ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẠNH
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ
LỢI ÍCH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội Khoa học
Mã số:
60.22.85
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Dƣơng Văn Thịnh
HÀ NỘI, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam
hiện nay” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và những kết quả
nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực.
Ngày
tháng
năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn ................................................................... 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.......................................................................... 6
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................... 7
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn ............................................................. 7
7. Kết cấu của luận văn................................................................................................ 7
CHƢƠNG 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA
LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP VÀ NHỮNG YÊU CẦU CỦA
VIỆC VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG ĐÓ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM ... 8
1.1. Cơ sở ra đời và nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi
ích dân tộc và lợi ích giai cấp ...................................................................................... 8
1.1.1. Cơ sở ra đời .......................................................................................................... 8
1.1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và
lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam .............................................................. 22
1.2. Một số yêu cầu của việc vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất
giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam .................... 34
1.2.1. Khái niệm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ................................................. 34
1.2.2. Yêu cầu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân
tộc và lợi ích giai cấp ................................................................................................... 37
Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................................... 46
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG VẬN DỤNG TƢ
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN
TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................... 48
2.1. Thực trạng vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích
dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay..................................................... 48
1
2.1.1. Về thành tựu ...................................................................................................... 48
2.1.2. Về khuyết điểm, tồn tại...................................................................................... 68
2.2. Một số phƣơng hƣớng cơ bản nhằm tiếp tục vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí
nảy sinh những vấn đề mới. Việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, thực hiện đa dạng hóa quan hệ sở hữu đã làm biến đổi cơ cấu
giai cấp ở nước ta, tạo ra sự không thuần nhất, xung đột các lợi ích trái ngược
nhau. Thêm vào đó hiện nay các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc, gây tác động tiêu cực tới sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ đất nước của nhân dân ta. Do đó, Đảng ta chủ trương mở cửa nền kinh
tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải huy động sức mạnh to lớn của khối
đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân. Đảng và
Nhà nước phải thường xuyên nhận thức và kịp thời giải quyết các vấn đề nảy
sinh để thúc đẩy xã hội phát triển. Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
lợi ích dân tộc phải đặt cao hơn hết thảy, phải chống lại mọi sự vận dụng lí
luận giai cấp và đấu tranh giai cấp một cách máy móc, giáo điều. Chỉ trên cơ
sở đó mới có thể khai thác được mọi nguồn lực để phát triển đất nước, tạo
3
điều kiện cho mọi người Việt Nam yêu nước có thể đóng góp phần công sức
của mình vào sự phát triển dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích
giai cấp là sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm về giai cấp và dân
tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đưa lại
cho cách mạng Việt Nam những thắng lợi to lớn. Do đó, nghiên cứu và vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này sẽ giúp cho chúng ta có những
hướng đi thích hợp trong bối cảnh đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Chính vì những lí do đó mà tôi quyết định chọn vấn đề “Vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở
Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình.
Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 4/1996; “Sự thống nhất
giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong sự nghiệp đổi mới” của Trần Hữu
Tiến, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 3 - 1996…Trong bài “Mối quan hệ
biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí
Minh” tác giả Nguyễn Duy Quý khái quát quá trình Hồ Chí Minh tiếp cận lý
luận dân tộc và giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, những kết luận Hồ Chí
Minh rút ra qua việc nghiên cứu lý luận đó và thực tiễn lịch sử thế giới và đất
nước. Tác giả cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập, quán triệt tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình mới. Tác giả
Nguyễn Ngọc Long trong bài nêu trên đã phân tích quan điểm của giai cấp vô
sản với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.
Tác giả cũng khái quát những luận giải của Hồ Chí Minh về sự thống nhất
không thể tách rời đó và khẳng định đó là một nội dung cơ bản và quan trọng
của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hầu hết, các công trình trên đã trình bày khá rõ ràng các vấn đề về dân
tộc, vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, phân tích được mối quan hệ giữa
dân tộc và giai cấp, cũng như lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp.
Tuy nhiên, riêng những vấn đề triết học thì phần lớn các công trình trên
chỉ dừng lại ở những vấn đề có tính chất phương pháp luận chung nhất. Trong
khi đó, trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng quốc tế hóa và sự phát triển
5
không ngừng của khoa học - công nghệ, mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và
lợi ích giai cấp cũng như việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan
hệ dân tộc và giai cấp đang nảy sinh nhiều vấn đề mới cần giải quyết. Vì vậy,
việc nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống vấn đề“Vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt
Nam hiện nay” là một yêu cầu cấp thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
dân tộc, giai cấp, mối quan hệ dân tộc và giai cấp.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng tổng hợp nhiều phương
pháp, trong đó một số phương pháp chủ yếu như: sự thống nhất giữa lôgích và
lịch sử; phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
pháp điều tra xã hội học, phương pháp khoa học liên ngành…
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa lí luận
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lí luận cho việc vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam
hiện nay. Đồng thời, góp phần thống nhất nhận thức và hoạt động thực tiễn
trong quá trình đổi mới.
* Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy những vấn đề liên quan đến dân tộc, giai cấp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung
của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
7
CHƢƠNG 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH
DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP VÀ NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG ĐÓ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1.1. Cơ sở ra đời và nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về sự thống
nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp
1.1.1. Cơ sở ra đời
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ dân tộc và giai cấp
một luật pháp thống nhất có tính chất giai cấp và một thuế quan thống nhất”
[54, tr.546 – 547]. Như vậy, dân tộc trong quan điểm của Mác và Ăngghen là
cộng đồng người gắn với xã hội có giai cấp, có nhà nước và có các thể chế
chính trị. Nhưng khác với các hình thức cộng đồng người trước đó, những
mối liên hệ dân tộc chặt chẽ hơn, bền vững hơn, một mặt do chúng được hình
thành trong quá trình lịch sử rất lâu dài, đã trải qua nhiều thử thách, mặt khác,
do chúng được hình thành và củng cố trên cơ sở mới là quan hệ trong một địa
bàn, tầng lớp có những lợi ích chung và riêng và có quan hệ với lợi ích dân
tộc ở những mức độ khác nhau. Trong các quan hệ ấy, quan hệ dân tộc và giai
cấp là quan hệ chi phối.
Quan hệ giai cấp với tư cách là sản phẩm của một phương thức sản xuất
nhất định là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành dân tộc,
tính chất dân tộc, xu hướng phát triển của dân tộc. Trong kết cấu giai cấp của
xã hội, giai cấp nào mạnh nhất về kinh tế thì sẽ giữ vai trò thống trị đối với
dân tộc. Tính chất của giai cấp thống trị bị quy định bởi tính chất của phương
thức sản xuất và quy định tính chất của dân tộc, áp bức giai cấp sẽ sinh ra áp
bức dân tộc: “hãy xóa bỏ nạn người bóc người thì nạn dân tộc này bóc lột dân
tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội
bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng mất” [54,
tr.565]. Mác và Ăngghen đã phân tích và chỉ rõ tính chất đặc biệt của cuộc
đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Cuộc cách mạng vô
sản, theo Mác và Ăngghen là cuộc cách mạng mang tầm vóc thế giới, và là
cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử. Bởi vì, nó là cuộc cách mạng
9
duy nhất trong lịch sử không phải nhằm thay thế sự thống trị của giai cấp bóc
lột này bằng giai cấp bóc lột khác, mà là nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu sản sinh
ra sự bóc lột, mà biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của nó là chế độ tư sản,
từ đó xóa bỏ hoàn toàn cơ sở cho bóc lột, áp bức giai cấp, áp bức dân tộc và
này tương ứng với giai đoạn các quốc gia tư bản chủ nghĩa đã hình thành và
phát triển, làm cho các dân tộc xích lại gần nhau, hình thành thị trường thế
giới. Trách nhiệm của giai cấp vô sản Nga là phải lật đổ mọi ách áp bức
phong kiến, xóa bỏ mọi áp bức dân tộc, xóa bỏ mọi đặc quyền của bất kì dân
tộc nào. Giai cấp vô sản Nga, về vấn đề dân tộc, một mặt phải chống mọi thứ
chủ nghĩa dân tộc, trước hết là chủ nghĩa dân tộc đại Nga giữ vững quyền
bình đẳng hoàn toàn giữa các dân tộc, giải quyết vấn đề quyền tự quyết về
chính trị của các dân tộc, mặt khác cần giữ vững nguyên tắc của chủ nghĩa
quốc tế, giữ vững cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và sự thống nhất về tổ
chức của giai cấp vô sản, gắn công nhân các dân tộc trong nước thành một
khối. Lênin viết: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền
tự quyết, liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại” [15, tr.84].
Lênin đã giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở gắn nó với thời đại chủ
nghĩa đế quốc, từ đó mở rộng phạm vi vấn đề dân tộc từ những dân tộc nhỏ bé
ở Châu Âu thành vấn đề giải phóng, độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức
trên thế giới. Đặc biệt là khi giai cấp tư sản ở các nước trên thế giới đã liên
minh với nhau để cùng đối phó với giai cấp vô sản thì cách mạng xã hội chủ
nghĩa càng không thể chỉ là của giai cấp vô sản cách mạng ở từng nước riêng
biệt chỉ chống lại giai cấp tư sản nước mình. Cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa của giai cấp vô sản là cuộc đấu tranh mang tính liên hợp giữa những
người vô sản trên toàn thế giới với nhân dân tất cả các nước thuộc địa và nửa
thuộc địa nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc. Như vậy, từ việc tìm bạn đồng
minh cho giai cấp vô sản, Lênin đã chỉ ra và hướng phong trào giải phóng dân
tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vào con đường cách mạng vô sản, giải
quyết vấn đề dân tộc và giai cấp theo lập trường vô sản. Xem xét vấn đề dân
tộc – thuộc địa để chuẩn bị cho cách mạng vô sản nổ ra và thắng lợi ở nước
Nga, Lênin nhận ra rằng giai cấp vô sản không chỉ có bạn đồng minh to lớn
11
quyết vấn đề giai cấp có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vấn đề dân
tộc. Ngược lại, bất cứ ở đâu và khi nào sự hình thành và phát triển của dân
tộc, việc giải quyết vấn đề dân tộc đều gắn liền với lợi ích giai cấp, được sự
chỉ đạo bởi quan điểm của giai cấp nhất định. Tùy thuộc vào những điều kiện
lịch sử cụ thể mà việc giải quyết vấn đề dân tộc hay vấn đề giai cấp trở thành
nhiệm vụ chủ yếu trong từng giai đoạn cách mạng. Quan hệ dân tộc và giai
cấp theo chủ nghĩa Mác - Lênin như là quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn
thể, như là quan hệ giữa phần tử chính, chủ yếu của hệ thống với toàn hệ
thống đó. Khi mà phần tử này giữ vai trò chủ đạo, chi phối các phần tử khác,
và phù hợp ở một mức độ nhất định đối với toàn hệ thống phần tử này sẽ giữ
vai trò thống trị. Nhưng một khi vai trò chủ đạo ấy mất đi thì nhất định một
phần tử chính, chủ yếu khác của hệ thống sẽ xuất hiện và thay thế. Sự xuất
hiện và trưởng thành của giai cấp công nhân trong các dân tộc và trên thế giới
cũng tương tự như vậy. Chủ nghĩa Mác – Lênin kết luận rằng: trong thời đại
ngày nay, dân tộc gắn liền với giai cấp công nhân và để làm tròn sứ mệnh của
mình, giai cấp công nhân phải nắm lấy ngọn cờ dân tộc.
Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin. Luận cương của
Lênin đã giải đáp cho Người con đường giành độc lập cho đất nước, tự do cho
đồng bào. Có thể khẳng định rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin là nhân tố ảnh
hưởng và tác động quyết định đến quá trình hình thành và phát triển của tư
tưởng Hồ Chí Minh. Nó là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp
luận khoa học của Hồ Chí Minh, nhờ đó mà Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh
đã có bước phát triển về chất từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ
cộng sản lỗi lạc, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Chính trên cơ sở của lý
luận Mác - Lênin đã giúp Người tiếp thu và chuyển hoá những nhân tố tích
cực, những giá trị và tinh hoa văn hoá của dân tộc và của nhân loại để tạo nên
tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của lịch sử. Vì vậy, trong quá
cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX ở Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu thế đó.
14
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Đây là kẻ thù mới
có tiềm lực kinh tế và quân sự rất mạnh. Trong lúc đó, chế độ phong kiến Việt
Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt, xã hội phong
kiến đang suy tàn với hai giai cấp đối kháng chủ yếu. Trong xã hội Việt Nam
lúc bấy giờ, quan hệ giữa giai cấp địa chủ với các tầng lớp nhân dân, quan hệ
giữa triều đình và nhân dân trở nên khủng hoảng chia rẽ gay gắt. Hậu quả của
sự khủng hoảng ấy là nước Việt Nam mất độc lập (1884) sau 27 năm kể từ
khi thực dân Pháp xâm lược. Chính sách cai trị và các chương trình khai thác
thuộc địa của thực dân pháp dẫn đến những biến đổi xã hội sâu sắc, hình
thành cơ cấu giai cấp – xã hội mới khác với cơ cấu giai cấp – xã hội cổ
truyền. Bên cạnh những giai cấp cũ là địa chủ phong kiến và nông dân, giờ
đây xuất hiện thêm những giai cấp, tầng lớp mới, đó là công nhân, tư sản và
tiểu tư sản. Thân phận, quyền lợi và thái độ chính trị của các giai cấp đối với
vấn đề dân tộc, dân chủ không giống nhau. Sự phân hóa trong cùng một giai
cấp đã diễn ra.
Giai cấp địa chủ, phong kiến phân hóa thành hai bộ phận là đại địa chủ
phong kiến (vua quan phong kiến) và trung, tiểu địa chủ phong kiến. Đến năm
1884, Nhà nước và giai cấp phong kiến đã hoàn toàn đầu hàng. Vua tồn tại
chỉ là bù nhìn, nhà nước phong kiến còn nhưng chỉ là thủ đoạn để thực hiện
chính sách thực dân của Pháp, là hình thức, công cụ để thực dân Pháp sử
dụng. Bộ phận trung tiểu địa chủ thì mâu thuẫn với đế quốc và chống đế quốc.
Giai cấp nông dân Việt Nam là một trong hai giai cấp cơ bản của xã hội
phong kiến. Giờ đây, ngoài bị bóc lột phong kiến họ còn chịu thêm bóc lột
thực dân. Nông dân phân hóa theo thời gian thành cố nông, bần nông, trung
tiểu tư sản mâu thuẫn với địa chủ. Đô thị và công nghiệp phát triển thì giai
cấp tư sản theo đó cũng từng bước xuất hiện. Họ xuất thân từ địa chủ, quan
lại, tiểu tư sản…Chính sách bảo thủ, phản động về kinh tế, không chủ trương
phát triển công nghiệp ở thuộc địa và chính sách chuyên chế về chính trị của
thực dân Pháp đã làm cho giai cấp tư sản Việt Nam ra đời khá muộn, què
quặt. Chỉ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, gắn liền với cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ hai của Pháp, giai cấp tư sản Việt Nam mới hình thành. Họ có mặt
16
ở hầu hết khắp các ngành (Bông vải sợi, nhuộm, đồ gốm, máy xay, máy in,
làm sơn, ép dầu, làm đường, xà phòng, nước mắm, sửa chữa ôtô…). Sau thời
gian phát triển, giai cấp tư sản phân hóa thành hai bộ phận: Tư sản mại bản và
tư sản dân tộc.
Sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam
và sự phát triển của công thương nghiệp thuộc địa đã dẫn đến sự ra đời của
giai cấp công nhân. Là sản phẩm của quá trình xâm lược và khai thác thuộc
địa của thực dân Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư
sản. Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành từ cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ nhất và đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX số lượng đã tăng
lên đáng kể. Họ sống và làm việc tập trung trong các xí nghiệp, hầm mỏ,
trung tâm công nghiệp. Cái họ cần là một luồng tư tưởng mới với một bộ
tham mưu dẫn dắt. Về thành phần, công nhân xuất thân từ những người thợ
thủ công, những người tiểu thủ công nghiệp phá sản, nhưng chủ yếu là từ
những người nông dân bị bần cùng hóa. Song công nghiệp Việt Nam chưa
phát triển cho nên công nhân chưa thoát ly hoàn toàn khỏi nông dân. Họ là
những công nhân theo mùa vụ, theo hợp đồng với chủ xưởng. Khi hết mùa vụ
họ có thể trở lại địa phương, với gia đình và trở về số phận của nông dân. Đế
quốc, phong kiến và tư sản ra sức bóc lột công nhân vô cùng thậm tệ theo ba
thủ đoạn: Chế độ lao động tự do, chế độ lao động theo giao kèo, chế độ lao
chúng tác động như thế nào tới sự hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về
dân tộc và giai cấp, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng gì từ truyền thống dân tộc,
qua đó giúp hiểu thêm về động cơ Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài năm 1911
và cách Người giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong quá trình lãnh
đạo cách mạng Việt Nam.
Yêu nước là giá trị tinh thần của con người và cộng đồng người được
hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất
nước. Tình yêu và lòng trung thành với tổ quốc có thể nói là những nội dung
chính của chủ nghĩa yêu nước. Đó là giá trị tinh thần phổ quát của nhân loại.
Từ ngày lập nước, Việt Nam đã liên tiếp trải qua các cuộc chiến chống xâm
lược. Tính đến trước khi thực dân Pháp xâm lược, dân tộc ta đã phải tiến hành
18
trên 20 cuộc kháng chiến và khởi nghĩa. Ý thức dân tộc nảy nở từ rất sớm và
ngày càng sâu sắc. Tinh thần tự lực tự cường, ý chí giành độc lập tự do ngày
càng mạnh mẽ, chỉ chờ dịp là bùng nổ thành phong trào, lôi cuốn toàn dân
tham gia. Công cuộc giành và giữ gìn nền độc lập dân tộc là công việc của
toàn dân. Khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân là nét đặc sắc trong lịch
sử chống xâm lược và bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta. Có thể nói, mỗi khi đất
nước bị mất độc lập, đa số các cuộc khởi nghĩa, dù do giai cấp nào lãnh đạo,
đều nêu cao chủ nghĩa yêu nước, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp
nhằm phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đánh đuổi kẻ thù, giành
lại độc lập, tự do cho dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc đã được Chủ
tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lí “Không có gì quý hơn độc lập, tự
do”. Ông đã nêu lên bốn yếu tố làm hình thành lòng yêu nước, đó là: một là
việc chống thiên tai, hai là xây dựng hệ thống đê điều, ba là xây dựng nhà
nước dân chủ tập quyền, chống ngoại xâm, bốn là xây dựng văn hóa dân tộc.
Bên cạnh lòng yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc cũng là một
đặc trưng nổi bật của văn hóa Việt Nam. Ý thức dân tộc thể hiện ở ý thức về
* Phẩm chất và năng lực thiên bẩm của Hồ Chí Minh
Bên cạnh những cơ sở khách quan ảnh hưởng đến việc hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp thì nhân tố phẩm
chất và năng lực thiên bẩm của Hồ Chí Minh cũng là một cơ sở đáng quan
tâm. Tư tưởng là sản phẩm của tư duy con người trong quá trình hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn. Tư tưởng đó đạt tới chân lý khách quan đến
mức độ nào là phụ thuộc vào chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức. Nếu
một trong hai yếu tố này bị hạn chế thì tỷ lệ chân lý khách quan trong tư
tưởng đó sẽ bị hạn chế. Đành rằng thời thế tạo anh hùng nhưng không phải cá
nhân nào cũng trở thành anh hùng trong cùng một điều kiện lịch sử giống
nhau. Cũng trong điều kiện lịch sử ấy thì cái làm cho nhân cách của người
này hơn hẳn nhân cách người kia là do nhân tố chủ quan của họ quyết định,
do chủ thể nhận thức là chính bản thân họ.
Có thể nói, Hồ Chí Minh là một con người có nhạy cảm chính trị đặc
biệt. Mặc dù không phải là người Việt Nam đầu tiên đến Pháp, cũng không
20
phải người Việt Nam duy nhất đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin, song Người là người Việt
Nam đầu tiên biết được đây là cái cần cho Tổ quốc, cho dân tộc, là con đường
đúng đắn để giải phóng dân tộc, giai cấp và nhân loại. Bên cạnh đó, Người có
một tư duy biện chứng sâu sắc. Với một tư duy biện chứng khoa học, Hồ Chí
Minh đã nhận thức và giải quyết một cách hợp lý, khéo léo mối quan hệ dân
tộc và giai cấp. Hồ Chí Minh luôn quán triệt quan điểm thực tiễn, xem xét sự
vật, hiện tượng trong những điều kiện cụ thể của sự sinh thành và phát triển.
Do vậy, Hồ Chí Minh đã không rơi vào sai lầm của chủ nghĩa giáo điều và tả
khuynh khi xem xét các vấn để về mốỉ quan hệ dân tộc và giai cấp trong cách
mạng Việt Nam. Tư duy Hồ Chí Minh cũng không bao giờ xa rời quan điểm
toàn diện, có trọng tâm. Hồ Chí Minh luôn xem xét sự vật ở cả mối liên hệ
Và một trong những quan điểm, chủ trương đúng đắn giúp nhân dân ta thực
hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đó là
việc kết hợp đúng đắn lợi ích của dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân
trong cách mạng Việt Nam.
* Cách mạng là sự nghiệp của toàn dân do giai cấp công nhân lãnh đạo
Tháng 12/1944, trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân, Hồ Chí Minh viết về tư tưởng cách mạng toàn dân của mình
như sau: “ Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần
phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân” [79, tr.507].
Cách mạng toàn dân là sự nghiệp của toàn dân, được biểu hiện trong
các thời kỳ cách mạng và các lĩnh vực của cách mạng. Hồ Chí Minh luôn
luôn tìm mọi cách bảo đảm cho khối đoàn kết dân tộc không bị sứt mẻ. Theo
Hồ Chí Minh, cho dù con người có mắc phải sai lầm nào đó, nhưng một khi
họ biết sửa chữa lỗi lầm thì vẫn phải hết sức tranh thủ họ, đảm bảo cho lực
lượng toàn dân không bao giờ suy giảm. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ
tháng 6/ 1946 Hồ Chí Minh đã kêu gọi như sau: “Tôi khuyên đồng bào đoàn
kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng
vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người
22