BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG HỌC
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CÁC QUẬN NỘI THÀNH TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI CẤP BỘ - MÃ SỐ: B2002. 23.28
Chủ nhiệm đề tài:
GVC. Đặng Quang Quỳnh
TP.HỒ CHÍ MINH 2004
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG HỌC
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CÁC QUẬN NỘI THÀNH TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI CẤP BỘ - MÃ SỐ: B2002. 23.28
Những người tham gia thực hiện:
TS. Phạm Xuân Hậu
CN. Phạm Thị Thanh Hòa
VI. 5. Phƣơng tiện phục vụ học tập - giảng dạy: ......................................................... 25
V.5.1 Bàn và ghế:..................................................................................................... 25
VI.5.2. Bảng viết: ..................................................................................................... 27
VI.5.3 Chữ viết trên bảng: ....................................................................................... 28
VI.5.4 Học cụ : ......................................................................................................... 28
VI.6. Các công trình vệ sinh trƣờng học: ..................................................................... 28
VI.6.1 Cung cấp nƣớc uống: .................................................................................... 28
VI.6.2 Cung cấp nƣớc sạch để rửa ........................................................................... 28
VI.6.3. Nƣớc thải ..................................................................................................... 29
VI.6.4. Nhà tiêu, hố tiểu:.......................................................................................... 29
VI.6.5. Khu chứa rác thải: ........................................................................................ 29
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................................. 30
Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƢỜNG
TRƢỜNG HỌC ................................................................................................................... 30
I. Khái niệm về môi trƣờng trƣờng học ........................................................................... 30
II. Cấu trúc môi trƣờng trƣờng học .................................................................................. 30
III. Tác động của môi trƣờng trƣờng học đến chất lƣợng đào tạo ................................... 31
IV. Các yếu tố tác động đến môi trƣờng trƣờng học ....................................................... 33
V. Tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông .................................................... 34
V.1. Đặc điểm sinh lý: ................................................................................................. 34
V.2.Một số nét nhân cách đặc trƣng của học sinh trung học phổ thông. ..................... 35
V.3. Hoạt động nhận thức: ........................................................................................... 35
V.4. Giao tiếp, tình cảm và ý chí: ................................................................................ 37
VI. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu về môi trƣờng trƣờng học: ............. 37
VI.1. Những quan điểm cơ bản vận dụng trong nghiên cứu: ....................................... 37
VI.2. Những phƣơng pháp nghiên cứu chính: ............................................................. 39
VII. Những đóng góp của đề tài: ..................................................................................... 41
CHƢƠNG II KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƢỜNG
II. Kết luận và kiến nghị ................................................................................................ 100
II.1. Kết luận: ............................................................................................................. 100
II.2. Kiến nghị ............................................................................................................ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 106
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học kỹ thuật thể hiện trí tuệ của con ngƣời ngày
càng một thông minh, sáng tạo hơn nhƣng đã gây ra nhiều ảnh hƣởng lớn lao cho môi trƣờng.
Nhiều nơi trên thế giới, môi trƣờng đang phải đƣơng đầu với nạn suy thoái và cạn kiệt tài
nguyên, những thảm họa môi trƣờng đang tăng dần và lan rộng toàn cầu. Chất lƣợng môi
trƣờng suy giảm làm ảnh hƣởng đến sức khỏe của con ngƣời, làm giảm năng suất lao động...
Sự sống ở nhiều nơi trên trái đất đang bị đe dọa. Bảo vệ môi trƣờng đã trở thành vấn đề
không chỉ của riêng các nhà khoa học hay quản lý môi trƣờng mà là nhiệm vụ chung của mọi
ngƣời, mọi quốc gia, mọi miền đất nƣớc không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo và thể chế
chính trị. Rất nhiều quy định về bảo vệ môi trƣờng đã đƣợc ban hành, trong đó giáo dục là
một biện pháp rất đƣợc xem trọng.
Học sinh trong nhà trƣờng là đối tƣợng có khả năng tiếp nhận sự giáo dục nhiều nhất,
học sinh cũng chính là những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc - những ngƣời trực tiếp bảo vệ
và phát triển môi trƣờng mai sau. Quan tâm, chăm sóc, bảo vệ và giáo dục học sinh chính là
góp phần bảo vệ và phát triển bền vững môi trƣờng sống tƣơng lai.
Trƣờng học là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động học tập, vui chơi và giải trí của học
sinh. Môi trƣờng trƣờng học có ảnh hƣởng rất lớn đến sức khỏe, thể lực, chất lƣợng học tập
và sự hình thành các phẩm chất đạo đức, nhân cách cho học sinh. Môi trƣờng trƣờng học tốt
sẽ để lại nơi học sinh những ấn tƣợng tốt, những tình cảm đẹp về quê hƣơng đất nƣớc, về môi
trƣờng sống và từ đó, học sinh ý thức đƣợc trách nhiệm của bản thân đối với việc giữ gìn và
bảo vệ môi trƣờng trƣờng học nói riêng và môi trƣờng sống nói chung. Đem đến cho học sinh
III. Lịch sử nghiên cứu và giới hạn của đề tài:
Đề tài cấp Bộ mã số: B2002 - 23 - 28
|6
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
III.1. Lịch sử nghiên cứu:
III.1.1 Trên thế giới:
Từ sau hội nghị quốc tế về môi trƣờng họp ở Stockhom (Thụy Điển), nhiều nƣớc trên
thế giới đã thực hiện ngay việc giáo dục môi trƣờng tại các trƣờng học phổ thông. Có rất
nhiều các công trình nghiên cứu khoa học, tổ chức nhiều buổi hội nghị, hội thảo lựa chọn
những kiến thức môi trƣờng cần giáo dục, hình thức và phƣơng pháp giáo dục phù hợp. Thế
nhƣng việc đem đến cho học sinh môi trƣờng trƣờng học chất lƣợng cao nhƣ một biểu tƣợng
ban đầu về môi trƣờng xanh - sạch - đẹp nhằm giáo dục học sinh ý thức tôn trọng - bảo vệ
môi trƣờng thì chỉ mới đƣợc các nƣớc trên thế giới gần đây có quan tâm. Ví dụ nhử ở Hoa Kỳ
đã thiết kế - xây dựng thí điểm một số trƣờng học cho mọi cấp, bậc học khác nhau theo lối
kiến trúc hiện đại với đầy đủ các tiện nghi, không chỉ phục vụ cho dạy - học mà còn đáp ứng
tốt nhu cầu vui chơi, giải trí cho từng độ tuổi, ở từng vùng dân cƣ khác nhau. Nhật Bản cũng
đƣa ra các quan điểm mới trong kiến trúc thiết kế trƣờng học: Trƣờng học đƣợc xây dựng
trong một không gian rộng có nhiều cây xanh, các tòa nhà của trƣờng đƣợc xây dựng tách rời
nhau, mỗi tòa nhà bao gồm các lớp học dành cho từng độ tuổi khác nhau, giữa các lớp học có
các khoảng không gian rộng cho học sinh vui chơi,...
III.1.2 Ở nƣớc ta:
Các nhà khoa học cũng đang từng bƣớc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp cho việc
xây dựng một môi trƣờng trƣờng học đạt chuẩn, điển hình có các công trình sau:
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Vũ Kim Chi - Ủy ban xây dựng cơ bản nhà
nƣớc và Nguyễn Quốc Thái - Trƣờng đại học Kiến Trúc Hà Nội năm 1987 về thực trạng
kiến cho việc xây dựng môi trƣờng trƣờng học của TP.HCM nói riêng và nƣớc ta nói chung.
III.2. Giới hạn của đề tài:
Đề tài cấp Bộ mã số: B2002 - 23 - 28
|8
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
Trong giới hạn thời gian và nguồn kinh phí hạn hẹp, đề tài chúng tôi chỉ tiến hành
điều tra, đánh giá môi trƣờng tại 9 trƣờng Trung học phổ thông :
Trƣờng THPT Hùng Vƣơng, Trần Khai Nguyên, Lê Hồng Phong (Quận 5)
Trƣờng Bùi Thị Xuân, Tenlơman, Trƣng Vƣơng (Quận 1)
Trƣờng Lê Quý Đôn, MarieCurie (Quận 3)
Trƣờng Võ Thị Sáu (Quận Bình Thạnh)
Nội dung nghiên cứu của đề tài còn khá mới mẻ và cũng rất phức tạp, dù đã hết sức
cố gắng nhƣng vẫn không tránh khỏi thiếu sót. Nhóm nghiên cứu kính mong các nhà khoa
học và các quý vị quan tâm đến đề tài này đóng góp ý kiến để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn
việc nghiên cứu sau này.
IV. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung ở cấp học Trung học phổ thông, nơi mà đội ngũ giáo viên và học sinh
có nhận thức và hiểu biết nhiều về môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng. Đồng thời có khả năng
phân tích về mối quan hệ giữa môi trƣờng và các hoạt động của con ngƣời.
Điều kiện thời gian, phƣơng tiện và tài chính chỉ cho phép đề tài nghiên cứu ở một số
trƣờng với cách chọn ngẫu nhiên ở một số quận nội thành Thành phố Hồ Chí Minh .
Nội dung đề tài chủ yếu là điều tra hiện trạng về môi trƣờng trƣờng học thông qua
một số chỉ tiêu quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan có liên quan nhƣ: Vị trí
trƣờng học, cây xanh trƣờng học, độ ồn, độ nhiễm không khí nguồn nƣớc sử dụng, phòng
V.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên :
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng Nam bộ giàu có và giàu tiềm năng, trong tọa
độ từ 10038' đến 11010' vĩ độ Bắc và 106022' đến 106045' kinh độ
Đề tài cấp Bộ mã số: B2002 - 23 - 28
| 10
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
Đông; có địa giới hành chính giáp với các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Dƣơng, Đồng Nai,
Bà Rịa Vũng Tàu; Nam giáp biển Đông, bờ biển với chiều dài là 15km. Chiều dài từ Tây Bắc
xuống Đông Nam là 102km, từ đông sang Tây là 75km. Trung tâm Thành phố cách biển
50km đƣờng chim bay. Độ cao trung bình so với mực nƣớc biển là 6m. địa hình cao về phía
Bắc - là vùng đồi - đồng bằng và thấp dần về phía Nam - Tây Nam, với hệ thống kênh rạch
chằng chịt có tổng chiều dài là 7955km, sông Sài Gòn nằm ở phía đông thành phố. Diện tích
mặt nƣớc trên thành phố chiếm 16% tổng diện tích.
Diện tích tự nhiên là 2093,8km2, trong đó nội thành là 140km2. Nhìn chung đất của
thành phố do phù sa cũ và mới tạo nên. Đất phèn chiếm 40%, đất xám phát triển trên đất phù
sa cổ chiếm 19,3%, đất mặn 12,2%, đất cồn cát bãi biển 3,2% và đất phù sa nƣớc ngọt chiếm
2,6%, các loại đất khác và kênh rạch chiếm 22,7% diện tích của thành phố.
Tổng diện tích thảm xanh thành phố khoảng 36.000ha, độ che phủ 17% diện tích tự
nhiên, bình quân toàn thành phố 75m2/ngƣời, trong đó nội thành 8,4m2/ngƣời và ngoại thành
227m2/ngƣời.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo. Nhiệt độ trung bình từ 250C - 270C; chênh
lệch giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất không quá 50C. Nóng nhất là tháng 4 và mát nhất
trong tháng 12. Độ ẩm trung bình cả năm khoảng 77,5%. Mỗi năm có 2 mùa: mùa mƣa từ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Hai hƣớng gió chủ yếu
trong năm là Đông Nam - Tây Bắc và Tây Nam - Đông Bắc. Thành phố giàu ánh nắng, mỗi
đang làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc đủ các ngành kinh tế và các đơn vị
hành chính sự nghiệp.
V.3. Phát triển kinh tế - xã hội:
Từ ngày giải phóng (30/4/1975) đến nay, kinh tế thành phố đã có bƣớc phát triển mới,
đặc biệt là từ những năm thực hiện đƣờng lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI, thứ VII,
thứ VIII đề ra. Trong những năm 1991 - 1995 bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trên địa bàn
thành phố đã tăng 12,6%, năm 1996 tăng 14,6% và ƣớc tính năm 1997 tăng khoảng 12,1%.
Tính ra những năm 1991 - 1997 bình quân mỗi năm kinh tế thành phố tăng 12,8%, vào loại
cao nhất trong số 64 tỉnh thành phố của cả nƣớc.
Đề tài cấp Bộ mã số: B2002 - 23 - 28
12
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
V.3.1. Về cơ cấu kinh tế:
Bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế đã có sự
chuyển dịch theo hƣớng tích cực. Từ một thành phố tiêu dùng, đến nay thành phố đã xác lập
đƣợc cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp với các tỷ trọng tƣơng ứng của mỗi
khu vực chiếm trong tổng sản phẩm trên địa bàn lần lƣợt là 54,4%, 42,1% và 2,5%. Năm
2003 GDP của thành phố tăng 11,2%, thu ngân sách đạt trên 37.000 tỉ đồng.
Thành phố là một trong những địa phƣơng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, đã đạt
đƣợc những thành tựu quan trọng trong việc khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát
triển. Đến năm 1997, trên địa bàn thành phố có 708 doanh nghiệp nhà nƣớc, 677 dự án đầu tƣ
nƣớc ngoài, khoảng 5600 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và trên 250 ngàn hộ kinh tế cá thể.
Kinh tế quốc doanh tạo ra 47% GDP vẫn bảo đảm đƣợc vai trò chủ đạo của mình. Kinh tế
ngoài quốc doanh với tỷ trọng 37% và khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 16% đã đóng góp
quan trọng vào việc đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu muôn vẻ của đời
nƣớc ngoài. Tốc độ phát triển từ 6,5% năm thời kỳ 1985 - 1990 đã tăng lên 17% vào những
năm sau năm 1990 (năm 1993: 17,3%, 1994: 17,9%; 1995: 19,1%; 1996: 17,8%; 1997:
13,7%; 2001: 16,2%). Kim ngạch hàng công nghiệp xuất khẩu trên địa bàn cũng tăng từ hơn
1 tỷ USD năm 1994 lên gần 2,5 tỷ USD năm 1997, chiếm 66,7% giá trị xuất khẩu của toàn
thành phố.
Trong sản xuất công nghiệp cũng đang ngày càng có thêm những ngành mũi nhọn
nhƣ chế biến thực phẩm, dệt da và may mặc, hóa chất và sản xuất đồ nhựa, hóa mỹ phẩm.
Một số KCN tập trung và khu chế xuất đã, đang và sẽ ra đời nhƣ Tân Thuận, Linh Trung,
Hiệp Phƣớc, Cát Lái, Vĩnh Lộc, Bình Chiểu ...
+ Hoạt động thƣơng mai dịch vụ: từ năm 1991 - 1997 là giai đoạn nền kinh tế cả nƣớc
nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng phát
Đề tài cấp Bộ mã số: B2002 - 23 - 28
14
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
triển tƣơng đối ổn định và nhịp nhàng. Tuy tốc độ tăng trƣởng về ngoại thƣơng không cao và
đột biến nhƣ giai đoạn 1987 - 1991 nhƣng là giai đoạn đạt đƣợc nhiều thành quả nhất. Một số
mặt hàng xuất khẩu đã đứng vững trong nhóm "topten" trong vài năm qua nhƣ, gạo, cà phê ...
kim ngạch xuất khẩu bình quân năm đạt 720 triệu USD, gấp 2,88 lần giai đoạn 1987 - 1991,
tốc độ tăng bình quân là 16,5%/năm. Kim ngạch nhập khẩu đạt 1230 triệu USD/năm tăng
20,2%. Về nội thƣơng có thể đánh giá đây là giai đoạn ổn định trên bình diện tích cực nhất so
với các giai đoạn trƣớc đó: tốc độ tăng trƣởng đều đặn qua các năm, không còn những cơn
sốt về giá cả ảnh hƣởng đến sản xuất kinh doanh và đời sống dân cƣ. Sức mua của dân tăng
dần và điều đáng quan tâm là cơ cấu tiêu dùng đã thay đổi theo hƣớng mua và sử dụng những
mặt hàng cao cấp chất lƣợng cao, nhờ đó tốc độ tăng trƣởng bình quân năm trong thời kỳ này
đạt khá cao: 9,3% (đã loại trừ yếu tố giá cả). Hiện nay thành phố có một mạng lƣới lƣu thông
tƣ 7411 triệu USD, 161 dự án 100% vốn nƣớc ngoài với 1152 triệu USD và 34 dự án hợp tác
kinh doanh với 1033 triệu USD.
V.3.2. Về xây dựng cơ sở hạ tầng:
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông lớn, nối liền các địa phƣơng trong
nƣớc và quốc tế. Hệ thống giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng biển, đƣờng hàng không
tƣơng đối hoàn chỉnh.
Hệ thống đƣờng bộ với khoảng 20 ngàn km nối liền các tỉnh là qua Tây Ninh đi
Campuchia. Ga Hòa Hƣng (Sài Gòn) là đầu mối cuối cùng của đƣờng sắt Bắc - Nam. Hai hệ
thống này tạo thuận lợi cho việc giao lƣu với khắp mọi miền đất nƣớc.
Là cửa ngõ ra biển Đông và là trung tâm kinh tế thƣơng mại thành phố có hệ thống
cảng biển vào loại lớn nhất trong cả nƣớc. Trên độ dài 10km của sông Sài Gòn có tới 20 cảng
lớn, nhỏ, trong đó 17 cảng đang hoạt động, 3 cảng đang hình
Đề tài cấp Bộ mã số: B2002 - 23 - 28
16
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
thành. Sản lƣợng thông qua cảng của thành phố hàng năm chiếm 45,9% sản lƣợng của cả
nƣớc. Trong 4 cảng lớn của nƣớc ta hiện nay có 3 cảng thuộc thành phố, đó là cảng Sài Gòn,
Bến Nghé và Tân Cảng. Cảng Sài Gòn có thể đón tàu có tải trọng 20.000 tấn, Bến Nghé 18
ngàn tấn, Tân Cảng 10 ngàn tấn. Các cảng khác là những cảng chuyên dùng còn có khả năng
đón nhận tàu có tải trọng cao hơn nhƣ cảng xăng dầu Nhà Bè, cảng Sài Gòn Petro.
Năm 2003, giao thông công cộng có bƣớc tiến bộ. Hàng ngàn xe buýt cũ đã đƣợc thay
thế cùng với hàng trăm xe của các doanh nghiệp quốc doanh làm cho số lƣợng ngƣời đi xe
buýt ngày càng tăng. Thành phố đã tiến hành các biện pháp phân luồng giao thông, hạn chế
đăng ký xe hai bánh ... góp phần giảm ùn tắc giao thông.
Một đầu mối hàng không giao thông quan trọng của cả nƣớc và khu vực là sân bay
Với hệ thống trƣờng học ở thành phố Hồ Chí Minh (2001): mẫu giáo 570 và 754
trƣờng phổ thông (PTCS, THPT), trong đó THPT có 102 lại đƣợc xây dựng qua nhiều thời kỳ
khác nhau. Những nhìn nhận, quan niệm đƣợc thể hiện qua cấu trúc của các trƣờng khác
nhau. Mỗi trƣờng học là một hệ thống môi trƣờng thu nhỏ, nơi sinh hoạt, học tập hàng ngày
của học sinh, thầy cô giáo và các đối tƣợng khác. Mỗi yếu tố trong môi trƣờng có ảnh hƣởng
trực tiếp và gián tiếp đến chất lƣợng làm việc, khả năng phát triển của thầy giáo và học sinh
nên cần phải đƣợc đánh giá để thiết lập các yếu tố đảm bảo những tiêu chuẩn cơ bản về môi
trƣờng trƣờng học.
VI. Một số tiêu chuẩn môi trường trường học:
VI.1. Vị trí và quy mô trường học:
Đề tài cấp Bộ mã số: B2002 - 23 - 28
19
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
VI.1.1. Vị trí xây dựng:
Trƣờng học phải đƣợc xây dựng ở những nơi cao ráo, sạch sẽ, xa các nguồn độc hại
nhƣ: khói, bụi, hơi khí độc, chất độc, chất dễ cháy nổ và các vùng gây ô nhiễm nhƣ bãi rác,
nghĩa trang, các bệnh viện truyền nhiễm, ... tối thiểu 100m.
Trƣờng học phải ở xa nơi gây tiếng ồn lớn nhƣ: chợ, bến tàu xe, sân bay, đƣờng giao
thông chính,... để trong giờ học mức ồn không vƣợt quá 50dB.
Nên xây dựng trƣờng học ở trung tâm khu dân cƣ để mọi học sinh đến trƣờng thuận
lợi, giảm bớt các yếu tố bất lợi (các bệnh do thời tiết, các tai nạn giao thông) xảy ra đối với
học sinh. Khoảng cách trung bình đƣợc quy định cho các cấp học nhƣ sau:
+ Theo thời gian: khoảng cách đƣợc tính cho đi bộ từ nhà đến trƣờng từ 20 đến 30
phút.
học phải đảm bảo tối đa 1 lớp/phòng đối với trƣờng tiểu học, 2 lớp/phòng đối với trƣờng
trung học để có nhiều nhất 2 ca học/ngày. Ở vùng thƣa thớt, Bộ giáo dục sẽ có quy định riêng
phù hợp với hoàn cảnh từng vùng.
Số học sinh tối đa trong một lớp ở trƣờng tiểu học là 35 học sinh, trƣờng trung học
phổ thông là 45 học sinh.
Diện tích phòng học cho một học sinh là 1,1m2 đến 1,25m2 (không đƣợc dƣới 0,8m2
để các em ngồi đƣợc thoải mái, lớp học nên có chiều dài ≤ 8,5m, rộng ≤ 6,5m, cao 3,6m.
Tiêu chuẩn thể tích phòng học cho một học sinh là 3,96 - 4,5 m3, tối thiểu 2,8m3 (nếu
phòng học không có trần thì chiều cao tính từ nền tới giữa mái nhà)
Phòng y tế nhà trƣờng nên có diện tích từ 12m2 trở lên, trong đó bố trí 1 đến 2 giƣờng
cấp cứu. Đối với trƣờng phổ thông có bán trú, nội trú thì phải có một phòng cách ly và nhân
viên y tế trực 24/24 giờ.
VI.1.3. Cách bố trí các khu nhà trong trƣờng học:
Khoảng cách giữa các tòa nhà phải cách nhau một khoảng bằng ba lần chiều cao của
tòa nhà đối diện (tối thiều 2 lần) :
L = 2h đến 3h
Đề tài cấp Bộ mã số: B2002 - 23 - 28
21
Chủ nhiệm đề tài: GVC. Đặng Quang Quỳnh
L : Khoảng cách giữa hai tòa nhà
h : chiều cao của tòa nhà đối diện
Các khu nhà dùng làm lớp học nên chọn hƣớng đón gió vào mùa hè và nhận nhiều
ánh nắng ban ngày nhƣng tránh hƣớng có ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.
Các phòng học phải đƣợc ngăn cách với các phòng học có nguồn gây tiếng ồn hoặc
mùi vị (phòng thực hành - thí nghiệm, thể thao, giảng đƣờng có chiếu phim, nhà ăn, ...). Lối