Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Nguồn: www.toilaai.vn....................................................................................................................xci
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng biểu
Nguồn: www.toilaai.vn....................................................................................................................xci
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SV Sinh viên
KTQD Kinh tế Quốc dân
K Khóa
KHCĐ Kế hoạch cuộc đời
ĐH Đại học
NXB Nhà xuất bản
CLB Câu lạc bộ
ĐH Đại học
PHẦN I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lớp: Kế Hoạch 48B
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề nhằm hướng tới việc trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi tổng quát :
Thực trạng hoạt động lập kế hoạch cuộc đời của SV hiện nay như thế nào? Cần
phải làm gì, làm như thế nào để tăng cường hoạt động lập KHCĐ của SV?
Câu hỏi cụ thể:
Câu hỏi 1: Tại sao sinh viên cần lập kế hoạch cuộc đời ? Nội dung bản KHCĐ?
Phương pháp lập KHCĐ? Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập KHCĐ của SV ?
Câu hỏi 2 : Hiện tại công tác lập KHCĐ của SV KTQD như thế nào? Có những
ưu điểm gì ? Có những hạn chế gì đang tồn tại? Nguyên nhân của những hạn chế đó?
Câu hỏi 3: Cần có những giải pháp nào để tăng cường công tác lập KHCĐ cho
SV KTQD?
Mục tiêu nghiên cứu là nhằm trả lời cho các câu hỏi trên với các nội dung cụ
thể sau:
Mục tiêu tổng quát : Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác lập kế hoạch và mô
hình, quan điểm liên quan tới lập KHCĐ trên thế giới. Xem xét và nghiên cứu thực tế
tại trường KTQD, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể .
Mục tiêu cụ thể:
Về lý luận:
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động lập kế hoạch bao gồm: khái
niệm, vai trò, qui trình...dựa trên những tài liệu đã học, Nghiên cứu về sự cần thiết
phải lập KHCĐ của SV (chương I)
Về nghiên cứu:
Nghiên cứu mô hình, quan điểm liên quan tới lập KHCĐ trên thế giới. Tập
trung vào những công trình nghiên cứu về con người (chương II)
Về phân tích đánh giá:
Phân tích tình hình hoạt động lập KHCĐ của SV KTQD. Đánh giá trình hình
ánh tính hiệu quả, tính kết quả.
Phương pháp phân tích - tổng hợp để nghiên cứu vấn đề, từ đó có nhận xét,
đánh giá để tìm ra những nguyên nhân, giải pháp giải quyết vấn đề.
5. Kết quả dự kiến đạt được
Qua việc nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn công tác lập KHCĐ sẽ đánh giá
được những hạn chế còn tồn tại và chỉ ra được nguyên nhân chính; từ đó đưa ra các
giải pháp cụ thể để tăng cường công tác lập KHCĐ với SV.
6. Kết cấu đề tài
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì bố cục của chuyên đề tốt nghiệp bao gồm ba
phần chính như sau:
Chương I: Sự cần thiết của công tác lập kế hoạch cuộc đời đối với sinh viên
Chương II: Các quan điểm và mô hình về việc lập kế hoạch cuộc đời
Chương III: Thực trạng công tác lập kế hoạch cuộc đời của sinh viên, nghiên
cứu trường hợp của trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Chương IV : Một số khuyến nghị đối với công tác lập kế hoạch cuộc đời của
sinh viên Việt Nam hiện nay
Đề tài được kết cấu theo Logic sau:
II. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Lập kế hoạch cuộc đời thực chất là quá trình tìm hiểu chính bản thân mình, biết
mình thực sự muốn gì và đưa ra các chương trình hành động để có thể đạt được mục
tiêu đã đặt ra. Có thể nói, đề tài này là sự giao thoa giữa triết học và kinh tế, giữa yếu
tố nội tại của mỗi người với thế giới bên ngoài đầy biến động.
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
7
tác lập KHCĐ
của SV, nghiên
cứu tại trường
ĐH KTQD
Giới thiệu chung
về trường ĐH
Kinh Tế Quốc
Dân
Thực trạng công
tác lập KHCĐ
của SV trường
ĐH KTQD
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
Các tài liệu lí thuyết về lập kế hoạch chủ yếu được trình bày theo từng nội dung
cụ thể như: Kế hoạch kinh doanh, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội...Tuy nhiên, các
nội dung này cũng đưa ra được định nghĩa, vai trò, các nhân tố ảnh hướng tới các nội
dung cụ thể của kế hoạch. Một số lí thuyết về lập kế hoạch đã nghiên cứu được thể
hiện qua các tài liệu sau :
- Giáo trình Chương trình và Dự án phát triển kinh tế – xã hội, NXB Thống
kê,1999
- Giáo trình Kế hoạch kinh doanh, NXB Lao động - Xã hội,2006
- Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2009
Tuy nhiên, các lí thuyết về lập kế hoạch cuộc đời thì chưa có tại Việt Nam.
Điều này khiến cho việc nghiên cứu về nội dung này trở nên khó khăn hơn. Mặc dù
vậy, đã có mốt số bài viết trên các báo lớn về đề tài lập kế hoạch cuộc đời, cụ thể như
sau:
- Kế hoạch cuộc đời – bài viết của Đỗ Chí Nghĩa trên VietNamNet
- Không kế hoạch, thành công chỉ là ăn may - bài viết của Kiều Oanh trên
VietNamNet
PHẦN II: NỘI DUNG
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH
CUỘC ĐỜI ĐỐI VỚI SINH VIÊN
I. LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH
1. Khái niệm kế hoạch
Hiểu theo cách chung nhất, kế hoạch là sự thể hiện cách thức, giải pháp cho
một hoạt động nhằm đạt được mục đích và kết quả như mong muốn. Nó có thể được
xem như nhịp cầu nối hiện tại và vị trí mà chúng ta muốn đến trong tương lai. Tuy
nhiên, nếu xét về bản chất, kế hoạch chính là sự hướng tới tương lai. Tính chất đó của
kế hoạch được thể hiện ở hai nội dung như sau:
- Kế hoạch dự báo những gì sẽ xảy ra, đặt ra kết quả đạt được trong tương lai.
- Kế hoạch thực hiện việc sắp đặt các hoạt động của tương lai, các công việc
cần làm và thứ tự thực hiện các công việc để đạt được kết quả đã định.
Để thể hiện hai nội dung trên, các kế hoạch thông thường sẽ đi trả lời bốn câu
hỏi chính như sau :
- Chúng ta đang ở đâu ?
- Chúng ta muốn đi đến đâu ?
- Làm thế nào để chúng ta đi đến đó ?
- Làm thế nào để chúng ta luôn đi đúng hướng ?
Tương ứng với bốn câu hỏi đó là bốn giai đoạn của quá trình lập kế hoạch. Đó
chính là: Phân tích tổng quan; thiết lập và phân tích mục tiêu; lên kế hoạch hành
động; theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch và các kết quả đạt được. Bốn
giai đoạn này có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Chúng ảnh
hưởng đến chất lượng và tính khả thi của kế hoạch đã được đưa ra.
2. Vai trò của công tác lập kế hoạch
tích tổng quan về một nội dung khác nhau. Với kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội,
người làm kế hoạch thường đi sâu phân tích khả năng, điều kiện phát triển các yếu tố
tiềm năng trong tương lai và đánh giá trình độ phát triển của quốc gia hoặc địa
phương đó ở hiện tại. Kế hoạch kinh doanh thì lại đi sâu vào phân tích đánh giá môi
trường bên trong, bên ngoài để xác định doanh nghiệp đang đứng ở đâu trên cơ sở
điểm mạnh và điểm yếu của mình…Tuy nhiên tựu chung lại, khi trả lời câu hỏi
chúng ta đang ở đâu, người lập kế hoạch cần phải rút ra được tương quan so sánh
giữa ta trong quá khứ với ta ở hiện tại, giữa ta hiện tại với thế giới bên ngoài. Cùng
với đó, quá trình này cũng cần đưa ra nhận dạng những cơ hội có thể có trong tương
lai cũng như các thách thức có thể xảy ra.
3.2. Bước 2: Trả lời câu hỏi chúng ta muốn đi tới đâu
Câu trả lời của câu hỏi chúng ta muốn đi tới đâu là quá trình thiết lập mục tiêu, chỉ
tiêu và những nhiệm vụ cần thực hiện cho bản kế hoạch. Thông thường, căn cứ vào thông
tin có đuợc từ quá trình phân tích tổng quan, người lập kế hoạch sẽ đề ra các cấp độ mục
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
tiêu khác nhau như mục tiêu cuối cùng (hay còn gọi là tác động), mục tiêu trung gian (hay
còn gọi là kết quả), mục tiêu đầu ra…Tuy nhiên, tất cả các mục tiêu đều cần tuân thủ một
nguyên tắc được rất nhiều người biết đến - nguyên tắc Smart :
- S - Specific: Cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu.
- M - Measurable: Đo đếm được.
- A - Achievable: Có thể đạt được bằng chính khả năng của mình.
- R-Realistic: Thực tế, không viển vông.
- Time bound: Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra.
3.3. Bước 3: Trả lời câu hỏi: Làm thế nào để chúng ta đi đến đó
Hành trình đi đến mục tiêu đã đặt ra luôn nhiều chông gai và yếu tố bất định.
Vì vậy, cần phải có một kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện mục tiêu đã đặt ra.
hoạt động của họ theo "tiêu chuẩn người lớn".
1.1. Sự phát triển cơ thể
Sự phát triển cơ thể của sinh viên diễn ra ổn định, đồng đều. Trọng lượng não
đạt mức tối đa, khoảng 1400gr và chứa khoảng 14-16 tỷ nơ-ron. Các nơ-ron đã phát
triển hoàn thiện - phát triển các sợi nhánh, sợi trục được myelin hóa hoàn hảo đảm
bảo sự dẫn truyền các luồng thần kinh nhanh chóng, chính xác. Các sợi nhánh đảm
bảo sự liên hệ hết sức rộng khắp, chi tiết và tinh tế.
Các nhà nghiên cứu đã tính được nhiều tế bào thần kinh đến tuổi sinh viên có
thể nhận tin từ 1200 nơ-ron trước và gửi đi 1200 nơ-ron sau. Số lượng các kênh liên
hệ đó làm cho khả năng hoạt động trí tuệ của sinh viên vượt xa học sinh phổ thông
trung học. Ước tính có khoảng 2/3 số kiến thức học được trong cuộc đời được tích
lũy trong thời gian này.
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Những thay đổi về tâm lý
1.2.1. Đặc điểm chung của thời kỳ phát triển
Đặc trưng tâm lý quan trọng nhất của tuổi sinh viên là tình trạng chuyển tiếp
giữa cận dưới là sự chín muồi về sinh lý, cận trên là có nghề nghiệp ổn định và bắt
đầu bước vào một phạm vi hoạt động lao động nhất định. Đây cũng là giai đoạn có sự
biến đổi mạnh mẽ về động cơ và thang giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp.
Ở sinh viên, sự tự ý thức phát triển mạnh. Họ chú trọng đến việc tự đánh giá
hành động và kết quả tác động của mình, đánh giá về tư tưởng, tình cảm, phong cách
đạo đức, hứng thú, tư tưởng, động cơ hành vi, vị trí của mình trong các mối quan hệ
và trong cuộc sống nói chung. Thông qua tự đánh giá, sinh viên chủ động điều chỉnh
hành vi, hoàn thiện nhân cách, chủ động tổ chức toàn bộ thế giới nội tâm của mình.
1.2.2. Những mâu thuẫn chính phải giải quyết ở tuổi sinh viên
Thế giới nội tâm của sinh viên rất phức tạp và nhiều mâu thuẫn. Có thể nêu ra
hơn của:
o Khả năng kiểm soát các cảm xúc gây rối ren (lo lắng, gây gổ, suy sụp...).
o Nhận thức về cảm xúc.
o Khả năng phối hợp cảm xúc với hành động.
- Di chuyển từ độc lập sang tự chủ: sinh viên phải học cách tự lo liệu, nhận
trách nhiệm theo đuổi những mục đích tự lựa chọn. Họ trở nên ít chịu ảnh hưởng của
người khác.
- Phát triển những mối quan hệ chín chắn giữa cá nhân với nhau: sinh viên đi
từ mức độ thấp hơn đến mức độ cao hơn của:
o Khả năng dung thứ giữa cá nhân với nhau và giữa các nền văn hoá.
o Từ có những mối quan hệ tưởng tượng, ngắn hạn hay không lành mạnh
sang khả năng quan hệ gần gũi và cam kết lớn hơn.
- Ổn định cá tính: sinh viên đi từ sự khó chịu đến sự an tâm thoải mái với vẻ
ngoài của mình, với giới, gia đình, nguồn gốc xã hội/văn hoá, các vai trò và lối sống.
- Phát triển mục đích: tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện những quan tâm,
những mục đích và kế hoạch đối với thiên hướng, những hứng thú cá nhân và sự sốt
sắng với các mối quan hệ.
c. Phát triển tính toàn vẹn
Các chuẩn mực ứng xử của sinh viên được biến đổi từ nước đôi, cứng nhắc và
tự cho mình là trung tâm trở thành các chuẩn mực:
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
- Ứng xử có nhân tính (quan tâm đến những sở thích của người khác).
- Cá nhân hoá (khẳng định những giá trị cốt yếu của mình trong khi vẫn tôn
trọng những người khác).
- Thích hợp (làm cho những chuẩn mực ứng xử của cá nhân mình tương xứng
với những hành vi có trách nhiệm về mặt xã hội).
khó khăn HS gặp phải khi học tập có đủ dạng: học thiếu động cơ, mục đích
(53,53%); nội dung học quá nặng, thiếu phương pháp học tập có hiệu quả 30,02%;
thời gian học nhiều (30,8%). Bên cạnh đó, theo ông Trần Văn Vũ - Phó trưởng khoa
3 thuộc Bệnh viện Tâm thần T.Ư cho hay: “Mỗi năm, bệnh viện đón nhận gần 4.000
bệnh nhân, trong đó 30% là đối tượng HS, sinh viên.
Có thể thấy, trước những khó khăn và áp lực từ nhiều phía, nhiều sinh viên
không chống đỡ nổi với cạm bẫy, cám dỗ, phát triển tâm lý lệch lạc, rơi vào trầm cảm
hoặc khiến có những phản ứng “phá phách”.
Việc sống không có mục đích, không có định hướng còn để lại hậu quả về mặt
tâm lý cho những “tri thức trẻ” khi rời giảng đường bước vào cuộc sống. Không ít
người khi trở thành một phần của guồng máy chầm chậm tại các công ty nhà nước
hay khi đối mặt với những góc tối của cuộc sống đã cảm thấy chán nản, mệt mỏi…
Cũng có một số lượng không nhỏ sinh viên chọn làm việc tại các doanh nghiệp tư
nhân hay các doanh nghiệp nước ngoài. Ở môi trường này, áp lực về hiệu quả, chất
lượng và tính chuyên nghiệp khiến nhiều người đã dốc hết cả thể chất và tinh thần
vào công việc, để rồi dẫn đến chứng rối loạn tâm thần (RLTT). Biểu hiện của chứng
bệnh RLTT là căng thẳng, lo âu, trầm cảm, thậm chí có người tự hủy hoại sự sống.
Đương nhiên, không phải tất cả sinh viên nếu không lập kế hoạch cuộc đời
đều trở nên như vậy ; và không phải lập kế hoạch cuộc đời sẽ chắc chắn giúp sinh
viên tránh được toàn bộ những khó khăn trở ngại như đã kể ở trên. Tuy nhiên, hoạt
động đó luôn là điều kiện cần, là hành trang không thể thiếu khi ta muốn đi tới đích là
một cuộc sống thành công, khoẻ mạnh và hạnh phúc.
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2. Lợi ích về mặt văn hoá - xã hội
Lập kế hoạch cuộc đời giúp sinh viên nâng cao chất lượng cuộc sống của
chính bản thân gia đình và xã hội. Như những thông tin phía trên, việc không có kế
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
2.3. Lợi ích về mặt kinh tế
Trong cuộc sống, các phương tiện thông tin đại chúng nhắc rất nhiều tới lãng
phí biển, lãng phí rừng, lãng phí đất. Nhưng có một nguồn lực vô hạn chưa được
đánh giá đúng với giá trị vốn có của nó, đó là tiềm năng của con người.
Tiềm năng con người có sức mạnh phi thường. Theo các nhà khoa học, con
người có khả năng đạt được hầu hết những mục tiêu mà mình thiết lập cho bản thân.
Mọi cá nhân đều có khả năng làm được nhiều hơn những gì người đó có thể hình
dung. Tuy nhiên, hầu hết mọi người không nhận ra và sử dụng hết tiềm năng của
mình. Theo một nghiên cứu của trường Đại học Stanford, một người bình thường chỉ
sử dụng 2% năng lực trí tuệ của mình. Phần còn lại chỉ nằm yên dự trữ để giành thời
gian về sau. Nó cũng giống như việc cha mẹ giành cho con cái một ngân quỹ 100.000
đô-la, nhưng con trẻ chỉ rút ra tiêu 2.000 đô la. Số tiền còn lại vẫn nằm trong tài
khoản và không được sử dụng đến hết cuộc đời.
Không chỉ gây lãng phí cho cá nhân, việc không lập kế hoạch cuộc đời còn
gây ra nhiều lãng phí cho xã hội và đất nước.
Theo khảo sát về việc làm của sinh viên tốt nghiệp đại học do tiến sĩ (TS)
Lê Thị Thanh Mai và Trần Văn Đồng thực hiện, hơn 60% sinh viên ra trường
phải đào tạo lại. Đó là một con số lãng phí đáng báo động với một nước còn nghèo
như nước ta.
Đứng trước thực trạng đó, bản thân mỗi sinh viên cần có trách nhiệm với cuộc
đời mình. Sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng giúp giới trẻ có thể
tiến tới gần hơn nền văn mình của nhân loại.
Vậy tại sao mỗi sinh viên không tự giúp mình và góp phần vào sự thay đổi bộ
mặt của đất nước ?
Giá trị thặng dư của xã hội bắt nguồn từ sự cố gắng của mỗi cá nhân. Các quy
luật tự nhiên như luật hấp dẫn, luật nhân quả, luật cho nhận…vẫn luôn hiện hữu trong
xã hội, dẫu cho mọi người có biết tới nó hay không. Với những sinh viên chủ động
lập kế hoạch cuộc đời, họ kiên trì theo đuổi mục tiêu của mình và nhận được những
thành một bác sĩ, một nhà tham vấn tâm lý, một chính trị gia...
Nhưng mục đích đã nêu trên phải được chia ra thành những mục tiêu nhỏ hơn
nữa và được thực hiện theo từng giai đoạn trong thời gian. Kế hoạch chính là tấm bản
đồ vẽ ra những đoạn đường đi cụ thể để đạt tới đích. Có người đi tới đích bằng xa lộ
thẳng tắp. Ví dụ như được cha mẹ có đủ điều kiện cho ăn học đến nơi đến chốn.
Nhưng đa số các bạn trẻ phải chọn những con đường ngoằn ngoèo, ví dụ như phải
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
vừa học vừa làm, phải nghỉ vài năm giữa hai thời kỳ học để tích lũy tiền đóng học
phí. Những đoạn đường nhỏ này cũng phải được vẽ trên bản đồ để mỗi người có thể
dự trù, tính toán hầu không bị động trong kế hoạch.
Các nhà khoa học nói có kế hoạch là đã đi được 2/3 đoạn đường. Nếu không
có sẵn bản đồ, mỗi cá nhân sẽ mất nhiều công sức và thời gian để mò mẫm.
3.2. TS Nguyễn Sỹ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
TS Nguyễn Sỹ Dũng cũng đã chia sẻ ý kiến về lập kế hoạch cuộc đời trên báo
Vietnamnet như sau:
‘‘Trong cuộc sống mình phải có "đích" hướng đến ; và muốn đi tới đích thì
phải lên kế hoạch. Thực tế, các bạn trẻ thường có hào hứng rất chung chung: "Muốn
thành đạt, muốn cống hiến, muốn làm nhiều điều có ích..." Những ham muốn như vậy
đặt nền tảng cho định hướng giá trị tốt. Nhưng định hướng hành động không thực vì
nó không rõ những mục đích vươn tới. Chẳng hạn: muốn phục vụ dân tốt hơn thì phải
chọn những nghề phục vụ dân nhiều hơn...Nghĩa là định hướng hành động phải cụ thể
hóa hơn một bước nữa thì người Việt không có nhiều’’
Việc lập kế hoạch rất cần thiết. Vì, nếu có kế hoạch thì sẽ làm chủ được cuộc
đời, còn không thì "may nhờ, rủi chịu", cũng có khi thành đạt. Bên cạnh đó, việc lập
kế hoạch còn có rất nhiều lợi ích như: Chọn được đúng thời gian cho đúng việc nên
giảm chi phí về thời gian và chi phí khác; có thời gian đánh giá kế hoạch và đánh giá
làm hết mình và đi đến tận cùng trong công việc - có thế mới vỡ ra được nhiều bài
học quý giá trong công việc chứ - bạn nhỉ? Trước đây, tôi không làm plan cho cuộc
đời gì cả - sống rất thoải mái - nhưng bây giờ khi trưởng thành thêm - đi nhiều biết nhiều
tôi thấy một cuộc đời bắt buộc phải có một kế hoạch. Các nước tiên tiến các em bé đã biết
lập rõ ràng kế hoạch từ cấp 1, cấp 2 rồi. Có kế hoạch thì chúng ta sẽ biết mình ở đâu
trong 5 năm nữa, 10 năm tới và không bị mù mờ về ngày mai của mình’’
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II: CÁC QUAN ĐIỂM VÀ MÔ HÌNH VỀ VIỆC LẬP KẾ
HOẠCH CUỘC ĐỜI
I. GIỚI THIỆU VỀ QUAN ĐIỂM VÀ MÔ HÌNH LIÊN QUAN TỚI LẬP KẾ
HOẠCH CUỘC ĐỜI TRÊN THẾ GIỚI
Đi theo bốn câu hỏi của qui trình lập kế hoạch, tôi tìm tới công trình nghiên
cứu của một số chuyên gia về thay đổi bản thân trên thế giới. Cụ thể như sau :
Nghiên cứu về giá trị của con người và cách xác định mình đang ở đâu của
Mike George; Carl Gustav Jung và công ty House, Cardiff, Vương quốc Anh. Những
nghiên cứu này là căn cứ quan trọng để mỗi cá nhân hiểu rõ về giá trị của bản thân. Từ
đó, xác định được điểm xuất phát trong hành trình lập kế hoạch cuộc đời.
Nghiên cứu về xác định tiềm năng cá nhân, cách đặt, đạt được mục tiêu và các
quy luật chi phối quá trình chinh phục mục tiêu của Brian Tracy. Thông qua kết quả
nghiên cứu trên, người muốn lập kế hoạch có thể thiết lập mục tiêu một cách phù hợp
và đưa ra một chương trình hành động khả thi nhằm hướng tới mục tiêu đã đặt ra.
Nghiên cứu về các thói quen và cách đặt trọng tâm cuộc sống để lên kế hoạch
hành động và biết mình đang đi đúng hướng của Sean Covey. Theo Sean Covey,
nguyên tắc sống chính là căn cứ để mỗi cá nhân nhìn lại và điều chỉnh quá trình triển
khai kế hoạch cuộc đời của mình.
1. Mike George – Giá trị nội tại của mỗi người
Thói quen so sánh và sao chép một cách thiếu cân nhắc, vô ích này là kẻ thù
lớn nhất của sự quý trọng bản thân. Nó cản trở mong muốn tìm hiểu bản thân, kìm
giữ mỗi cá nhân trong thế giới xô bồ, bất an, đầy cạm bẫy. Thậm chí, nó không cho
mỗi người sự sáng suốt nhận ra vẻ đẹp thật sự mình đang tìm kiếm, vẻ đẹp không
nhìn thấy được bằng mắt thường mà với con mắt nội tâm. Vì vậy, bước đầu tiên và
quan trọng nhất là từ bỏ thói quen so sánh, và ý muốn được là người khác.
2. Carl Gustav Jung (1876-1961) – Cách xác định tính cách của mình
2.1. Giới thiệu
Gustav Jung (1876-1961) sinh ra trong một gia đình mục sư gốc Đức, đến lập
nghiệp ở Thụy Sĩ gần hồ Constance. Từ rất sớm ông đã say mê khảo cổ học và cổ
sinh học. Nhưng rồi ông theo học ngành y ở đại học Bále (1895-1900). Sau một thời
Vương Thị Thùy Dung
Lớp: Kế Hoạch 48B
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề tốt nghiệp
gian thực tập, ông trình bày luận văn tiến sĩ y khoa năm 1902: “Góp phần nghiên cứu
về tâm lí học và bệnh học đổi với những hiện tượng gọi là huyền bí”.
Năm 1920, ông đưa ra công trình nghiên cứu về “các kiểu tâm lý”, là nền tảng
để Katharine Cook Briggs và con gái của bà Isabel Briggs Mayers đưa ra công cụ
MBTI (Mayers-Briggs Type Indicator) – một công cụ kiểm tra tính cách cá nhân.
2.2. Phương kiểm tra tính cách MBTI – Cách xác định tính cách của mình
Phương pháp này dựa trên nguyên lý của Jung cho rằng có thể phân loại tính
cách con người dựa trên 3 tiêu chí: hướng nội/hướng ngoại; trực giác/giác quan; lý
trí/tình cảm. Trong hệ thống phân loại của Jung, không có nhóm nào tốt, nhóm nào
xấu, nhưng Jung nhận xét rằng: cùng một sự vật hiện tượng sẽ gây ra những suy nghĩ,
cảm xúc, phản ứng khác nhau cho những người khác nhau. Ba yếu tố cơ bản ảnh
hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và phản ứng của một con người là: xu hướng tự nhiên
của người đó - hướng nội/hướng ngoại; cách thức mà người đó tìm hiểu và nhận thức
thế giới bên ngoài - trực giác/giác quan; và cách thức mà người đó quyết định, đưa ra