BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Y Linh
CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
TRUNG BÌNH, YẾU HỌC TỐT
MÔN HÓA HỌC LỚP 11 BAN CƠ BẢN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ HUY HẢI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Y Linh
CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH
TRUNG BÌNH, YẾU HỌC TỐT
MÔN HÓA HỌC LỚP 11 BAN CƠ BẢN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60 14 10
Bảng 1.1.Các luận văn nghiên cứu về học sinh trung bình, yếu trường ĐHSP TPHCM
.....................................................................................................................................5
Bảng 1.2. Phân phối chương trình môn hóa học lớp 11 ..............................................8
Bảng 1.3. Điều tra nguyên nhân học yếu của học sinh .............................................12
Bảng 1.4. Tỉ lệ học sinh trung bình, yếu của một số trường phổ thông .................. 21
Bảng 2.1. Giải thích các loại IQ ..............................................................................26
Bảng 2.2. Quan điểm của học sinh đối với game online .........................................33
Bảng 2.3. Sự tham gia của học sinh THPT vào hoạt động chơi game online ..........34
Bảng 2.4. Mẫu danh sách học sinh phụ đạo .................................................................................. 35
Bảng 2.5. Các phương án ra bài tập so sánh khó dần .............................................49
Bảng 3.1. Các cặp lớp TN – ĐC .............................................................................123
Bảng 3.2. Phân phối kết quả kiểm tra bài “Luyện tập Ancol – phenol” (bài 42) ...125
Bảng 3.3. Phân phối tần số lũy tích lớp bài 42........................................................125
Bảng 3.4. Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A4, 11A5 ...........................................127
Bảng 3.5. Phân phối kết quả kiểm tra và phân phối tần số lũy tích lớp 11A1, 11A3 127
Bảng 3.6. Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A1, 11A3 ..........................................128
Bảng 3.7. Phân phối kết quả kiểm tra và phân phối tần số lũy tích lớp 11A1, 11A5 128
Bảng 3.8. Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A1, 11A5 ..........................................129
Bảng 3.9. Phân phối kết quả kiểm tra và phân phối tần số lũy tích lớp 11A4, 11A5 129
Bảng 3.10. Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A4, 11A5 .........................................130
Bảng 3.11. Phân phối kết quả kiểm tra và tần số lũy tích lớp 11A2, 11A3 ...........131
Bảng 3.12. Phân loại kết quả kiểm tra lớp 11A2, 11A3 ....................................... 132
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc hoạt động dạy học ........................................................... 7
Hình 2.1. Tỉ lệ nghiện game theo các độ tuổi ................................................................................ 32
ĐC
Đối chứng
ĐDDH
Đồ dùng dạy học
ĐN
Định nghĩa
GDĐT
Giáo dục đào tạo
GV
Giáo viên
HCHC
Hợp chất hữu cơ
HS
Học sinh
M
TCVL
Tính chất vật lí
Td
Tác dụng
THPT
Trung học phổ thông
To s
Nhiệt độ sôi
TN
Thực nghiệm
VD
Ví dụ
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 3
DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................................... 4
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................... 5
8.
Những đóng góp mới của đề tài................................................................................11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ....................... 12
1.1.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .......................................................12
1.2.
QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ......................................................................................13
1.3.
TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HÓA HỌC LỚP 11 ......................15
1.4.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỌC SINH YẾU MÔN HOÁ HỌC THPT ....................16
1.5.
THỰC TRẠNG VỀ HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA Ở TRƯỜNG
PHỔ THÔNG .....................................................................................................................27
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU HỌC
TỐT MÔN HÓA ........................................................................................................ 30
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH TRUNG
BÌNH, YẾU MÔN HÓA....................................................................................................30
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 130
1.
Kết luận ...................................................................................................................130
2.
Kiến nghị.................................................................................................................131
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 134
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 137
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học (đặc biệt là ngành công nghệ thông tin)
là nhu cầu phải thường xuyên nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục; và trong những
giai đoạn cần thiết là cải cách giáo dục.
Chính vì vậy mà ngày nay học sinh, sinh viên ngày càng năng động hơn, sáng tạo
hơn. Song, bên cạnh đó vẫn tồn tại một lượng đáng kể học sinh trung bình, yếu trong hầu
hết các trường học của hệ thống giáo dục nước nhà.
Tuy nhiên, đối tượng học sinh này gần như bị “bỏ quên” hoặc được quan tâm chưa
đúng mức, có rất ít sách vở, tài liệu đề cập đến.
Để hạ thấp dần tỉ lệ học sinh trung bình, yếu đòi hỏi người giáo viên không chỉ phải
biết dạy, biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh mà còn phải có
nhiệt huyết và lòng yêu nghề, yêu người.
Vấn đề nêu trên là không dễ đối với giáo viên nhưng nếu giải quyết được điều này sẽ
đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện và góp phần xây dựng trong bản
thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho học sinh có
BRVT.
- Thời gian nghiên cứu: từ 08/2010 đến 10/2011.
6. Giả thuyết khoa hoc
Nếu đề xuất được những biện pháp khoa học thích hợp với điều kiện thực tế thì sẽ
góp phần nâng cao kết quả dạy- học môn hóa học lớp 11 trung học phổ thông.
7. Phương pháp nghiên cứu
• Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu chương trình hóa học lớp 11.
- Truy cập thông tin trên internet.
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan.
• Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng dạy, học của học sinh yếu hóa học lớp 11.
- Phương pháp chuyên gia: trao đổi, rút kinh nghiệm với các thầy cô, bạn bè.
- Thực nghiệm sư phạm.
• Các phương pháp toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lí kết quả điều tra và thực nghiệm sư phạm.
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng được phần mềm game hóa học.
- Tập hợp hệ thống bài tập nâng dần độ khó của hai chương “Dẫn xuất halogen –
Ancol – Phenol” và “Anđehit –Axit cacboxylic”.
- Thiết kế được vở ghi bài của chương “Dẫn xuất halogen – Ancol – Phenol” và
“Anđehit –Axit cacboxylic”.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
trưởng
Nguyễn
Thiện
Nhân,
trên
trang
web
có bài “Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân trả lời chất vất tại
Quốc hội” về vấn đề học sinh yếu kém.
Riêng đối với trường Đại học Sư phạm TP.HCM, số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về
học sinh trung bình, yếu cũng bắt đầu nhiều hơn trước. Sau đây là danh sách các đề tài liên
quan đến đối tượng học sinh trung bình, yếu.
Bảng 1.1.Các luận văn nghiên cứu về học sinh trung bình, yếu ĐHSP TPHCM
Người thực hiện
Tên đề tài
Đặng Thị Duyên
(K19)
Những biện pháp bồi dưỡng học sinh yếu môn hóa lớp 10
THPT
Lê Thị Phương
Thúy (K18)
Xây dựng hệ thống bài tập hóa hữu cơ 12 nhằm rèn luyện
kĩ năng giải bài tập cho học sinh yếu môn hóa ở trường
THPT
Cho đến thời điểm này, các đề tài trên chưa được công bố. Trong các đề tài nghiên cứu về
học sinh trung bình, yếu đã được công bố (như khóa luận tốt nghiệp của Trần Đức Hạ Uyên,
…), khá nhiều phương pháp được đề xuất nhưng phạm vi thực nghiệm các phương pháp ấy
chưa rộng, cũng như chưa nêu rõ cách thực hiện cụ thể của mỗi phương pháp.
Trong luận văn này, em đã cố gắng thực hiện tốt hai hạn chế vừa nêu trên và tập
trung nghiên cứu phương pháp dạy học bằng game giáo dục – một phương pháp đang được
Bộ Giáo dục & Đào tạo khuyến khích.
1.2.
QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1.2.1. Khái niệm về quá trình dạy học [1, tr.11]
Quá trình dạy học là hệ thống những hành động của GV và HS, dưới sự hướng dẫn
của GV, HS tự giác nắm vững những hệ thống cơ sở khoa học, phát triển được năng lực
nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và phẩm chất nhân cách.
Dạy và học là một hoạt động kép bao gồm dạy (do thầy đảm nhận) và học (do trò
đảm nhận) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy và học. GV giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều
+ Các khái niệm hóa học cơ bản và ngôn ngữ hóa học.
+ Hệ thống kiến thức về cấu tạo chất.
+ Hệ thống kiến thức về phản ứng hóa học.
+ Các định luật hóa học cơ bản.
+ Kiến thức về dung dịch và các quá trình xảy ra trong dung dịch.
+ Kiến thức về sự phân loại các chất và các chất cụ thể.
+ Trang bị cho HS những kiến thức kỹ thuật tổng hợp.
− Hệ thống các kĩ năng cơ bản về hóa học:
+ Kĩ năng tiến hành thí nghiệm.
+ Kĩ năng vận dụng kiến thức.
+ Kĩ năng phân tích, tổng hợp.
+ Kĩ năng giải bài tập.
− Hình thành cho các em phương pháp nghiên cứu khoa học.
Nhiệm vụ đức dục của môn hóa học là phát triển năng lực nhận thức, góp phần
giáo dục tư tưởng, đạo đức, thế giới quan cho HS.
− Giúp HS hình thành thế giới quan.
− Nâng cao nhận thức của HS về vai trò, nhiệm vụ của hóa học.
− Góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, lao động.
1.3.
TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH MÔN HÓA HỌC LỚP 11
Chương trình môn hóa học lớp 11 THPT bao gồm những nội dung cơ bản của môn
hóa học. Chương trình gồm hai phần: vô cơ và hữu cơ. Phần hóa vô cơ gồm các kiến thức
trọng tâm: thuyết điện li, nhóm nitơ-photpho, nhóm cacbon-silic. Phần hóa hữu cơ học sinh
sẽ được học những những kiến thức mở đầu và nền tảng nhất của hóa học hữu cơ.
Chương trình chuẩn môn hóa học lớp 11 THPT gồm 70 tiết phân bố học trong 35 tuần
( 2 tiết/tuần).
1
0
0
Tổng
7
11
5
6
5
6
7
8
9
1.4.
Hiđrocacbon no
Hidrocacbon không no
Hiđrocacbon thơm. Nguồn
hiđrocacbon thiên nhiên
Dẫn xuất halogen - AncolPhenol
Anđehit - Xeton - Axit
cacboxylic
Ôn tập đầu năm, học kì,
cuối năm
Kiểm tra
Tổng
7
5
41
12
6
6
70
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỌC SINH YẾU MÔN HOÁ HỌC THPT
1.4.1. Khái niệm học sinh yếu
Theo Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ
thông, ban hành kèm theo Quyết định số: 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định [14 ]:
Điều 13. Tiêu chuẩn xếp loại học kỳ và xếp loại cả năm
1. Loại giỏi, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT
chuyên thì điểm môn chuyên từ 8,0 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên
thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 8,0 trở lên;
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6,5.
2. Loại khá, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT
chuyên thì điểm môn chuyên từ 6,5 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên
thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên.
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 5,0.
- Hay rụt rè, nhút nhát.
- Ít khi giơ tay phát biểu,
- Khả năng diễn đạt kém.
- Kiểm tra thường điểm số thấp so với các bạn trong lớp.
- Kết quả học tập cuối năm yếu.
1.4.3. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém môn hóa
Tình trạng học sinh trung bình, yếu đã và đang tồn tại ở hầu hết các trường học, từ
nông thôn đến thành thị, từ trường dân lập đến trường công lập.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinhyếu kém,sau đây em xin phân
tích một số nguyên nhân chính, để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục
khó khăngiúp học sinh vươn lên trong học tập.
Theo như cuộc điều tra thăm dò ý kiến của 399 học sinh của tám trường trung học
phổ thông (gồm các trường của thành thị và nông thôn, trường công lập và dân lập) là:
trường THPT Dân lập Ngôi Sao (quận Bình Tân, TP.HCM), THPH Châu Thành (tỉnh BRVT), THPT Hắc Dịch (tỉnh BR-VT), THPT Trần Phú (quận Tân Phú, TPHCM), Tạ Quang
Bửu (TPHCM), Nguyễn Công Trứ (TPHCM), Trường Chinh (TPHCM), Đa Phước (huyện
Bình Chánh),các em tự nhận xét thì nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng học yếu là do:
HS lười học, mất căn bản từ lớp dưới, không có mục đích học tập và do phương pháp dạy
của giáo viên không phù hợp. Sau đây là kết quả cụ thể của cuộc điều tra.
Bảng 1.3. Điều tra nguyên nhân học yếu của học sinh
Câu hỏi
Các lựa chọn
1. Em có thích học môn hóa không?
Thích
Bình thường
Không thích
219
83
0
205
146
24.3
54.9
20.8
0
51.4
36.6
48
22.0
24.8
39.8
35.4
66
34
5. Công việc nào chiếm nhiều thời
gian của em nhất ?
6. Theo em, nguyên nhân nào làm
học sinh học yếu?(xếp theo thứ tự ưu
tiên)
8
26.31
30.58
17.29
17.79
3.00
86.717
0.008
3.008
7.519
2.748
Tôi xin chia các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học yếu của học sinh thành bốn
nhóm chính sau: nguyên nhân về yếu tố con người, nguyên nhân về phương pháp, nguyên
nhân về tài liệu học tập, và một số nguyên nhân khác (như hoàn cảnh gia đình, bạn bè rủ rê
…).
Chúng ta sẽ lần lượt phân tích bốn nhóm nguyên nhân trên.
1.4.3.1. Con người
a. Học sinh
Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân họcsinh yếu
kém có thể kể đến là do cá nhân học sinh trong đó có thể kể đến một sốnguyên nhân sau.
- HS lười học: theo kết quả điều tra, 100% học sinh cho rằngnguyên nhân học yếu là
do học sinh lười học và mất căn bản từ lớp dưới. Qua quá trình giảng dạy, emcũng nhận
thấy rằng đa số các họcsinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý
chuyên tâm vàoviệc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì
cặpsách đến trường, nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớpthì
không chép bài vì lí do là không có đem tập học của môn đó.
Một số học sinh đi học thất thường, ham chơi, la cà quán xá, tiệm internet.
- Học sinh bị hỏng kiến thức từ lớp dưới: Đây là một điều không thể phủnhận, với
sinh yếu kém thì chưa hiệu quả, hoặc ngược lại. Bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên chưa
thật tâm huyết với nghề, chỉ rập khuôn theo một khuôn mẫu nhất định mà chưa chú ý quan
tâm đến các đối tượng học sinh. Chưa tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích thích
tính tích cực chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh của học
sinh, có khi học sinh hỏi một vấn đề gì đó thì giáo viên lại tỏ ra khó chịu hay trả lời với thái
độ cọc cằn làm cho học sinh không còn dám hỏi khi có điều gì chưa rõ, thậm chí còn làm
các em thui chột tinh thần học tập.
Chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực hay sáng tạo
dù là rất nhỏ. Chưa quan tâm đến tất cả HS trong lớp, GV chỉ chú trọng vào các em HS khá,
giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp. Vì vậy chưa theo dõi sát xao và xử lý kịp thời
các biểu hiện sa sút của học sinh.
Một số giáo viên không làm tròn trách niệm trong việc kiểm tra đánh giá học sinh,
cho học sinh lên lớp khi các em chưa đủ chuẩn, hậu quả là các em phải gánh chịu khi học
lên lớp trên.
Một số GV còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, chưa nắm chắc chuẩn kiến thức
cần đánh giá nên nhiều lúc yêu cầu quá cao so với chuẩn, chưa đầu tư cho việc ra đề kiểm
tra, chỉ dạy tốt những giờ thao giảng.
Việc dạy cho học sinh tự học hình như ít thực hiện, chỉ lo dạy hết nội dung đã qui
định, lo cháy giáo án. Một số giáo viên còn lệ thuộc vào sách tham khảo, coi đây là "sách
gối đầu giường". Khi giảng bài trên lớp còn phụ thuộc quá nhiều vào SGK, giáo án, ít khi
xuống gần học sinh, giọng nói một số giáo viên còn hạn chế.
Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây hứng
thú cho học sinh thích học môn mình...Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm huyết
với nghề, chưa thật sự “giúp đỡ” các em thoát khỏi yếu kém. Từ đó các em cam chịu, dần
dần chấp nhận với sự yếu kém của chính mình và nhục chí không tự vươn lên...
1.4.3.2. Nguyên nhân về phương pháp
a. Phương pháp dạy của giáo viên
Còn một số GV chưa nắm chắc những yêu cầu kiến thức của từng bài dạy. Việc dạy
chép vào vở, về nhà lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì.
Thì giờ học thêm quá nhiều, học sinh không "tiêu hóa" hết, sinh ra uể oải, nhàm
chán. Bên cạnh đó, cũng có những học sinh yếu không chịu đi học phụ đạo.
1.4.3.3. Nguyên nhân về tài liệu học tập
Ngày nay, thị trường sách rất đa dạng. Sách tham khảo được bày bán ở khắp các nhà
sách, từ thành thị đến nông thôn. Nhưng để ý, chúng ta sẽ thấy hầu hết các sách đều ghi:
dành cho học sinh giỏi, học sinh luyện thi vào các trường chuyên, hay dành cho học sinh
luyện thi đại học-cao đẳng….mà không có sách nào ghi dành cho học sinh trung bình,
yếu. Thật sự là chưa có một chương trình, giáo án nào có sẵn cho riêng đối tượng này.
Chính điều này gây cản trở lớn cho học sinh yếu, nhất là các em bị mất căn bản từ lớp dưới,
khi muốn học cũng không biết bắt đầu từ đâu, học kiến thức nào trước và ở trong sách nào?
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân băn khoăn rằng, “lâu nay chúng ta chưa chú
trọng lắm tới phương pháp bồi dưỡng cho học sinh yếu kém. Cụ thể như số tài liệu, giáo
trình giảng dạy cho đối tượng học sinh này còn rất khiêm tốn. Nên chăng, các tỉnh tự nghiên
cứu, biên soạn tài liệu, Bộ GD-ĐT sẽ tuyển chọn, tập hợp thành tài liệu chung nhất, phổ
biến cho cả nước”...
Trong khi chờ đợi một giải pháp vĩ mô, mỗi trường nên tự thống nhất nội dung phụ
đạo cho học sinh trung bình, yếu rồi soạn thành tài liệu phát cho học sinh.
Ví dụ đối với học sinh yếu khối 10, khối 11, cần được trang bị những kiến thức nền tảng mà
các em hỏng, mất căn bản bộ môn, đối với học sinh lớp 12 thì phải bù đắp thật đầy đủ về
kiến thức hổng mà còn phương pháp… để chuẩn bị cho các kỳ thi quan trọng.
1.4.3.4. Các nguyên nhân khác
a. Gia đình
• Gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn
Từ những khó khăn về đời sống kinh tế, cha mẹ phải lao động vất vả, không quan
tâm đến việc học tập của con em, phó mặc cho nhà trường, có gia đình buộc con cái phải lao
động, làm cho các em không có thời gian học tập ở nhà như soạn bài, học bài cũ, do đó khi
đến lớp việc tiếp thu bài mới rất khó khăn, không làm được bài kiểm tra, lo lắng sợ sệt khi
loa, chưa triển khai tốt các chuyên đề để phục vụ nâng cao chất lượng dạy và học. Đánh giá
xếp loại đội ngũ đôi khi mang tính hình thức, chưa thực chất.
Kế hoạch phụ đạo học sinh trung bình, yếu còn chậm.
c. Địa phương và các lực lượng xã hội
Chưa có chương trình, kế hoạch cụ thể để tham gia giáo dục học sinh ở địa phương.
Xã hội phát triển là điều đáng mừng, nhưng khi phát triển theo cơ chế thị trường nó
kéo theo một bộ phận không lành mạnh khác như dịch vụ giải trí không lành mạnh, phim
ảnh bạo lực, …
Hiện nay, do sự quản lí không chặt chẽ của nhà nước, các dịch vụ bida, internet,
karaokê … được tổ chức gần trường học, lôi cuốn, hấp dẫn các em vào các trò chơi vô bổ.
Các em lao vào các trò chơi đó dẫn đến bỏ giờ trốn học và những vi phạm khác. Đồng thời
các kênh truyền hình chiếu một số bộ phim có mang những hình ảnh bạo lực làm cho các
em dễ dàng bắt chước.
Nhiều biểu hiện tiêu cực trong xã hội, nhiều thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, sống
thiếu lành mạnh vẫn chưa được xử lý đúng mức làm tác động xấu đến quá trình học tập và
rèn luyện của các em. Nhiều quán xá còn lợi dụng học sinh để kinh doanh.
Kết quả của cuộc trò chuyện thăm dò ý kiến về nguyên nhân khiến học sinh học
yếu của một số giáo viên và học sinh [30,tr.34]
a. Học sinh
1) Trần Thị Hồng Nghĩa (lớp 11A11 trường Nguyễn Thị Minh Khai)
- Thầy cô dạy buồn chán,không gây hứng thú, vui vẻ cho lớp học nên em không thích học
môn hóa.
- Bài tập hóa khó quá, em nản em không làm.
- Em không có thời gian để học. Khi trên lớp có tiết hóa em mới lấy bài ra coi sơ sơ, về nhà
hầu như không học.
2) Lâm Thị Mỹ Khanh (Lớp 11a11 Trường Nguyễn Thị Minh Khai)
- Thầy cô giảng bài em không hiểu.
- Em rất ít làm bài tập.