nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ đông nam á - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Cẩm Chiếu

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN THƠ
ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh-2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Cẩm Chiếu

NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN THƠ
ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành:

Văn học nước ngoài

Mã số:

60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

nghiệp trường THPT Hoàng Văn Thụ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã
giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt
tình của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được sự thông cảm của quý thầy cô và các bạn.
Trân trọng
Tây Ninh, ngày 30 tháng 3 năm 2012
Tác giả
Phan Thị Cẩm Chiếu


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TRUYỆN THƠ ĐÔNG NAM Á - BẢN SẮC DÂN TỘC
VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP BIẾN .................................................. 16
1.1. Những vấn đề khái quát .....................................................................................16
1.1.1. Vài nét về truyện thơ ......................................................................................16
1.1.2. Truyện thơ Đông Nam Á .................................................................................20
1.2. Con đường hình thành truyện thơ Đông Nam Á. ...............................................25
1.2.1. Tiếp nhận văn học nước ngoài ........................................................................25
1.2.2. Nguồn gốc bản địa ..........................................................................................37

Tiểu kết Chương 1: .......................................................................................... 46
CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRUYỆN THƠ - SỰ GẶP GỠ
GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC VIẾT ............ 49
2.1. Hệ thống nhân vật ..............................................................................................49

tiến tới tiếp cận nền văn học thành văn của cả cộng đồng. Hơn nữa, các thể
thơ dân tộc như lục bát của Việt Nam, thể lakhon, sepha của Thái Lan, thể
pantun của Indonesia.. cũng được các tác giả sử dụng điêu luyện, tạo tiền đề
phát triển mạnh mẽ của truyện thơ. Như vậy, tìm hiểu nghệ thuật của truyện
thơ sẽ cho chúng ta thấy một sức sống bền bỉ của nghệ thuật folklore - một
loại hình tập hợp nhiều tinh hoa của văn học dân gian.
Ngoài ra, nghệ thuật đặc sắc của truyện thơ Đông Nam Á được cấu
thành bởi sự kết hợp của yếu tố truyền thống bản địa với sự ảnh hưởng hội
nhập của văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập, Ba Tư. Có thể kể đến Kim Vân
Kiều truyện - một tác phẩm văn học chương hồi của Trung Hoa - đã gợi
nguồn cảm hứng cho đại thi hào Nguyễn Du sáng tác nên Truyện Kiều, hoặc
sử thi Ramayana, Mahabharata - tác phẩm văn học dân gian vĩ đại của Ấn Độ
- đã để lại những dấu ấn sâu sắc trên các tác phẩm truyện thơ ở nhiều nước
Đông Nam Á. Chính quá trình bản địa hóa các tác phẩm văn học của Ấn Độ,
Trung Hoa đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện các truyện thơ nổi tiếng trong nền
văn học khu vực Đông Nam Á. Quá trình bản địa hóa giúp các yếu tố văn hóa
nội sinh gặp gỡ với văn hóa ngoại sinh để tạo nên một sự biến đổi và hội tụ
mới về chất của chính nền văn hóa đó. Và như vậy, từ xu hướng bản địa hóa
đã tiến đến dân tộc hóa nền văn học viết của các nước khu vực Đông Nam Á.
Bản sắc dân tộc thể hiện rất rõ trong truyện thơ thông qua sự kế thừa, tiếp nối


và sáng tạo văn học dân gian. Sự sáng tạo ấy biểu hiện rõ nét ở đề tài, cốt
truyện, phương thức thể hiện và hình thức nghệ thuật.
Những yếu tố nội sinh của nền văn học dân gian mỗi nước là tiền đề
hình thành các truyện thơ “bản địa”. Ngoài những tác phẩm có nguồn gốc
ảnh hưởng văn học nước ngoài, còn có một bộ phận không nhỏ các tác phẩm
truyện thơ có nguồn gốc từ văn học dân gian và từ hiện thực lịch sử xã hội
của quốc gia đó. Một số truyện thơ hướng vào đề tài dân tộc, đề tài “của
chính mình” mà không chịu ảnh hưởng của bất kì yếu tố văn hóa ngoại lai

tâm của nhiều người. Cũng trong khoảng thời gian này, viện Đông Nam Á
(Hà Nội) được thành lập và phát triển, giúp các nhà nghiên cứu văn học có
nhiều thuận lợi tiếp cận các nền văn hóa trong khu vực. Riêng ở lĩnh vực
truyện thơ, mặc dù có nhiều tác giả quan tâm đến thể loại này nhưng vẫn còn
nhiều tác phẩm chưa được giới thiệu ở Việt Nam. Trong số mười tác phẩm
mà đề tài nghiên cứu thì chỉ tìm được năm tác phẩm bằng tiếng Việt. Điều
này, khiến chúng tôi gặp không ít khó khăn.Vì vậy, chúng tôi đã dựa vào
nhiều nguồn tài liệu khác nhau, thu nhặt và hệ thống lại những ý kiến các nhà
nghiên cứu về truyện thơ Đông Nam Á để làm cơ sở triển khai đề tài.
Trong cuốn Văn học Đông Nam Á[72], tác giả Lưu Đức Trung đã cung
cấp những đặc điểm nổi bật của văn học khu vực này. Chương I là cái nhìn
tổng thể, bảy chương còn lại là những nhận định khái quát về văn học Lào,
Campuchia, Thái Lan, Myanma, Indonesia, Malaysia, Phillipin. Ngoài ra,
người viết cũng đã phân tích một số nét chính về truyện thơ của các nước - dù
chưa đi vào hệ thống nhân vật. Một công trình nghiên cứu khác là Văn học Ấn
Độ, Lào, Campuchia (đồng chủ biên với Đinh Việt Anh)[71], tác giả Lưu Đức
Trung đã chỉ ra quá trình tiếp biến văn học Ấn Độ của các nước Đông Nam
Á. Trong tài liệu này, tác giả cho rằng :“Các tác phẩm này đều có chung


môtíp của Ramayana về đề tài thiện ác xung đột, trục bộ ba nhân vật: người
con trai - người con gái - ác quỷ”[71, tr.6] và đưa ra thêm một nhận định về
truyện thơ Lào “thường xuất hiện nhiều yếu tố kì diệu, như sự biến hóa của
nhân vật, mũi tên độc ác của kẻ thù biến thành hoa, trận mưa mầu nhiệm để
cải tử hoàn sinh….trở thành những chi tiết quen thuộc”[70, tr.203].
Một công trình nữa mà chúng tôi dựa vào nghiên cứu là quyển Văn học
dân gian Việt Nam[26] của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên và
Võ Quang Nhơn. Trong công trình này, các tác giả đã dành trọn chương bảy:
“Truyện thơ - một dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn”
để đưa khái luận về truyện thơ Việt Nam. Trong đó, các tác giả đã lần lượt đề

thể nhận thấy sự phân tích tâm lý cực kỳ tài giỏi của các tác giả. Cái
tài của tác giả chính là phương pháp phân tích tâm lý tàn nhẫn[34,
tr.110].
Có thể nói, nhận định trên đã gợi ra một hướng nghiên cứu mới trong
việc tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ Campuchia nói
riêng và các nước Đông Nam Á nói chung.
Trong công trình nghiên cứu Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc
thiểu số[56], tác giả Lê Trường Phát nêu lên những đặc điểm thi pháp nổi bật
của truyện thơ các dân tộc thiểu số trong giao diện với truyện thơ khu vực
Đông Nam Á. Ngoài việc đề cập đến kết cấu cốt truyện, ngôn ngữ,…người
viết cũng đã nói đến nhân vật truyện thơ. Theo tác giả, có hai dòng truyện thơ
khác nhau thì cũng có những kiểu loại nhân vật khác nhau và biện pháp nghệ
thuật xây dựng hình tượng nhân vật cũng khác nhau. Tuy nhiên các kiểu nhân
vật đặc trưng của truyện thơ và nghệ thuật xây dựng nhân vật truyện thơ cũng
chưa được tác giả đặc biệt chú trọng.


Năm 1983, Nguyễn Tấn Đắc có công trình nghiên cứu Văn học các
nước Đông Nam Á [9]. Công trình này đã bao quát các tác phẩm đỉnh cao của
văn học viết truyền thống và điểm qua những đỉnh cao đó:“Ở Việt Nam xuất
hiện Truyện Kiều và hàng loạt tác phẩm khác. Ở Lào có Xỉn xay và nhiều
truyện thơ. Ở Thái có Khun Chang Khun Phaen, Aphaymani. Ở Inđônêxia
có hàng loạt Hykayat, Sjair[9, tr.12]. Tiếp theo, tác giả đã tóm tắt sơ lược nội
dung hai truyện thơ Xỉn Xay, Phalak Phalam của Lào. Có thể nói, mặc dù
không giới thiệu nhiều về nhân vật truyện thơ nhưng người nghiên cứu đã cho
thấy sự phát triển đồng loạt về thể loại cũng như tầm giá trị của nó so với các
nước khác trong khu vực.
Cũng viết về văn học Lào, trong quyển Hợp tuyển văn học Lào, tác giả
Tuyết Phượng đã giới thiệu quá trình hình thành, phát triển và những thành
tựu lớn nền văn học nước này. Theo tác giả, những thành tựu đó thể hiện rõ

môtíp của truyện cổ tích: hai người đàn ông tranh nhau một phụ nữ đẹp, tranh
công và lường gạt, thử thách khó khăn…Ngoài ra, Khun Chang Khun Phaen
còn mang một số đặc điểm của sử thi. Nhân vật chính Khun Phaen thật sự là
một anh hùng - tráng sĩ: “tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý
chí và trí thông minh, lòng dũng cảm của cộng đồng”, đồng thời “được miêu
tả khá tỉ mỉ, đầy đủ từ cách ăn mặc, trang bị, đi đứng đến những trận giao
chiến với kẻ thù, những chiến công lẫy lừng”[14. tr.285].
Trong công trình nghiên cứu Truyện Nôm, nguồn gốc và bản chất thể
loại[24], tác giả Kiều Thu Hoạch cũng đưa ra nhận xét: “nhân vật của truyện
Nôm về cơ bản vẫn còn đầy đủ những đặc trưng của nhân vật truyện cổ
tích”[24, tr.148]. Theo tác giả:“Thế giới nhân vật của truyện Nôm có tính
chất lí tưởng hóa nhiều hơn là hiện thực”[24, tr.149]. Nhận xét này đã thể


hiện cái nhìn nhất quán của các nhà nghiên cứu về nhân vật trong truyện thơ
Đông Nam Á.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, một số tài liệu nghiên cứu truyện thơ Đông Nam Á cũng
chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu bước đầu về truyện thơ và một số vấn đề
khác xoay quanh thể loại này. Chúng tôi cũng chưa phát hiện có công trình
nào tập trung nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ
Đông Nam Á một cách đầy đủ và có hệ thống.
Trong bài nghiên cứu Les traits bouddhisques du Râmakerti[94]
(Những dấu ấn Phật giáo trong Rama Kerti), tác giả Saveros Pou đã khảo luận
về vấn đề chuyển đổi tâm linh của Ramayana Ấn Độ sang tư tưởng Phật giáo
với những cơ sở văn hóa xã hội của Campuchia lúc bấy giờ. Tác giả cũng
nhấn mạnh, Riêm Kê không phải chỉ là một tiếng vọng của Ramayana Ấn Độ
mà còn là sự sáng tạo của người dân bản địa Đông Nam Á.
Năm 2000, nhà nghiên cứu Thái Lan M.L.Manich Jumsai đã tóm tắt
nội dung của Khun Chang Khun Phaen qua công trình History of Thai

rệt. Trong bản gốc của câu chuyện, Wanthong là nhân vật trung tâm. Cái chết
của cô là một kết thúc bi thảm. Không có nhân vật nữ nào khác có vị trí đặc
biệt như cô. Trong nhiều truyện thơ khác, nhân vật nữ lại trở thành món quà
mà con người chiếm được bằng lời đường mật hoặc là phần thưởng cho chiến
thắng quân sự[80. tr.30]. Nhân vật nữ không chỉ xuất hiện trong Khun Chang
Khun Phaen mà còn có mặt trong hàng loạt truyện thơ Đông Nam Á.
Công trình nghiên cứu Tum Teav: A Translation and Analysis of a
Cambodian Literary Classic[83] của George Chigas nói rõ về nguồn gốc văn
bản truyện Tum Tiêu, trong đó kèm theo nguyên bản tiếng Anh của tác phẩm
Tum Tiêu. Phần phê bình và nghiên cứu truyện Tum Tiêu đề cập đến nhân vật


chính trong tác phẩm là Tum và Tiêu. Họ là những nhân vật đại diện cho chủ
nghĩa lãng mạn, với niềm tin mãnh liệt rằng không có gì trong thế giới vĩ đại
hơn tình yêu. Họ cũng quan niệm rằng tình yêu là “ông chủ” của số phận con
người. Do đó, Tum và Tiêu quan niệm rằng: nếu không thể tận hưởng tình yêu
hoàn hảo của họ thì thà chết còn hơn.
Trong cuốn Women in Thai Literature[89] (Người phụ nữ trong văn
học Thái Lan) - xuất bản năm 1992, có bài Khun Chang Khun Phaen. Bài
nghiên cứu trên ngợi ca tác phẩm là một bản “ballad” tình yêu tuyệt vời nhất
và đáng nhớ nhất. Bài viết cũng phân tích một số đặc điểm của nhân vật nữ
chính là nàng Phim (Wanthong), đối sánh bổn phận của người phụ nữ trong
quá khứ so với hiện tại. Tác giả nhận định Phim là mẫu hình phụ nữ vượt lên
thời đại, đồng thời lại mang dáng dấp truyền thống. Đây là nhận định quan
trọng, làm cơ sở nghiên cứu hệ thống nhân vật nữ trong đề tài của chúng tôi.
Tác giả V.I. Braginsky với bài Hykayat Hang Tuah: Malay Epic and
Muslim Mirror[91] (Truyện Hang Tuah: Sử thi Malaysia và tấm gương Hồi
giáo) nhận định về truyện Hang Tuah: Chính truyện Hang Tuah xuất hiện là
một loại “gương” ẩn bên trong nội dung của nó, nơi mà lịch sử trở thành
người cố vấn. Trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa người cai trị và

nhân vật khác trong tác phẩm đã được xây dựng rất thành công. Tác giả
Parnickel đã phân tích sự thành công của việc xây dựng nhân vật chính thông
qua một quan điểm tổng quát và dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác.
Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy nhiều tác giả
đi trước đã có những cách nhìn nhận, quan điểm và phương pháp tiếp cận
khác nhau về truyện thơ Đông Nam Á. Các bài viết đều thừa nhận giá trị văn
hóa, lịch sử, giá trị nhân văn và yếu tố Chân - Thiện - Mỹ mà truyện thơ mang


lại. Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ mới đưa ra những nhận định
tổng quát, chưa phân tích cụ thể hình tượng nhân vật trong từng tác phẩm.
Cho đến nay, chưa có một chuyên luận hay công trình nào nghiên cứu về
nhân vật trong truyện thơ của các nước Đông Nam Á một cách có hệ thống
và chuyên sâu. Từ một số nhận định khái quát mang tính định hướng từ
những người đi trước, chúng tôi tiến hành giải quyết vấn đề của luận văn này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kho tàng truyện thơ Đông Nam Á khá đồ sộ. Có thể chia truyện thơ
thành hai nhóm: truyện thơ truyền miệng và truyện thơ thành văn. Trong luận
văn này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu nhân vật ở nhóm truyện thơ thành văn
qua 10 tác phẩm đỉnh cao của khu vực Đông Nam Á.
3.2

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài luận văn nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật của thể loại
truyện thơ các nước Đông Nam Á, và phạm vi khảo sát của chúng tôi là một
số quốc gia với những tác phẩm tiêu biểu sau:
- Indonesia - Malaysia: Hykayat Sêri Rama, Hikayat Hang Tuah.
- Việt Nam: Truyện Kiều, Lục Vân Tiên.

- Phương pháp liên ngành: Truyện thơ là thể loại cầu nối giữa văn học
dân gian và văn học thành văn nên vừa áp dụng phương pháp nghiên cứu văn
học viết, vừa sử dụng thi pháp folklore học, để thấy rõ quá trình bản địa hóa
và tiếp nhận của truyện thơ Đông Nam Á.
- Phương pháp loại hình: Nghiên cứu vấn đề ở góc độ đặc trưng của thể
loại truyện thơ.


- Phương pháp hệ thống: Dùng để nghiên cứu truyện thơ theo lịch đại
và đồng đại.
Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn kết hợp sử dụng các thao
tác: Thống kê, phân loại để nghiên cứu đề tài.
5. Đóng góp của luận văn
Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu truyện
thơ các nước Đông Nam Á ở các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, việc nghiên
cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ Đông Nam Á hiện còn ít
ỏi. Vì vậy với công trình này, chúng tôi nhằm góp thêm một ít nguồn tư liệu
khiêm tốn trong việc giới thiệu, phân tích và đánh giá nghệ thuật xây dựng
nhân vật của thể loại truyện thơ, qua đó góp phần tìm hiểu quá trình bản địa
hóa văn học Ấn Độ và Trung Hoa ở các nước khu vực Đông Nam Á.
Từ những tác phẩm cụ thể, luận văn bước đầu rút ra những nét phổ quát
trong kiểu nhân vật, tính cách nhân vật, tâm lí nhân vật của truyện thơ Đông
Nam Á, đồng thời cho thấy những đặc trưng dân tộc của một số quốc gia
trong khu vực. Trong phần phụ lục, chúng tôi sẽ giới thiệu tóm tắt nội dung
cơ bản của một số tác phẩm truyện thơ mà đề tài chọn khảo sát.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba
chương:
Chương 1: Truyện thơ Đông Nam Á - Bản sắc dân tộc và quá trình tiếp
biến

1.1. Những vấn đề khái quát
1.1.1. Vài nét về truyện thơ
1.1.1.1 Khái niệm
Truyện thơ là một thể loại văn học đặc biệt, nó là cầu nối giữa văn học
dân gian và văn học viết. Xung quanh khái niệm Truyện thơ, đã có nhiều ý
kiến khác nhau:
Theo Từ điển văn học (năm 2003, Đỗ Đức Hiểu chủ biên), truyện thơ “là
một thể loại văn học viết dưới hình thức văn vần, có cốt truyện.”[22, tr.823].
Còn tác giả Vũ Tuyết Loan và Nguyễn Sỹ Tuấn trong Văn học Campuchia
qua những chặng đường lịch sử cho rằng:
Truyện thơ là một thể loại tổng hợp gồm nhiều dạng văn học. Nó vừa là
truyện lại vừa là thơ. Nó chứa đựng cả huyền thoại, truyền thuyết, lịch sử,
thế giới hiện thực, thế giới tưởng tượng và những giáo lý quen thuộc. Nó
vừa là dân gian truyền miệng lại vừa là bác học thành văn [32, tr.142].
Lê Trường Phát cũng nêu rõ quan niệm của mình về thể loại độc đáo
này:“truyện thơ là những truyện được kể bằng hình thức thơ ca”[55, tr.49]
Theo wikipedia.org truyện thơ:
Là những truyện kể bằng thơ, biểu hiện cảm nghĩ bằng ngôn ngữ giàu
hình ảnh, cảm xúc, chứa đựng vấn đề xã hội. Có sự kết hợp yếu tố tự sự
và trữ tình, dung lượng lớn, mang tính chất cố sự của truyện kể dân gian,
biểu hiện dưới hình thức thơ ca với màu sắc trữ tình đậm[123].


Nếu như cách gọi tên thể loại truyện thơ ở một số nước Đông Nam Á đã
tương đối thống nhất, thì với truyện thơ Việt Nam còn nhiều điều bàn cãi.
Trong số các truyện Nôm của dân tộcViệt, chúng ta không thể không kể đến
truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu.
Hai tác phẩm này có lúc được gọi là truyện Nôm, khi thì gọi là truyện thơ
Nôm. Trong Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê cho rằng Truyện Nôm là “truyện
dài viết bằng chữ Nôm, thường theo thể thơ lục bát”[57, tr.1304]. Còn Lê Bá

truyện thơ cũng thể hiện màu sắc trữ tình qua các yếu tố thơ ca, nhạc
điệu…Và đằng sau các yếu tố đó là cái hay của ý, của tứ, của cảm xúc, của
tình cảm. Nhờ cảm xúc, nhờ tình cảm mà truyện thơ đã làm rung động trái tim
của bao người đọc, để lại một ấn tượng lâu bền.
Ngoài ra, nói đến truyện thơ là nói đến loại hình “diễn xướng” trong
sinh hoạt văn hóa dân gian. Có thể nói, sân khấu dân gian và sân khấu chuyên
nghiệp đã đưa các tác phẩm truyện thơ lên sân khấu và tái tạo lại, trả lại cuộc
sống thực của tác phẩm trên mọi phương diện. Ở Thái Lan trước đây, sepha
và khon là hai hình thức diễn xướng rất phổ biến trong sinh hoạt cộng đồng
của họ. Nếu như khon là một bộ môn nghệ thuật mang tính ước lệ, đậm chất
cung đình và chỉ chuyên diễn các trích đoạn lấy từ Ramakien thì sepha lại
giản dị và nội dung đa dạng hơn. Nghệ nhân hát sepha tại Thái Lan có thể đến
tận nhà dân chúng để biểu diễn trong các dịp vui: đám cưới, lễ đầy tháng, lễ
cạo đầu…Người hát sepha phải biết sử dụng nhạc cụ tự chế, phải đảm nhiệm
thêm công việc của một diễn viên hài (họ thường thêm thắt các tình huống
gây cười để được khán giả tán thưởng). Đây là lí do khiến các vở sepha đậm
chất hài hước. Điều đó thể hiện rất rõ trong Khun Chang Khun Phaen. Ở đây,
có nhiều tình huống gây cười chẳng hạn như miêu tả cái đầu hói, điệu bộ lúng
túng, lời ăn tiếng nói thô kệch của nhân vật Khun Chang. Ở Việt Nam, Truyện


Kiều và Lục Vân Tiên cũng đã được sân khấu hóa dưới dạng tuồng, cải lương
rất được quần chúng nhân dân yêu thích. Sau này nó còn được dựng thành
phim, tạo nên những ấn tượng sâu sắc đối với khán giả. Với thể lăm, khắp,
Xỉn Xay được truyền khắp các bản làng, các thôn cùng ngõ hẹp của đất nước
Triệu voi. Nhiều đoạn thơ dài trong Xỉn Xay biến thành xúphaxit, là những
khúc hát trữ tình phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Còn ở vương quốc
Campuchia, truyện thơ Tum Tiêu và Riêm Kê xuất hiện nhiều ở sân khấu dân
gian, sân khấu cung đình, sân khấu mặt nạ, sân khấu rối bóng...Ở Indonesia,
truyện thơ Sêri Rama và Hang Tuah được diễn xướng dưới dạng rối bóng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status