho điểm, tuyên dương cá nhân và tổ
diễn tốt.
Giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào tìm
hiểu tiếp bài học.
1. Cuộc đối thoại giữa hồn Trƣơng Ba
và xác hàng thịt
Phương diện
Hồn Trương
Ba
Xác hàng thịt
Mục đích
Phủ định sự lệ
thuộc của linh
hồn vào xác
thịt, coi xác thịt
chỉ là cái vỏ bề
ngoài, không có
Khẳng định sự
âm u, đui mù
của thể xác có
sức mạnh điều
khiển, làm át đi
linh hồn cao
Một vài suy nghĩ về phƣơng pháp GV: Nguyễn Thị Phƣơng Lan
dạy thể loại kịch
Trang 22
của hai nhân vật? Cảm nhận ban đầu về
lời thoại của nhân vật Hồn, Xác từ đó
nhận xét về nghệ thuật tạo xung đột của
kịch Lưu Quang Vũ?
Gv kẻ bảng, học sinh điền vào nội dung
sau khi thảo luận.
Gv hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa
- Khinh bỉ ta,
mày.
- Bất lực ôm
đầu, bịt tai lại,
tuyệt vọng.
- Ngang hàng
ông, tôi
- Ngạo nghễ lắc
đầu, buồn rầu,
thì thầm, an ủi.
Vị thế
Người thua
cuộc đau khổ,
đuối lí, kháng
cự yếu ớt, chấp
nhận nhập lại
xác hàng thịt.
Kẻ thắng thế ve
vãn, phản biện
giảo hoạt, buộc
được linh hồn
quay về thể xác.
- Ýnghĩa ẩn dụ:
+ Xác hàng thịt: ẩn dụ về thể xác của
con người với những thói xấu thô lỗ,
phàm tục.
+ Hồn Trương Ba: ẩn dụ về linh hồn của
con người nhân hậu, thanh cao.
+ Cuộc đối thoại giữa Xác và Hồn cho
thấy nghịch cảnh của linh hồn Trương
nghĩa ẩn dụ thể hiện qua cuộc đối thoại
giữa hồn Trương Ba và người thân? Qua
lời nói, hành động của hồn Trương Ba
và lời nói của người thân, trình bày suy
nghĩ về sự phát triển của xung đột kịch.
Gv định hướng cho học sinh trả lời các
câu hỏi. Gv kẻ bảng, học sinh điền vào
nội dung sau khi thảo luận theo định
hướng của gv.
Gv hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa
ẩn dụ qua thái độ xa lánh của người
thân; tâm trạng đau đớn, bế tắc của
dẳng giữa hai mặt tồn tại của con người,
từ đó nói lên khát vọng hướng thiện của
con người và tầm quan trọng trong việc
tự ý thức, tự chiến thắng bản thân.
- Nghệ thuật tạo xung đột kịch: tăng
cấp, tạo mâu thuẫn: Hồn >< Xác.
2. Cuộc đối thoại giữa hồn Trƣơng Ba
với những ngƣời thân:
Mối quan hệ
Người thân
Hồn Trương
Ba
Vợ
Buồn bã, đau
khổ, muốn chết,
muốn bỏ đi
Đau đớn, bế tắc
Trương Ba; độc thoại nội tâm của
Trương Ba; sự phát triển của xung đột
kịch
Nhóm 3: Khi gặp Đế Thích, hồn
Trương Ba có thái độ, quyết định như
thế nào? Đế Thích có quan niệm về sự
sống khác với hồn Trương Ba ra sao?
Trương Ba đã chỉ ra sai lầm nào của Đế
Thích? Đế Thích định tiếp tục sửa sai
bằng cách nào? Khi Trương Ba kiên
quyết đòi trả xác cho hàng thịt, Đế
Thích định cho hồn Trương Ba nhập vào
cu Tị, Trương Ba đã từ chối. Vì sao? Có
ý kiến cho rằng cái chết của cu Tị là chi
tiết độc đáo có tính “mở nút”, trình bày
ý kiến của em! Phân tích ý nghĩa ẩn dụ
thể hiện qua cuộc đối thoại giữa hồn
Trương Ba và Đế Thích!
Gv định hướng cho học sinh trả lời các
câu hỏi. Gv kẻ bảng, học sinh điền vào
nội dung sau khi thảo luận theo định
hướng của gv.
Gv hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa
ẩn dụ thể hiện qua quan niệm về sự sống
của Đế Thích, hồn Trương Ba.
Nhóm 4: Trong lời hồn Trương Ba nói
với vợ sau khi đã chết thật, cứ nhắc đi
nhắc lại “ Tôi vẫn ở đây…” và qua so
sánh sự thay đổi trong hai lời thoại của
tục, bảo vệ quyền được sống đích thực
cùng khát vọng hoàn thiện nhân cách.
4. Ý nghĩa ẩn dụ của đoạn kết?
- Sự bất tử của con người nằm trong ý
nghĩa sự sống và sự hóa thân vào cuộc