quan hệ kinh tế việt nam hàn quốc (1992 2010) - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đoàn Văn Mao

QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
(1992 -2010)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Tp. Hồ Chí Minh, năm 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đoàn Văn Mao

QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
(1992 -2010)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: LSVN-08-006

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ HUỲNH HOA

Tp. Hồ Chí Minh, năm 2011


LỜI CẢM ƠN

1.3.3 Sơ lược quan hệ Việt- Hàn giai đoạn từ sau 1954 đến 1975 ................... 30
1.3.4 Quan hệ Việt – Hàn giai đoạn 1975 đến năm 1992 .................................. 31
1.3.5 Quan hệ bang giao năm 1992 - Nhân tố quan trọng thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt –
Hàn .......................................................................................................... 32
Chương II: QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HÀN QUỐC (1992-2010)
2.1. Những khái niệm liên quan đến quan hệ kinh tế quốc tế và tiềm năng hợp tác kinh tế
Việt – Hàn ........................................................................................................ 35
2.1.1. Những khái niệm liên quan hệ kinh tế quốc tế và tính tất yếu của quan hệ kinh tế
quốc tế ..................................................................................................... 35
2.1.2. Tiềm năng hợp tác từ phía Việt Nam ...................................................... 36
2.1.3. Tiềm năng hợp tác từ phía Hàn Quốc ...................................................... 38
2.2. Quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc (1992-2010) .............................. 39
2.2.1. Khái quát chung quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc trước khi hai nước
chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao (1983 - 1992) ............. 39
2.2.2. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Hàn Quốc ( 1992-2010 ) .......... 41


2.2.3. Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc (1992-2010) ..... 44
2.3.1. Mặt tích cực ............................................................................................ 53
2.3.2. Mặt hạn chế .............................................................................................. 54
2. 4. Quan hệ đầu tư Việt – Hàn (1992-2010 ) ......................................................... 56
2.4.1. Đầu tư của Việt Nam vào Hàn Quốc (1992-2010 ) ................................. 56
2.4.2. Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam (1992-2010) ................................. 58
2.4.3. Đánh giá chung về quan hệ đầu tư Việt –Hàn ( 1992-2010 ) ................. 64
Chương III: TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP ...................................................... 67
3.1. Triển vọng và định hướng của quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc ............ 67
3.1.1. Triển vọng của quan hệ kinh Việt Nam – Hàn Quốc .............................. 67
3.1.2. Định hướng phát triển cho quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc ........ 74
3. 2. Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc................. 76
3.2.1. Giải pháp về chính trị .............................................................................. 76

Bảng 2.12 : Nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc (1998-2003) .............................64
Bảng 2.13 : Nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc (2004-2010) .............................64
Bảng 2.14 : Một số thị trường nhập khẩu của Hàn Quốc năm 2010 ........................65
Bảng 2.15: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1989 - 2009

phân

theo đối tác đầu tư chủ yếu ........................................................................................67
Bảng 2.16: Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam ( 1991- 2003)

.........................68

Bảng 2.17 : Một số dự án hàng đầu của Hàn Quốc tại Việt Nam (1992-2005) ......69
Bảng 2.18:Đầu tư của một số nước vào Việt Nam được cấp giấy phép phân theo đối tác đầu
tư chủ yếu.................................................................................................................. 70
Bảng 2.19 : Cơ cấu đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam theo ngành kinh tế.............71
Bảng 2.20: Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam phân theo ngành 90 .....................72
Bảng 2.21 : Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam phân theo địa phương .................73
Bảng 3.1: Một số dự án đầu tư lớn của Hàn Quốc tại Việt Nam ..............................83
Bảng 3.2:Một số hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc .............90


Bảng 3.3 : Tiềm năng thủy sản nước mặn của Việt Nam .........................................91
Bảng 3.4: Các nước nhập khẩu thủy sản chính trên thế giới....................................92
Bảng 3.5: Thị trường xuất khẩu cao su Việt Nam 2006 ...........................................92
Bảng 3.6 : Một số hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc .......97

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 : Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc ( 2004-2010) ....79
Biểu đồ 3.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc ( 2004-2010) ....80

Sau chiến thắng 30-4-1975 của nhân dân Việt Nam, quan hệ giữa hai nước rơi vào
thời kỳ đóng băng trong một thời gian dài (1975-1992). Thời gian này mối quan hệ giữa hai
nước có chăng chỉ diễn ra qua hình thức trung gian .
Với mong muốn khép lại quá khứ hướng tới tương lai, hai nước cùng chung quyết
tâm phát triển mối quan hệ, hợp tác trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền dân tộc, phấn đấu
vì sự ổn định và hợp tác phồn thịnh ở khu vực cũng như trên thế giới, ngày 22-12-1992,
Việt Nam và Hàn Quốc đã chính thức ký kết quan hệ ngoại giao. Từ đó đến nay, quan hệ
hai nước không ngừng phát triển về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội...Cả hai đều


có những tiềm năng to lớn để có thể hợp tác bổ sung cho nhau trong công cuộc phát triển
kinh tế xã hội.
Hiện nay quan hệ giữa hai nước đang phát triển tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực ngoại giao,
kinh tế, văn hóa... Thương mại giữa hai nước và đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam ngày
càng tăng trưởng nhanh. Giao lưu văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước cũng được
quan tâm dưới nhiều hình thức như: hội thảo khoa học, trao đổi chuyên gia, sinh viên, các
đoàn nghệ thuật.. Tại Hàn Quốc, khoa tiếng Việt đã được mở ở một số trường Đại Học...
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và đào tạo về Hàn Quốc học cũng đã bắt đầu sau khi hai
nước ký kết quan hệ bang giao....
Tuy nhiên quan hệ kinh tế là nổi bật nhất, thường xuyên giữa hai quốc gia. Trong
điều kiện khả năng của mình, tôi chỉ đi vào nghiên cứu ở khía cạnh quan hệ kinh tế với
mong muốn có cách nhìn toàn diện đầy đủ hơn về lịch sử phát triển đất nước cũng như kinh
tế -văn hóa giữa hai dân tộc.. Vì tất cả những lý do trên, tôi đã chọn đề tài quan hệ kinh tế
Việt Nam –Hàn Quốc ( 1992-2010 ) làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng chính của luận văn là mối quan hệ kinh tế Việt Nam-Hàn Quốc (1992-2010).
Ngoài ra những nét tương đồng về lịch sử và văn hóa giữa hai quốc gia cũng được xem xét
trong luận văn này..
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là giai đoạn từ 1992, thời điểm bắt đầu đặt quan hệ ngoại
giao cho đến năm 2010. Trong quan hệ kinh tế, luận văn tập trung nghiên cứu hai vấn đề:

- Hàn, sơ lược tình hình đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam. Nội dung bài viết mang tính
chất khái quát, tham khảo là chính.
- Thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam- Hàn Quốc là nghiên cứu khoa học của Ngô
Xuân Bình và Đặng Khánh Toàn, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 5 ( 111) 52010. Nội dung chủ yếu đưa ra những nhận định, đánh giá trong quan hệ kinh tế Việt – Hàn.
Mặt khác bài viết còn tập trung phân tích tiềm năng hợp tác và triển vọng quan hệ kinh tế
Việt – Hàn trong bối cảnh quốc tế.
- Nguyễn Hồng Nhung với Quan hệ thương mại, đầu tư Việt Nam- Hàn Quốc và vấn
đề nhập siêu của Việt Nam, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 1 ( 107) 1-2010.
Nội dung đề cập đến quá trình trao đổi hàng hóa Việt Nam – Hàn Quốc, tình hình đầu tư của
Hàn Quốc vào Việt Nam, mối liên hệ thương mại- đầu tư trong quan hệ song phương ViệtHàn và vấn đề nhập siêu của Việt Nam. Người đọc có thể hiểu một cách khái quát quan hệ
kinh tế Việt – Hàn. Tuy nhiên bài viết đi sâu vào phân tích tình hình xuất, nhập khẩu của
hai nước trong các năm 1993, 2000, 2008, chưa chỉ rõ được sự phát triển vượt bậc trong
quan hệ kinh tế Việt – Hàn qua các năm. Bài viết có đề cập đến quan hệ đầu tư giữa hai


quốc gia, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc khái quát những con số, chưa chỉ rõ được
nguyên nhân của sự hạn chế đầu tư của Việt Nam vào thị trường Hàn Quốc.
- Việt Nam trên đường đồi mới – Quan hệ kinh tế Việt Nam- Hàn Quốc: triển vọng
tốt đẹp của Nguyễn Sinh đăng trên Tạp chí Cộng Sản số ra ngày 6/1/2011. Tác giả đã cho
người đọc thấy được những kết quả to lớn trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Hàn Quốc.
Nội dung ngắn gọn, chỉ hơn 2 trang, tuy nhiên ưu điểm của bài viết chỉ rõ được tầm quan
trọng cũng như những hạn chế trong quan hệ kinh tế Việt- Hàn.
- Tác giả Nghi Phương, trong bài viết Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa song
phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm 2010, đăng trên
trang web của Tổng cục Hải quan Việt Nam ngày 4/3/201. Nghi Phương đã khái quát tổng
kim ngạch 5 tháng đầu năm 2010 trong quan hệ thương mại Việt – Hàn, bên cạnh đó cũng
chỉ rõ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2005-2007. Tuy nhiên bài viết này mang
tính chất tổng kết hơn là đi sâu phân tích kết quả đạt được trong quan hệ kinh tế Việt- Hàn.
- Hợp tác thương mại và công nghiệp song phương giữa Hàn Quốc và Việt Nam của
GS.TS. Inshik Oh ( đại học tổng hợp Sangmyung). Bài viết đưa ra những khái quát trong

thêm cho đọc giả về nét văn hóa truyền thống, những điểm du lịch hấp dẫn của Hàn Quốc.
- Bước chân thần kỳ trong hệ thống giáo dục Hàn Quốc- Tạp chí giáo dục và thời
đại. Nội dung cung cấp về sự phát triển vượt bậc của nền giáo dục Hàn Quốc cũng như
những chính sách hấp dẫn nhằm lôi kéo du hoc sinh nước ngoài đến Hàn Quốc trong đó có
Việt Nam.
- Đất Nước Hàn Quốc do An Châu và Trung Vinh biên soạn. Nôi dung cuốn sách
cung cấp tương đối đầy đủ về lịch sử đất nước con người, văn hóa của Hàn Quốc. Cuốn
sách cung cấp một số những sự kiện quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc (19922006)
- Đối thoại với các nền văn hóa Triều Tiên biên dịch Trịnh Huy Hóa. Nội dung đưa
đến cho người đọc hiểu rõ được những nét khái quát nhất về lịch sử văn hóa của Hàn
Quốc...không đề cập đến những nét giống nhau trong lịch sử- văn hóa giữa hai quốc gia.
Tuy nhiên người đọc có thể rút ra được những nét khái quát nhất về lịch sử- văn hóa của
Hàn Quốc để từ đó so sánh đối chiếu với văn hóa- lịch sử Việt Nam.
- Sổ tay du lịch và khám phá Hàn Quốc do Nguyễn Lư biên soạn, được NXB văn hóa
thông tin xuất bản năm 2007. Nội dung sách giới thiệu khái quát về văn hóa lịch sử con
người Hàn Quốc...
Ngoài các tư liệu từ sách báo, tạp chí nói về mối quan hệ kinh tế Việt - Hàn, ... từ
internet có thể tìm thấy nhiều nguồn tài liệu qua các trang web sau :
+ Bộ ngoại giao Việt Nam : http://WWW mofa.gov.vn
+ Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam: http: //WWW.hanquocngaynay.com


+ Tổng cục thống kê Việt Nam:http: WWW.gso.gov.vn
+ Bộ kế hoạch và đầu tư http: //WWW mpi.gov.rn
4. Phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn
- Để tiến hành nghiên cứu nghiên cứu đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp
logic được sử dụng chủ yếu. Ngoài ra còn có các phương pháp khác như: tổng hợp, phân
tích, loại suy, thống kê để làm rõ mối quan hệ kinh tế giữa hai nước.
- Bố cục luận văn ngoài phần dẫn luận, phần kết luận, nội dung chính chia làm 3
chương :

Hai con đến gặp Hwang để xin được trở thành người. Hwang cho chúng lá ngải và hai mươi
nhánh tỏi thần và bảo chúng ăn hết những thứ đó trong một trăm ngày thì sẽ biến thành
người. Sau đó gấu trở thành một cô gái xinh đẹp vì thực hiện đúng lời vua dặn, còn hổ thì
không. Vua Hwang biến thành chàng trai xinh đẹp, đến xin kết hôn với cô gái gấu ( Hoàng
nữ). Họ sinh được một con trai tên là Tan Gun Wang Keun. Tan Gun lên ngôi vua tại
Choson đóng đô ở Pyong-yang (Bình Nhưỡng) và đặt tên nước là Choson (Hàn Quốc). Lúc
này bên Trung Quốc, vua Nghiêu lên ngôi được mười năm. Tan Gun cai quản đất nước
1500 năm, nhường ngôi cho Cơ Tử, lên núi ở ẩn tại vùng Chang Tang Kieng, rồi trở thành
Thần núi [25, 207]
Đối với Việt Nam, truyền thuyết dựng nước cũng bắt đầu bằng huyền thoại với cuộc
hôn nhân mang tính lưỡng hợp, kết hợp. Âu Cơ (giống Tiên) từ vùng núi xuống kết hợp
cùng Lạc Long Quân (giống Rồng) từ biển lên, sinh ra trăm trứng nở trăm người con, sau lại
chia đôi, một nửa ở miền đồi núi, một nửa miền sông nước, lập ra họ Hồng Bàng cùng các
triều đại vua Hùng. Theo sách Lĩnh Nam chính quái, cuộc kỳ ngộ giữa Lạc Long Quân và
Âu Cơ như sau: Lạc Long Quân là cháu mấy đời của vua Thần Nông là con của Kinh
Dương Vương là con gái của Thần Núi Ngũ Lĩnh tức bà Vu Tiên. Kinh Dương Vương lấy
con gái thần Hồ Động Đình – cuộc hôn nhân giữa con trai Thần Núi và con gái Thần Nước


sinh ra Lạc Long Quân, tên thật là Sùng Lãm. Lạc Long Quân lớn lên được Kinh Dương
vương cho cai quản đất Lạc Việt. Bờ cõi nước Xích- Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp hồ Động
Đình (Hồ Nam), phía nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thụ (Tứ Xuyên),
phía Đông giáp Nam Hải.[52, 9-10]
Bấy giờ Đế Lai trị ở phương Bắc, vốn giòng dõi thần Nông đi thăm nước Xích –Quỷ
ở phương Nam. Trong lúc ấy Long Quân đang ở Thủy phủ. Đế Lai để con gái Âu Cơ cùng
những kẻ theo hầu ở lại, còn mình đi thăm các địa phương. Dân chúng khổ sở vì những nỗi
phiền nhiễu của họ hàng phương Bắc của Lạc Long Quân, bèn cùng nhau to tiếng, gọi lên
“ Bố ơi ở đâu? Sao để cho chúa phương Bắc đến quấy nhiễu dân chúng?” Long Quân đến,
thấy Âu Cơ nhan sắc đẹp đẽ thì đem lòng yêu thương. Long quân biến thành một chàng trai
khỏe mạnh, phong độ, hiện ra trước cửa đàn, hát tỏ tình ghẹo Âu Cơ, Ậu cơ trông thấy có

nhà Hán xâm lược. Nhà Hán chia miền Bắc bán đảo Hàn Quốc ra làm 4 quận.; Lo-lang,
Chen –fan (sau này là Tai-fang), Lin,-t’un và Hsuan-t’u. [17, 71]. Nhà Hán đã kiểm soát bán
đảo này hơm 400 năm.Trong thời kỳ này, một phần rất lớn văn hóa Trung Quốc đã bị đồng
hóa bởi cư dân bán đảo, một sự kiện mở đầu cho nhiều thế kỷ vay mượn văn hóa của người
Trung Quốc.
Giống như Hàn Quốc Việt Nam bị nhà Hán xâm lược vào năm 111 trước Công
nguyên, trước Hán Quốc 3 năm, tương tự, nước Việt nam bị chinh phục và bị người Hán
chia làm 3 quận (Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) [36, 56]
- Chống ách cai trị của nhà Tùy
Từ cuối thời Đông Hán đến thời Nam –Bắc triều, xã hội trung Hoa luôn luôn hỗn loạn
vì nội chiến và sự xâu xé của các tộc ở phương Bắc nên các triều đại phong kiến Trung Hoa
không thể xâm lược ra bên ngoài được. Nhưng khi đất nước được thống nhất, nhà Tùy (581681) liền phát động những cuộc chiến tranh xâm lược ra bên ngoài để thôn tính các nước
xung quanh, trong đó thể hiện rõ mưu đồ xâm chiếm bán đảo Hàn.
Thời gian từ năm 53 đến 668, bán đảoTriều Tiên thường diễn ra các cuộc đối địch
giữa 3quốc gia (thường được gọi là thời kỳ tam quốc); Koguryo, Paekche và Shilla, chia cắt
bán đảo này thành 3 vùng riêng biệt (giống như một cuộc nội chiến chia cắt đất nước). Ba
quốc gia đếu có cơ cấu đẳng cấp xã hội chặt chẽ và tổ chức quân sự hùng mạnh, tiến hành
chiến tranh nhằm giành lấy uy quyền tối cao trên bán đảo.
Koguryo gồm miền Bắc bán đảo Hàn và hai tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm, một phần tỉnh
Hắc Long Giang của Trung Quốc ngày nay. Paekche nằm ở Tây Nam bán đảo Hàn. Shilla ở
Đông Nam bán đảo Hàn.
Để gây sự với Koguryo, năm 597, Tùy Văn Đế (người mở đầu triều đại nhà Tùy) gửi
thư kể tội vua Koguryo nhiều lần sai quân giết hại cư dân ở biên giới và ngầm mua chuộc
thợ cung nỏ làm việc trong binh công xưởng của Trung Quốc trốn chạy sang Koguryo. Năm


598, Tùy Văn Đế lấy cớ vua Koguryo cho quân cướp phá ở biên giới nên đã huy động 30
vạn quân thủy bộ chia đường đánh Koguryo. Tuy nhiên cuộc tấn công không thành công.
Năm 605, Tùy Dưỡng Đế (còn gọi là Tùy Dượng Đế) lên ngôi, nhà Tùy cho rằng Koguryo
là đất của Trung Quốc, nay mới không thần phục, lập thành một vùng riêng. Vì vậy, năm

viễn chinh. Shilla cũng đem 5 vạn quân cùng tác chiến. Quân Đường hạ được một số thành
ở Liêu Đông, nhưng khi vây đánh thành An Thị (Liêu Ninh ngày nay) qua 88 ngày vẫn
không hạ được, trái lại quân Đường bị tổn thất nặng nề. Vì vậy đến tháng 9 năm 645, lấy lí
do “ vùng tả ngạn sông Liêu rét sớm, cỏ khô, nước đông, người ngựa khó ở lâu được, vả lại
lương thực sắp hết ”. [47, 121] Đường Thái Tông ra lệnh rút quân. Năm 649 Đường Thái
Tông chết, mưu đồ chinh phục bán đảo Hàn phải gác lại.
Đến thời Đường Cao Tông, sự xung đột giữa các nước ở bán đảo Hàn vẫn tiếp diễn.
Với sự súp đỡ của Koguryo, Paekche nhiều lần xâm nhập Shilla. Năm 660, Shilla lại cầu
cứu nhà Đường. Năm 660 nhà Đường mang 10 vạn quân phối hợp với Shilla cùng tấn công
Paekche, Paekche bị diệt vong. Koguryo bị cô lập. Năm 666 nội bộ Koguryo xảy ra xung
đột vũ trang làm thế nước này càng suy yếu. Lợi dùng tình thế ấy, năm 667, nhà Đường tiếp
tục phối hợp với Shilla tấn công Koguryo. Năm 668, Koguryo bị chinh phục. Ngay năm 668,
nhà Đường thành lập An Đông đô họ phủ ở Bình Nhưỡng và chia đất đai chiếm được thành
châu, quận để cai trị.
Như vây, lực lượng hùng mạnh nhất của lịch sử sơ khai Hàn Quốc đã bị đánh bại;
Shilla phải chống lại sức mạnh của nhà Đường. Sau thắng lợi, nhà Đường đã thiết lập các
quận trên lãnh thổ Koguryo và Paekche, bắt đầu đối xử với Shilla như một nước chư hầu.
Tuy nhiên, năm 676 Shilla thành công trong việc đuổi quân nhà Đường ra khỏi quốc vương
Paekche cũ và thành lập ở đó một nhà nước có biên giới phía Bắc cắt ngang bán đảo từ cửa
sông Taedong. Tất nhiên, điều này không có nghĩa khôi phục lại toàn bộ lãnh thổ của ba
vương triều trước kia.
Đối với Việt Nam, sau khi nhà Tùy sụp đổ, nhà Đường kế tục sự nghiệp và tiếp tục
chính sách cai trị Việt Nam. Nhà Đường đã bãi bỏ các quận do nhà Tùy lập, đặt Giao Châu
đô hộ phủ (622) rồi đặt An Nam đô hộ phủ (679). Địa danh An Nam có từ đó. Những thủ
đoạn cai trị xảo quyệt và âm mưu đồng hóa, ngu dân của chính quyền đô họ nhà Đường vẫn
không làm cho nhân dân Việt Nam khuất phục. Trái lại, trong ba thế kỷ đô hộ của nhà
Đường cũng chính là ba thế kỷ đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của nhân Việt Nam mà đỉnh
cao là các cuộc khởi nghĩa vũ trang của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), khởi nghĩa của Mai
Thúc Loan (722). Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân đã cùng ông đi gánh vải nộp
cống nổi dậy khởi nghĩa. Mai Thúc Loan đã phát triển cuộc khởi nghĩa ra khắp vùng Hoan,

cùng cả hai dân tộc đã vùng lên đấu tranh, thoát khỏi sự lệ thuộc của phong kiến Trung Hoa.
1.1.2.2. Việt Nam- Hàn Quốc cùng đấu tranh chống quân xâm lược Mông Cổ
Việt Nam - Hàn Quốc cùng có kẻ thù chung là Trung Hoa phong kiến, tuy nhiên cả hai
dân dân tộc còn có kẻ thù chung là Mông Cổ.


Cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII, người Mông Cổ sống thành bộ lạc, liên minh bộ lạc
trên vùng lãnh thổ Châu Á rộng lớn từ hồ Bai-can và sông A-mua phía Đông đến thượng
lưu sông I-ê-ni-xê-i, phía Tây miền Nam Xi-bê-ri đến Vạn Lý Trường Thành ở phía Nam.
Danh từ “ Mông Cổ ” chính thức được xuất hiện trong sách vở sau khi Thành- Cát – TưHãn lập nên quốc gia Mông Cổ thống nhất (1206), sử sách Trung Quốc gọi là người Thát.
Sau khi thống nhất, Thành –Cát- Tư –Hãn dốc toàn bộ lực lượng quân sự vào những cuộc
chiến tranh xâm lược với quy mô lớn.
Quân Mông Cổ ào ạt tiến sang phương Đông, phương Tây. Tiến đánh Trung Quốc
(1219), tràn vào trung Á (1218), tiến đánh nước Nga (1223). Tiếp nối là những cuộc viễn
chinh xâm lược đẫm máu về phía Tây, phía Đông rồi tràn xuống phía Nam. Trong bối cảnh
chung của khu vực, Việt Nam và Hàn Quốc không thể thoát khỏi sự xâm chiếm và mở rộng
lãnh thổ của Mông Cổ. Tuy nhiên có một điểm khác với Hàn Quốc là Việt Nam đã đánh tan
ba lần xâm lược của quân Nguyên- Mông giữ yên bờ cõi đất nước.
Trước khi cho quân xâm lược Đại Việt, Mông Cổ nhiều lần cho sứ sang dụ hàng,
nhưng sứ đi mà không trở lại. Vua Trần kiên quyết kháng chiến, ra lệnh bắt giữ sứ của
Mông Cổ. Năm 1258, quân Mông Cổ chia làm hai đường tấn công vào Đại Việt. Trần Thái
Tông tự thân chỉ huy chiến đấu. Quân Mông Cổ bị Đại Việt đánh tan ở Đông Bộ Đầu,
Thăng Long, buộc phải quay ngựa chạy về Vân Nam – Trung Quốc. Sau khi đánh bại được
Trung Hoa rộng lớn, Mông Cổ đã thành lập triều Nguyên ở Trung Quốc (1271-1368). Với
bản chất hiếu chiến, nhà Nguyên tiếp tục chính sách mở rộng lãnh thổ.
Năm 1282 nhà Nguyên yêu cầu Đại Việt phải cho mượn đường để tiến đánh Chiêm
Thành nhưng bị vua Trần kiên quyết khước từ. Viện lý do Đại việt không chịu khuất phục,
đầu năm 1285, Hốt Tất Liệt sai con mình là Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang đánh, nhưng
đến giữa năm 1285, quân Nguyên bị bất bại hoàn toàn. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng
để quân lính khiêng mới sống sót về nước. [35, 152]. Nhục nhã vì bị thất bại trước Đại Việt,

Nhật ( 1940-1945). Năm 1945, Việt Nam và Hàn Quốc thoát khỏi chế độ cai trị thuộc địa
của Nhật, giành lại độc lập, thế nhưng, đất nước lại bị phân chia và rơi vào vòng xoáy của
thời kỳ Chiến tranh lạnh. Năm 1950, Hàn Quốc đã trải qua bi kịch của cuộc nội chiến giữa
hai miền Nam Bắc. Khi chiến tranh kết thúc, những gì còn lại chỉ là sự đổ nát, hoang tàn,
chia cắt. Đối với Việt Nam sau năm 1945, Pháp quay trở lại thôn tính. Trải qua 9 năm kháng
chiến chống Pháp( 1946-1954), sau đó là kháng chiến chống Mỹ kéo dài hơn 20 năm (19541975), đến năm 1975 Việt Nam được giải phóng, đất nước thống nhất. Sau giải phóng Việt
Nam nỗ lực cố gắng vượt qua mọi khó khăn để hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng đất
nước.
Cùng trải qua thời kỳ bị quân phiệt Nhật thôn tính, cùng trải qua thời kỳ đất nước bị
chia cắt, cùng trải qua những mất mát do chiến tranh để lại, chính những điểm tương đồng


này là bước đệm tiếp theo cho sự phát triển quan hệ kinh tế Việt – Hàn. Bên cạnh những nét
tương đồng về lịch sử, Việt Nam- Hàn Quốc cùng có những nét tương đồng về văn hóa.
Nghiên cứu nét tương đồng này để khẳng định thêm một bước đệm tiếp theo cho mối quan
hệ kinh tế Việt –Hàn.
1.2 . Một số nét tương đồng về văn hóa giữa Việt Nam - Hàn Quốc
1.2.1. Nét tương đồng trong phong tục tập quán: ăn, uống
Trong bữa ăn của người Việt, từ xưa đến nay cơm là thực phẩm chính trong bữa ăn
hằng ngày.
Trong bữa cơm người Việt có nhiều loại thực phẩm từ động vật, thực vật, tuy nhiên
thực vật nhiều hơn động vật. Việt Nam có một danh mục rau quả mùa nào thức ấy, vô cùng
phong phú . Rau xanh đủ loại như: rau muống, rau dền, rau ngót, rau cải... luôn có mặt trong
mỗi mâm cơm của mỗi gia đình. Tuy nhiên nói đến rau trong bữa ăn Việt Nam không thể
không nhắc đến hai món đặc thù là rau muống với dưa cà. Sự tích Thánh Gióng gắn liền với
quả cà. Thánh Gióng nhờ ăn “ bảy nong cơm, ba nong cà” mà trở thành người khổng lồ đi
cứu nước. Cà và rau cải đem muối dưa tạo thành những món ăn độc đáo phù hợp với thời
tiết và khẩu vị của người Việt nên tục ngữ mới có câu: Có dưa, chừa rau; Có cà thì tha gắp
mắm; Thịt cá là hoa, tương cà là gia bản.[52, 189]
Các loại gia vị có hành, gừng tỏi, ớt, riềng, rau mùi, rau răm, rau húng, thì là, hồ tiêu,

trắng (rượu màu, rượu thuốc và các thứ rượu phương Tây không thể dùng để cúng được ).
Cây chè là một loại cây đặc sản của Việt Nam. Tuy Việt Nam chưa nói nhiều đến
“trà đạo” Việt Nam, nhưng cách pha trà thơm của người Việt và cách chế biến các loại chè
cũng rất cầu kỳ và đặc sắc. Các ấm chén chuyên dùng cho uống trà ở Việt Nam đã xuất
hiện khá sớm, tương truyền xuất hiện từ đời nhà Lý (1010 – 1225), các loại đồ gốm, đồ sành
sứ sử dụng cho việc uống trá cũng rất tinh xảo. Người Việt Nam uống chè tươi, chè khô,
ướp chè với các loại hoa như hoa sen, hoa nhài, hoa ngâu, hoa cúc....
Đối với người Hàn Quốc bữa ăn cũng thanh đạm như người Việt. Cơm trắng cũng là
món chính. Ngoài ra, cơm trộn với 5 loại đậu đen, đỏ, trắng, vàng, xanh là một món ăn
người Hàn ưa dùng (người Hàn Quốc gọi là Ô- kốc - bap: cơm ngũ cốc). Cơm cuốn rong
biển với ít trứng và cà rốt (Kim – bap) là món ăn mang tính nghệ thuật cao. Nó đòi hỏi
người phụ nữ phải khéo léo để làm sao vừa thổi cơm dẻo vừa cuộn rong biển đã ép mỏng
như tờ giấy, trong đó. Cơm vẫn là món chính.
Rau xanh ở Hàn Quốc cũng đủ loại, ngoài các loại rau ở vùng đồng bằng như: rau cải,
rau cần, rau rền...giống như ở Việt Nam, Hàn Quốc còn có rất nhiều loại rau rừng (người
Hàn gọi là rau núi). Trong tất cả những món ăn đi kem theo bũa cơm của người Hàn thì Kim
chi- là một loại dưa chua, món rau củ muối có gia vị không thể thiếu. Đây là món ăn nổi
tiếng nhất của Hàn Quốc. Kim chi gắn liến với tên tuổi quốc gia đến mức được chính phủ


Hàn tuyên bố là một quốc bảo.[14, 188] Người ta cho rằng món dưa chua cao lương mỹ vị
này có chứa rất nhiều vitamin và chất bổ và luôn được dọn lên bàn ăn cùng với cơm. Món
ăn này được yêu thích đến nỗi một bảo tàng Kim chi duy nhất trên thế giới được mở ra tại
Seoul, giới thiệu về lịch sử hình thành Kim chi, những kiến thức và những truyền thuyết về
món Kim chi cũng như cách thức chế biến món này.
Đối với người Hàn, bữa cơm hàng ngày cũng không thể thiếu thịt và cá- hai thực
phẩm rất phong phú về chủng loại. Xưa kia, người Hàn Quốc nổi tiếng săn bắt giỏi nên thịt
thú rừng được ưa chuộng nhiều. Trong bữa ăn hằng ngày, thịt lợn và thịt bò là món ăn chủ
đạo và thường được làm chín bằng phương pháp nướng trên bếp lửa. Phong tục này vẫn
còn, bởi vậy, khi người Hàn Quốc sang Việt Nam, món bún chả của Việt Nam được người

xanh ngọc cũng được xếp vào hàng tinh xảo ở phương Đông. Cũng giống như Việt Nam,
tuy uống trà chưa được nâng lên thành trà đạo như Nhật Bản, Trung Quốc nhưng là đồ uống
thường xuyên, nhất là khi có khách đến nhà chơi.
1.2.2. Nét tương đồng trong phong tục hôn nhân truyền thống giữa Việt NamHàn Quốc
Từ xa xưa, do chịu ảnh hưởng nặng nề của lễ giáo phong kiến Trung hoa, xã hội
truyền thống Việt Nam và Hàn Quốc dần dần hình thành một phong tục cưới hỏi khá tương
đồng.
Trước đây, chuyện dựng vợ gả chồng cho con ở Việt Nam và Hàn Quốc thường do
cha mẹ quyết định , “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Chuyện trai gái tự do tìm hiểu, tự do
yêu đương thường ít được đặt ra. Cha mẹ tìm vợ cho con mục đích chính là để “nối dõi tông
đường”. Nhưng điều các bên quan tâm đầu tiên chưa phải là con người cụ thể mà là các vấn
đề như xem gia đình hai bên có “môn đăng hộ đối” không, nam nữ có hợp tuổi hợp số
không? Kế đến mới là chàng trai có tài ba, có chí lớn không...? Cô gái có khỏe mạnh, xinh
đẹp tháo vát, đảm đang hay không?...Bởi vậy, trong xã hội truyền thống, người mai mối rất
quan trọng. Đối với gia đình quyền quý, hôn nhân phải có mai mối và việc thành lứa đôi hay
không, hai nhà thông gia có “thông cảm” với nhau hay không đều phụ thuộc vào “nhân vật
trung gian” này.
Cũng giống nhau ở một điểm trong chuyện hôn nhân ở Việt Nam và Hàn Quốc là ,
nếu cuộc gặp gỡ ban đầu giữa hai bên thành công, đôi trai gái sẽ tìm hiểu nhau thêm một
thời gian nữa. Nếu thấy không hợp nhau, họ không bắt buộc phải kết hôn, nhưng nếu thấy
hợp nhau, họ sẽ thông báo cho cha mẹ hai bên để chọn ngày kết hôn. Cho dù cặp vợ chồng
trẻ Hàn hay Việt tiến đến hôn nhân là do yêu thương hay sắp đặt, thì ít ra cũng có một trong
hai bà mẹ sẽ tìm đến một ông thầy bói, để nhờ thầy đọc hộ lá số tử vi của đôi vợ chồng trẻ
xem có hợp nhau hay không. Hay chí ít cũng để thầy tìm cho một ngày lành tháng tốt để có


Trích đoạn Sơ lược quan hệ Việt-Hàn giai đoạn từ sau 1954 đến 1975 Những khái niệm liên quan hệ kinh tế quốc tế và tính tất yếu của quan hệ kinh tế Tiềm năng hợp tác từ phía Hàn Quốc Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc (1992-2010) Đầu tư của Việt Nam vào Hàn Quốc (1992-2010)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status