mối tương quan giữa thức thứ tám trong duy thức của phật giáo với vô thức trong phân tâm học của s freud - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
______________________

PHAN VĂN TRUNG

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THỨC
THỨ TÁM TRONG DUY THỨC CỦA
PHẬT GIÁO VỚI VÔ THỨC TRONG
PHÂN TÂM HỌC CỦA S. FREUD

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
______________________

PHAN VĂN TRUNG

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THỨC
THỨ TÁM TRONG DUY THỨC CỦA
PHẬT GIÁO VỚI VÔ THỨC TRONG
PHÂN TÂM HỌC CỦA S. FREUD

Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số
: 60 31 80


2.1.7. Bản chất của Thức thứ tám .................................................................... 66
2.2. Vấn đề vô thức trong phân tâm học của S.Freud ............................................... 69


2.2.1. Khái niệm Vô thức ................................................................................. 69
2.2.2. Nguồn gốc .............................................................................................. 69
2.2.3. Nội dung ................................................................................................. 70
2.2.4. Phương thức tác động ............................................................................. 70
2.2.5. Phạm vi tác động .................................................................................... 72
2.3. Về lịch sử ra đời của hai phạm trù (Hoàn cảnh ra đời) ...................................... 72
2.4. Về vị trí tầng bậc trong cấu trúc tâm lý con người ............................................ 73
2.5. Về chức năng ...................................................................................................... 74
2.6. Về cơ chế ............................................................................................................ 75
2.7. Tính vững bền .................................................................................................... 77
2.8. Về nguồn gốc ..................................................................................................... 78
2.9. Về nội dung ........................................................................................................ 79
2.10. Về trị liệu tâm lý .............................................................................................. 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 89


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo xuất hiện cách đây trên 2500 năm tại Ấn Độ cổ. Đến ngày
nay Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới. Không chỉ lớn
mạnh ở số lượng tín đồ mà sức ảnh hưởng còn thể hiện ở hệ thống triết học
đồ sộ trong Tam tạng kinh điển. Khoảng 100 năm sau Phật nhập Niết bàn,
Phật giáo phân chia thành hai bộ phái gồm phái thủ cựu được gọi là Thượng
tọa bộ và phái tân tiến còn gọi là Đại chúng bộ. Chính Đại chúng bộ là tiền
thân của Phật giáo Đại thừa. Bộ phái này phát triển rực rỡ với nhiều Đại

mạnh mẽ đến suy nghĩ của mọi người hơn lý thuyết này. Học thuyết Phân
tâm chỉ ra một thực tế:“Chúng ta không luôn ở trong trạng thái có thể kiểm


soát được bản thân một cách tuyệt đối nhờ ý thức. Ngược lại, chỉ là một thứ
đồ chơi trong tay những sức mạnh vô thức không chịu áp đặt của ý thức
[29, tr.206]. Lý thuyết vô thức của S.Freud thực sự ảnh hưởng về mọi mặt
đời sống xã hội, không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng trong tâm lý trị liệu mà
còn tới nhiều ngành khoa học khác,
Theo S.Freud, vô thức là nguồn gốc của mọi hành vi, là động lực của
hành động, quy định hành động. Nó tác động đến tâm lý mỗi cá nhân.
Những dồn nén, sự không thỏa mãn ham muốn tính dục thời thơ ấu là
nguyên nhân của hàng loạt các chứng rỗi nhiễu tâm lý, lệch lạc hành vi
trong suốt quá trình sống của con người. Xung lực tính dục luôn muốn bộc
lộ, tự phát nhưng luôn bị cái Tôi, ý thức dồn ép, đẩy xuống vô thức. Khi
không điều hòa được mâu thuẫn, xung đột này thì các chứng bệnh tâm lý
xuất hiện.
Như vậy ở đây có những tương liên nhất định giữa Thức thứ tám theo
Duy Thức học với Vô thức của Phân tâm về các phương diện nguồn gốc,
chức năng, vai trò của chúng trong việc điều khiển các hành vi của con
người. Trong thực tế nhiều người chưa hiểu về Duy thức (Thức thứ tám)
dẫn đến nhận định chưa đúng về vấn đề khoảng cách giữa Tâm lý học và
triết lý Phật học. Vấn đề đặt ra là cần tạo cầu nối giữa Phân tâm là khoa học
tâm lý với Duy thức là triết lý Phật giáo. Ý thức của việc này là sẽ: Một
mặt làm sáng tỏ tính khoa học trong lý thuyết A- lại - da (Thức thứ tám),
mặt khác đưa Phân tâm học tiến gần triết học Duy thức. Qua đó, giới thiệu
lý thuyết A- lại - da với tâm lý học hiện đại, cung cấp nhiều tư tưởng lý
luận triết học về nhiều mặt đời sống tâm lý con người, về sự tương đồng và
khác biệt giữa các cá nhân.
Vì những lí do trên, tôi chọn vấn đề nghiên cứu “ Mối tương quan

7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là phương pháp chủ yếu của luận văn. Chúng tôi tìm đọc những
tài liệu, những bài viết, những công trình nghiên cứu trong hệ thống kinh
điển của Phật giáo Đại thừa, các bộ luận tạng về Duy thức, các bài viết
nghiên cứu về Thức thứ tám và Vô thức trong học thuyết của Phân tâm học
của S.Freud. Trên cơ sở đó chúng tôi tổng hợp, phân tích, tiếp thu chọn lọc
những ý kiến, quan điểm phù hợp để phục vụ cho việc làm rõ các khái niệm
công cụ của đề tài.
7.2Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp bổ trợ. Chúng tôi khi viết các luận điểm về các
phạm trù về Phật giáo đặc biệt về phần Duy thức học, cụ thể là phần Thức
thứ tám (A - lại - da thức ) đều được thẩm định bởi các học giả có uy tín
của Phật giáo.


Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1. Nghiên cứu về thức thứ tám trong Duy Thức
Đức Phật bằng con đường thiền quán tư duy về Duyên khởi đã phát hiện ra
bản chất của chúng sinh và hiện tượng giới đều là Vô ngã. Thế giới và con
người được hình thành bởi một trật tự từ mối tương liên bất khả phân ly, từ
một tập hợp “trùng trùng duyên khởi” với các hệ thống quan hệ chằng chịt
tương hỗ lẫn nhau. Bằng cách thiền quán này, Đức Phật đạt được tuệ giác
siêu việt chứng ngộ bất tử. Sự kiện về sự giác ngộ của Đức Phật cùng với
hệ tư tưởng vô ngã luận đã ảnh hưởng trực tiếp không những đến xã hội Ấn
Độ cổ mà còn làm lung lay tận gốc, sụp đổ hàng loạt tư tưởng hữu ngã về
một cái tôi trường tồn bất hoại của các giáo phái triết học đương thời. Đức


Thủy (Nước, các chất lỏng)

(Tâm lý)


3.

Hỏa (Lửa, nhiệt)

4.

Phong (Gió, hơi thở)

5.

Không (Hư không)

6.

Thức (Ý thức)

Năm uẩn là con người và chính năm uẩn cũng là thế giới. Thế giới này là
thế giới của duyên sinh. Đức Phật định nghĩa về duyên sinh như sau:
“Do vô minh có hành sinh, do hành có thức sinh, do thức có danh sắc sinh,
do danh sắc có lục nhập sinh, do lục nhập có xúc sinh, do xúc có thọ sinh,
do thọ có ái sinh, do ái có thủ sinh, do thủ có hữu sinh, do hữu có sinh sinh,
do sinh có già, chết, ưu, bi, khổ não sinh hay toàn bộ khổ uẩn cùng sinh.
Đây gọi là Duyên sinh” [45, tr.70].
Duyên sinh hay mười hai nhân duyên là ý nghĩa về sự vận hành của

ra thì 12 nhân duyên không còn nữa hoặc sẽ thay đổi sang một cấu trúc
khác mà nó sẽ ngự trị đến khi nào sinh mạng ấy thành Phật, nghĩa là chấm
dứt luân hồi sinh tử. Thật ra khi mạng căn chấm dứt (chết), thân vật lý sẽ
tan hoại còn thức năng vẫn tồn tại nhưng nó sẽ được gọi là nghiệp thức,
nghiệp này có công năng dẫn khởi sự tái sinh.
Trong duyên sinh, duyên khởi, mối quan hệ giữa danh - sắc và thức là biện
chứng. Danh sắc từ thức mà có – như lời Phật dạy trong kinh Đại duyên
phương tiện:
“Này Anan! Nhờ duyên vào thức mới có danh sắc. Như vậy là có ý nghĩa
gì? Nếu thức không vào bào thai mẹ…,khi đã vào bào thai rồi mà không
sinh ra thì có danh sắc không?...Thức ra khỏi bào thai nhưng em bé bị tử
vong thì danh sắc ấy có tăng trưởng không? Anan đáp: Không, bạch Thế
Tôn. Đức Phật tuyên bố: Này Anan, Ta vì lý do này nên biết danh sắc là do
thức, cho nên nói duyên thức mà có danh sắc. Đây chính là vấn đề ta muốn
nói…Nếu thức không tồn tại trong danh sắc thì thức không có chỗ trú, nếu
thức đã không chỗ trú, hà có thể có mặt sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, khổ
ưu, não hay sao?..Vì vậy nên nói duyên Danh sắc mà có Thức” [9, tr.32].
Thức trong duyên khởi chắc chắn không phải là sáu thức giác quan vì sáu
thức này sinh diệt gián đoạn. Có những trường hợp sáu thức này không xuất
hiện như khi chết ngất bất tỉnh hoặc vào trạng thái thiền định như : Diệt tận
định, Vô tưởng định. Thức này trong quan hệ với đời sống của chúng sinh
là yếu tố duy trì sinh mạng. Thức trong duyên khởi là tiền đề tư tưởng cho
các quan điểm về sau này như: Căn bản thức của Đại chúng bộ, Hữu phần
thức của Thượng tọa bộ, Sinh tử uẩn của Hóa địa bộ và đặc biệt là học
thuyết A - lại - da (Thức thứ tám ) của Đại thừa Phật giáo (Phật giáo phát
triển).
Giáo lý Tứ đế, Ngũ uẩn, Duyên sinh là giáo lý căn bản, nền tảng của Phật
giáo. Để dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu về phương diện lịch sử cũng như
để tiện cho việc nghiên cứu về Thức thứ tám được hình thành từ trên tiền đề
cơ sở lý luận nào, chúng tôi phân chia thành 3 thời kỳ:

Nhiệm vụ của Bổ - đặc - già - la là chủ thể luân hồi kéo dài từ đời trước
đến đời sau; Bổ - đặc – già - la là khả năng ghi nhớ, “ghi nhớ những sự việc
mình đã làm, trước là do tự thân thâu nạp, nay cũng tự nó lại nhớ ra”
[9, tr.80]. Lúc sáu thức giác quan gián đoạn thì Bổ-đặc-già-la vẫn tồn tại, do
đó Bổ-đặc-già-la là nền tảng cho sáu thức sinh khởi.
Đại chúng bộ cho rằng “tâm biến khắp cả thân”. Lập luận này đồng nhất
biểu hiện của tâm biến khắp cả thân (Tế ý thức) với cảm giác toàn thân
(cảm thọ). Trong đó, chủ thể chấp thọ là tâm, đối tượng chấp thọ là căn thân
(cơ thể). Động lực duy trì sự tồn tại sinh mạng là Tế ý thức. Ngài Khuy Cơ
nhận định:
“Tế ý thức biến khắp và nương vào thân, tay sờ chân đạp đều có thể cảm
nhận được cho nên biết ý thức vi tế biến khắp cả trong thân, chẳng phải chỉ
một sát na mà có thể biết được thứ lớp của nó. Vì thế, nhất định ý thức biến
khắp trong thân” [9, tr.83].
Theo Đại chúng bộ, những trường hợp như bất tỉnh, chết ngất thì lúc đó các
giác quan tạm ngừng hoạt động như không thể nghe, ngửi, nếm, cảm giác
xúc chạm, khả năng tư duy phân biệt nhưng ý thức vi tế vẫn có mặt. Nhờ có
tâm vi tế vẫn hiện hữu mà sinh mạng được duy trì. Sau khi bất tỉnh, người
đó lại có khả năng hồi phục như mắt có thể nhìn, tư duy, phân biệt…Tâm vi
tế hay Căn bản thức là cơ sở tồn tại của sáu thức như cây nương vào rễ cây
mà sống. Căn bản thức là nơi y cứ của sáu thức. Ngài Thế Thân khẳng định:
“Phải nói căn bản thức là nhân tố căn bản của tất cả các thức, giống như
rễ cây làm nhân cho cành lá, nếu lìa bỏ căn ấy thì cành lá cũng không tồn
tại [9, tr.163].


Như vậy sự tồn tại hay không tồn tại của một sinh mạng là phụ thuộc vào
sự có mặt hay không có mặt của Tế ý thức (căn bản thức). Nhờ Thức căn
bản này mà sáu thức mới có thể khởi ra tác dụng nhận thức. Bản thức đã
bảo tồn, phát triển nhận thức cho các giác quan. Nếu không có bản thức thì

Thức Tam Thập tụng của ngài Thế Thân.
Đến thế kỷ thứ VII (SCN) đời nhà Đường có ngài Huyền Trang sang NaLan-Đà (Ấn Độ) học Duy Thức với ngài Giới Hiền cùng các luận sư đương
thời. Ngài Huyền Trang về nước, dịch kinh, trước tác, soạn thuật, phát huy
giáo nghĩa Duy Thức. Huyền Trang cùng với đệ tử là ngài Khuy Cơ soạn
thuật bộ Thành Duy Thức luận. Đây là bộ luận tổng hợp tư tưởng, giáo
nghĩa căn bản về Duy Thức của 10 vị luận sư Duy Thức tại học viện NaLan-Đà, trong đó ngài Huyền Trang lấy tư tưởng của Luận sư Hộ Pháp làm
trung tâm.


Trong Thành Duy Thức luận, khi chứng minh sự tồn tại của Căn bản thức
(Thức thứ tám), Bộ luận này đã đưa ra dẫn chứng dựa vào các bộ kinh điển
Đại Thừa được coi như là nguồn nhận thức có thẩm quyền.
Dẫn chứng trong kinh Đại thừa A-tỳ-đạt-ma có ghi:
“Giới, từ vô thủy đến nay, là sở y của hết thảy pháp, do tồn tại cái này mà
có các cõi thú và có sự chứng đắc Niết Bàn” [11, tr.27].
Chữ “Giới” có nghĩa là nhân, tức là những chủng tử (hạt giống) được tàng
trữ nơi Thức thứ tám, từ vô thủy đến nay lần lượt tiếp nối, sinh ra các pháp
(sự vật, hiện tượng, tâm lý và vật lý) .Chữ “sở y” nghĩa là nương vào,
duyên vào, nó gìn giữ, bảo tồn tất cả các pháp không cho tàn hoại. Do tồn
tại thức này mà biểu hiện ra tất cả các pháp, trong đó có các pháp thiện và
ác. Nghĩa là do Thức thứ tám này chấp trì (gìn giữ) tất cả chủng tử làm
nhân và làm duyên cho sinh tử luân hồi. Do nó cũng chứa đựng hạt giống
của giác ngộ nên nó cũng là cơ sở “chứng đắc Niết Bàn”. Thức này có từ vô
thủy, chứa đựng tất cả các hạt giống của thiện và ác, vô minh và giác ngộ,
sinh tử và Niết Bàn.
Phẩm Tâm Thức trong kinh Giải Thâm Mật do Hòa thượng Trí Quang dịch
có nói tới Thức thứ tám với tên gọi khác là A-đà-na thức:
“Tốt lắm, Quảng Tuệ! Ông nên nhận thức rằng sự sinh tử trong sáu đường,
chúng sinh chết ở thế giới nào rồi sinh vào thế giới nào, thì thân thể hoặc
sinh trong loài sinh bằng trứng, hoặc sinh trong loài bằng thai, hoặc sinh

Khởi mọi thứ sóng mòi
Sanh tác dụng hiện tiền
Không lúc nào gián đoạn
Biển tạng thức cũng thế
Gió cảnh giới kích động
Thường khởi các sóng thức
Sanh tác dụng hiện tiền” [44, tr.72].
Câu đầu bài tụng nói lên bản tính của thức thứ tám. Vì các thức khác như
nhãn thức (cái biết của mắt), nhĩ thức (cái biết của tai), thân thức (cảm giác
xúc chạm)… không thể ví như biển được. Vì các thức đó hoạt động trong
từng lĩnh vực riêng, ví dụ như nhãn thức tức là cái biết về hình sắc thì
không thể biết về hương vị. Các thức này hoạt động có lúc gián đoạn,
không liên tục.
Đến ngài Thế Thân, tư tưởng Duy Thức nói chung, lý thuyết về A-lại-da
với những đặc tính “bất khả tri, chấp thủ và duy trì.., thức này và các tâm
sở của nó là vô phú và vô ký, trôi chảy như dòng sông, đến quả vị La Hán
thì tất cả đều buông xả” [45, tr.98].
Bộ Duy Thức tam thập tụng của ngài Thế Thân là nền tảng cơ sở lý luận
quan trọng của tông Duy Thức. Về sau, khi ngài Huyền Trang sang du học
tại Na-lan -đà, đã trực tiếp nghiên cứu Duy Thức với ngài Giới Hiền, học
tập về Duy Thức Tam Thập Tụng, nghiên cứu và tập hợp quan điểm giải
thích của mười vị luận sư Duy Thức rất nổi tiếng đương thời. Sau khi về
nước, ngài Huyền Trang trước tác, soạn thuật từ quan điểm của mười luận
sư khi giải thích về Tam Thập Tụng thành bộ Thành Duy Thức Luận.
Tóm lược yếu chỉ Duy Thức, cấu trúc tâm lý trong Duy Thức làm nên bộ
luận “Bát thức quy củ tụng”. Đệ tử Huyền Trang là ngài Khuy Cơ cũng
soạn thuật “Thành Duy Thức Luận Thuật ký”. Đến thời kỳ nhà Đường,
bằng nỗ lực của thầy trò Huyền Trang, giáo nghĩa Duy Thức nói chung và
Thức thứ tám nói riêng được tích cực khai triển, phát triển, ứng dụng. Nó
trực tiếp ảnh hưởng đến Phật Giáo Trung Hoa và được giới học giả đương

những vật thể xác định. Leibnir đưa ra quan điểm:
“Về mặt lý thuyết, tính tích cực của đơn tử trong các hành động tâm lý
hoàn toàn có thể diễn ra với các mức độ ý thức khác nhau, từ hầu như hoàn
toàn vô thức đến ý thức một cách rõ ràng sâu sắc. Mức độ thấp nhất của ý
thức được gọi là những cảm nhận nhỏ bé, sự thực hiện có ý thức của chúng
có tên gọi là tổng giác” [29, tr.210].
F.Herbart (1776-1841) quan niệm: “Các ý tưởng tác động lẫn nhau giống
như sức mạnh máy móc. Những ý tưởng nằm dưới một ngưỡng nhất định
thường không được ý thức gọi là vô thức. Khi ý nghĩ đạt đến một mức đô ý
thức thì nó được tổng giác” (thuật ngữ của Leibniz). Nhưng để một ý tưởng
này hay khác đạt đến mức ý thức thì nó cần phải được so sánh đối chiếu với
ý tưởng đã nằm trong phạm vi ý thức. Những ý tưởng không thống nhất với
nhau sẽ không tồn tại trong ý thức cùng một lúc và bị chèn ép, bị gạt xuống
tầng vô thức. Theo Herbart, những ý tưởng khác nhau thường cạnh tranh
xung đột lẫn nhau để có được ý thức hóa.
Schopen Hauer (1771-1860) nhà triết học Đức chủ xướng của trào lưu ý chí
luận (nhằm chống lại trào lưu lí tính). Ông chủ trương cái thực không phải
linh hồn nhận thức cũng không phải là chất mà là một năng lực vô thức,
thúc đẩy con người và vũ trụ, năng lực đó gọi là ý chí.


Đặc biệt những năm 80 của thế kỷ 19, những quan niệm khác nhau xoay
quanh vấn đề khái niệm vô thức, sự xuất hiện của cuốn sách “Triết học vô
thức” được đánh giá là thành công nhất với 9 lần tái bản.
Không thể không nhắc đến Henri Berson (1859-1941), nhà triết học Pháp
nổi tiếng với các công trình khảo cứu, tiêu biểu nhất là “Tiến hóa sáng tạo”
xuất bản năm 1907 . Ông chủ trương thuyết sức sống, “Đà sống” là sức
thích ứng sáng tạo từ những xung động bản năng vô thức được con người
thực hiện trong quá trình sống và hoạt động.
Nhưng phân tâm học thực sự trở thành một ngành khoa học độc lập và vấn

đời thường của xã hội, đặc biệt là xã hội phong kiến Phương Đông như
nước ta” [29, tr.208].
Phân tâm học tập trung nghiên cứu về vô thức, kết quả thu nhận dựa trên
phương pháp quan sát lâm sàng. Do vậy, những chuẩn đoán về tâm lý, rối


nhiễu hay bệnh lý, nững luận giải được rút ra từ kỹ thuật lâm sàng rất khó
lượng hóa chính xác. Mặt khác, đối tượng mà Phân tâm học nghiên cứu
không phải là các hành vi bình thường, có ý thức mà lại là các hành vi bất
thường, hoạt động ở tầng vô thức, rất khó kiểm soát, khó nhận biết theo
cách thông thường.
Với môi trường văn hóa Việt Nam, Phân tâm học với hệ thống lí luận, khái
niệm, thuật ngữ khá “ nhạy cảm” nên để được tiếp nhận, hòa nhập cần phải
có thời gian để thích ứng và nghiên cứu dần dần.
Hiện nay phần lớn các công trình nghiên cứu về Freud đối với tâm lý học
dừng lại ở khía cạnh dịch thuật, mô tả, nhưng cũng có một số tác giả đã cố
gắng khai thác các khía cạnh tâm lý, quan điểm tư tưởng phân tâm như
Phạm Minh Lăng…
Về tình hình nghiên cứu Duy Thức ở Việt nam cũng diễn ra tương tự. Thực
tế, trào lưu nghiên cứu về Duy thức được tiến hành và phát triển mạnh mẽ
vào những năm đầu của thế kỷ XX. Lí do chủ yếu là ở những thời kỳ trước
nguồn tài liệu về môn học này ở Việt Nam còn rất hạn chế, hơn nữa các tài
liệu lại ở dạng phiên bản Hán tạng, việc tiếp cận ở dạng nguyên bản Phạn
tạng cổ xưa làm cơ sở để đối chiếu gặp nhiều khó khăn. Đến khi cuộc vận
động chấn hưng Phật giáo của đại sư Thái Hư bên Trung Hoa phát triển, rồi
làn sóng cách tân hóa, khơi dậy sức sống cuả Phật giáo được lan tỏa đến
Việt Nam. Từ đó, Duy Thức được nghiên cứu ứng dụng trong tu tập hành
trì của giới Phật tử Việt Nam một cách phổ biến. Tất nhiên, điều đó không
có nghĩa là chỉ những năm đầu thế kỷ này mới xuất hiện giáo lý Duy thức ở
nước ta, phải thừa nhận rằng tư tưởng Duy thức đã có và thấm nhuần trong

1.2.2.1. Khái quát về Phân tâm học
Phân tâm học là tâm lý học phân tích do bác sỹ thần kinh người Áo thế kỷ
XIX tên là Singmund Freud sáng lập ra. Phân tâm học phân tích tâm lý đối
tượng tiếp cận với mục đích ban đầu là điều trị bệnh Hystery. Không truy
tìm nguyên nhân của bệnh này ở mặt sinh học mà truy tìm nguyên nhân ở
mặt tổn thương tâm lý là đặc điểm của Phân tâm học.
Trong các tác phẩm của mình, S.Freud đưa ra định nghĩa về Phân tâm học:
“Phân tâm học là một phương pháp y học chữa trị những bệnh thần kinh”
hoặc “ phân tâm học là: 1/ Tên gọi của một phương pháp nghiên cứu các
quá trình tâm hồn thường không thể biết được. 2/ Tên gọi của một phương
pháp chữa các chứng rối loạn thần kinh dựa trên việc nghiên cứu nó. 3/
Tên gọi của một loạt các quan niệm tâm lý học thu được trên con đường đó,
dẫn đến phát triển chung thành một ngành khoa học mới”. [29, tr.245].
Theo S.Freud, tâm lý học trước đây chỉ dừng lại ở ý thức, hữu thức tức lý
trí mà ông gọi là “tâm lý học bề mặt”. Vì vậy cần phải có tâm lý học miền
sâu. Miền sâu đó là vô thức. Ông chia quá trình tâm lý con người thành ba
bậc: Ý thức, Tiền ý thức, Vô thức. Nếu ý thức là tâm lý nhận biết của con
người thì vô thức là hiện tượng tâm lý nằm ngoài phạm vi lý trí do bản
năng, thói quen và dục vọng của con người gây ra. Khi bị kìm nén nó được
giải tỏa bằng những giấc mơ, những lời nói lỡ, hay sự quên. Như vậy với
S.Freud, vô thức mới là căn cứ của hành vi con người, người chủ thật sự
tinh thần con người không gì khác ngoài vô thức. S.Freud quan niệm trong
mỗi cá nhân có bộ máy tâm thần bao gồm Cái ấy (bản năng tồn tại theo
nguyên tắc thỏa mãn.), Cái tôi (tồn tại theo nguyên tắc hiện thực) và Cái
siêu tôi (nhân tố đạo đức, chuẩn mực trong nhân cách).
Theo Phân tâm học, quá trình hình thành nhân cách con người chính là quá
trình hình thành và phát triển giải quyết các mâu thuẫn, các xung đột giữa
“cái tôi” và “cái siêu tôi”. Trong quá trình này tùy thuộc vào từng cá thể,
từng hoàn cảnh, điều kiện, có thể cá nhân sẽ trở nên một người hoàn toàn
bình thường, cũng có thể trở thành một người bệnh hoạn thần kinh mà các

tư cách là một nhà thần kinh lâm sàng. Ông kết thân với Breuer (18421925), một bác sỹ tâm thần. S.Freud rất tích cực sử dụng phương pháp thôi
miên và thanh trừ mà Breuer đã dùng trong hàng loạt các điều trị về sau.
Ông đưa ra một kỹ thuật tâm lý mới- đó là phương pháp liên tưởng tự do.
Phương pháp này được ông trình bày trong một báo cáo tại hội tâm thần
học và thần kinh học ở Viene năm 1896. Kết quả của quá trình nghiên cứu
và trị liệu thì Freud đã cho xuất bản hàng loạt các công trình khoa học, các
cuốn sách có giá trị như: Đoán giải những giấc mơ (1900), Ba tiểu luận về
học thuyết tính dục (1905). Năm 1910, S.Freud cùng các đệ tử thành lập
Hội phân tâm học quốc tế. Năm 1918, thành lập nhà xuất bản Phân tâm học
và năm 1924 thì công bố những tập đầu của Toàn tập S.Freud.
S. Freud làm việc hết mình cho khoa học. Ông đã vượt qua những khó
khăn, nguy hiểm do căn bệnh ung thư vòm họng và sự khủng bố đe dọa của
Hitle. Ông làm việc với cường độ cao: “Ban ngày tại phòng khám, tiếp xúc
với hàng chục bệnh nhân, tập trung chú ý lắng nghe và quan sát lời nói,
hành vi bệnh nhân. Đêm đến, phân tích, sàng lọc các sự kiện thu được để từ


đó xây dựng nên học thuyết của mình mà không có người giúp việc” [29,
tr.231].. Năm 1939, S.Freud qua đời. Trong sự nghiệp khoa học của mình,
Ông đã để lại một số lượng lớn các tác phẩm mà cho đến nay nội dung của
chúng vẫn còn là đề tài nghiên cứu, thậm chí tranh luận giữa nhiều học giả.
Đó là những công trình: Nghiên cứu về Hysteria (1895), Lý giải những giấc
mơ (1900), Tâm lý học đời sống thường ngày (1901), Ba tiểu luận về lý
thuyết tính dục (1905), Nền văn minh và bất mãn của nó (1930).
b. Quan điểm về cái vô thức và ý thức trong đời sống tinh thần
Vấn đề vô thức là vấn đề trọng tâm trong học thuyết phân tâm của S.Freud.
Có thể nói học thuyết Phân tâm của S.Freud cơ bản dựa trên khái niệm vô
thức. Tâm lý học thời kỳ đó vấn đề vô thức ít được quan tâm chú ý. Họ coi
hành vi vô thức là hành vi có ý thức nhưng đã bị lãng quên. Chỉ trong
trường hợp đặc biệt, hành vi đó mới được khơi dậy bởi ý thức. Đời sống


Một hành vi vô thức có trở thành ý thức hay không phụ thuộc vào việc nó
có phù hợp với người kiểm soát hay không. Sự kiểm soát này gọi là hành vi
chống đối của ý thức. Sự chuyển hóa từ vô thức thành ý thức thực chất là
quá trình ý thức hóa hành vi vô thức.
Thứ năm: Về vai trò của vô thức và ý thức. S.Freud sử dụng hình ảnh tảng
băng trôi. Phần nhỏ bé nổi trên mặt nước được ví như tầng ý thức, phần
giáp gianh là tiền ý thức, còn toàn bộ khối băng chìm trong lòng biển là vô
thức. Phần nằm dưới nước lớn hơn nhiều lần phần nổi, nó quy định phương
hướng vận động và số phận tảng băng đó. Cũng như vậy, vô thức là nguồn
gốc mọi hành vi đời sống con người, quyết định nhân cách mỗi cá nhân.
[29, tr.249].
c. Cấu trúc bộ máy tinh thần
S. Freud đưa ra cấu trúc bộ máy tâm thần mỗi con người. Bộ máy tâm thần
bao gồm ba bộ phận; cái Ấy, cái Tôi, và cái Siêu tôi. Trong đó:
+ Cái Ấy: là những nhu cầu mang tính bản năng sinh lý như nhu cầu ăn
uống, tình dục…Nó là những xung lực được phát ra từ tổ chức thể chất và
những biểu hiện tâm lý sơ đẳng nhất mà ta chưa biết. Cái ấy là tất cả những
gì con người đã có khi sinh ra. Cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thỏa mãn. Nó
truyền năng lượng vào bất kỳ đối tượng nào sẽ làm thỏa mãn những bản
năng đang thúc đẩy, bất chấp đối tượng đó có thực sự làm nó thỏa mãn hay
không..
+ Cái Tôi: là cái nhân tố được nảy sinh sau cái ấy. Do tác động của hiện
thực bên ngoài, một phần của cái ấy tiến triển đặc biệt, dẫn đến hình thành
một tổ chức làm trung gian giữa cái ấy với bên ngoài. Cái tôi hoạt động
hướng ra bên ngoài, nó nhận biết các kích thích, tích lũy các kinh nghiệm,
chống lại kích thích mạnh bằng cách chạy trốn, thích nghi với kích thích
phù hợp (bằng thích ứng). Đối với bên trong, cái tôi tiến hành hoạt động
chống lại cái ấy, bằng cách giành quyền làm chủ các đòi hỏi xung lực và
cân nhắc, quyết định xem liệu các nhu cầu đó có thể thỏa mãn ngay được

Theo S.Freud, toàn bộ sức mạnh tác động ở phía sau những nhu cầu cấp
bách của cái ấy, và biểu hiện những yêu cầu thuộc loại thể chất trong tâm
thần là xung lực.
Xung lực bắt nguồn từ nhu cầu của cơ thể. Những nhu cầu này đòi hỏi phải
được đáp ứng để đảm bảo sự sinh tồn. Nhưng theo ông có hai đặc điểm nổi
bật khi nghiên cứu về xung lực: Thứ nhất, các xung lực có thể thay đổi mục
đích bằng cách di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác và chúng có
thể thay thế nhau, năng lượng của xung lực này có thể chuyển sang xung
lực khác. Thứ hai, con người có hai xung lực cơ bản là tính dục và phá hủy.
Xung lực tính dục (Eros) giúp duy trì sự tồn tại, nó hướng tới các hoạt động
nhằm duy trì sự sống như ăn uống…Xung lực phá hủy (Thanatos) được
xem là tập hợp những xung lực tàn phá có ở tất cả mọi người, như bản năng
giết chóc, phá hủy…
Xung lực tính dục không phải là nhu cầu tính dục nói chung mà xung lực
khát dục (Libido - tiếng La tinh nghĩa là dục vọng). Cũng như con người
đói thì nhu cầu trên hết, bức thiết nhất cần được thỏa mãn là phải ăn. Theo
cách hiểu của S.Freud thì Libido giống như sự đói ăn nói chung.
Xung lực Libido chính là sự tạo ra khoái lạc nhục dục do nhu cầu tính dục
được thỏa mãn: “Nó là nguồn năng lượng vốn có ngay từ khi con người mới
sinh tiếp tục tồn tại đến tuổi già. Libido không cố định vào một đối tượng
nào mà là một khối sục sôi cần phải được thỏa mãn” [29, tr.260].
1.2.2.3. Vai trò của Vô thức trong trị liệu tâm lý
a. Nguyên tắc của trị liệu phân tâm
Trong trị liệu tâm lý, nhà trị liệu phải xác định rõ quan niệm về Vô thức của
S.Freud để từ đó sử dụng các phương pháp vào trong nghiên cứu, trị liệu
đạt kết quả. Ông quan niệm, Vô thức bị chặn đường vào ý thức và ở
ngưỡng cửa của nó là sự " kiểm duyệt". Những dục vọng, ham muốn bị dồn
nén không bị tước mất năng lượng của mình và do đó thường cố gắng đột



nhận xét, khám phá bằng những kỹ thuật khác nhau. Hỏi chuyện - là khâu
chủ yếu của phương pháp lâm sàng, thông qua trò chuyện để tìm hiểu,
khám phá nội dung tiềm ẩn, tâm lý bên trong.
S.Freud nhận định: điều quan trọng đối với ông là tiến trình suy nghĩ của
bệnh nhân của mình, bị che dấu không chỉ với bác sĩ mà còn đối với chính
bệnh nhân [29, tr.286]. S.Freud đã tìm kiếm trong nó chìa khóa đẫn đến Vô
thức. Ông cố gắng giải thích điều phù hợp với sự liên tưởng không phải
nằm ở thế giới của những vật thể bên ngoài mà nằm ở trong thế giới bên
trong của chủ thể. Thực chất của phương pháp liên tưởng là nhà trị liệu phải
giúp đỡ bệnh nhân nói ra hết mọi ý nghĩ đang diễn ra chợt thoáng qua trong
đầu mình. Mục đích chính của liên tưởng tự do là làm suy yếu tất cả những
kìm hãm và phê phán cái Vô thức của Ý thức. Làm cho cái Vô thức được
lộ ra trước bệnh nhân và nhà trị liệu. Tất nhiên trong quá trình thực hiện
phương pháp liên tưởng sẽ gặp phải sự "chống đối" từ bên trong, tức là sự


trấn áp, quản trị từ cái Tôi xã hội. Chính cái Tôi này là lực lượng kiểm
duyệt cái Vô thức. Do vậy nhà trị liệu cần nhận diện sự có mặt của" sự
chống đối" vì ở đâu có nó thì ở đó chắc chắn có những ham muốn" chưa bị
kiểm duyệt". Nhà trị liệu cũng cần biết sự có mặt của " sự di chuyển sang
bác sĩ những tình cảm thời thơ ấu của bệnh nhân" [29, tr.286] và phân tích
sự di chuyển sự chống đối là yếu tố trọng yếu của quá trình trị liệu phân
tâm.
Ngoài ra, phương pháp thấu hiểu cũng đặc biệt quan trọng. Trong quá trình
tiếp xúc, giao tiếp với bệnh nhân. Nhà trị liệu phải biết liên kết, xử lí thông
tin, từ lời nói cử chỉ, điệu bộ của họ để có những phát hiện tính có " vấn đề"
trong các sự kiện đó. Tức là phải tìm hiểu cái ẩn núp đằng sau các sự kiện
quan sát được, lần theo chúng. Nhưng các nhà phân tâm cũng phải chú ý
những thông tin và những ý nghĩ của bện nhân chỉ là những biến dạng của
những gì nhà nghiên cứu cần tìm kiếm. Một điểm nữa quan trọng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status