CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC"
NĂM 2007
TÊN CÔNG TRÌNH:
"NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ
LỰC CHUYÊN MÔN CỦA SINH VIÊN CHUYÊN SÂU CẦU LÔNG
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH "
Thuộc nhóm ngành: XH2B
Trang 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................................. 1
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 2
MỤC ĐÍCH ................................................................................................................................ 5
NHIỆM VỤ ................................................................................................................................ 6
CHƢƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................................ 7
1.1 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC THỂ CHẤT ........................................................................... 7
1.2 ĐẶC ĐIỂM TỐ CHẤT THỂ LỰC TRONG MÔN CẦU LÔNG ....................................... 8
1.3 HUẤN LUYỆN THỂ LỰC ............................................................................................... 11
1.4 SỨC NHANH .................................................................................................................... 12
1.5 SỨC MẠNH ...................................................................................................................... 12
1.6 SỨC BỀN........................................................................................................................... 14
1.7 MỀM DẺO ......................................................................................................................... 14
1.8 KHÉO LÉO ........................................................................................................................ 14
Cầu lông đỉnh cao đòi hỏi vận động viên phải hội đủ các tố chất nhanh, mạnh, bền,
dẻo, khéo léo. Do đó trong khi huấn luyện cầu lông thì khâu huấn luyện thể lực đóng một vai
trò khá quan trọng. Một vận động viên nếu có kỹ thuật khá ổn định mà thể lực không tốt thì
chƣa chắc sẽ giành chiến thắng trong các cuộc thi. Ngƣợc lại nếu có thể lực tốt thì anh ta có
thể sử dụng hiệu quả các kỹ thuật và duy trì nhịp độ thi đấu cao trong xuất trận đấu đồng thời
giúp cho vận động viên phát huy đƣợc ý đồ chiến thuật thi đấu cao.
Trang 5
Khoa Giáo Dục Thể Chất, một đơn vị đƣợc thành lập chỉ vài năm gần đây nhƣng với
trình độ chuyên môn vững vàng và lòng nhiệt thành trong giảng dạy của các thầy cô trong
khoa, các sinh viên đã đƣợc học tƣơng đối đầy đủ và kỹ các môn thể thao theo chƣơng trình
của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo để sau này khi tốt nghiệp thì có đủ năng lực và tri thức chuyên
môn phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Nhiều môn thể thao nói chung đều đƣợc khoa đƣa vào
chuyên ngành và giảng dạy chuyên sâu một cách có hệ thống. Và ở những khoa học gần đây
thì môn cầu lông đã đƣợc chính thức chọn làm môn học chuyên sâu. Tuy có khá nhiều ƣu
điểm chẳng hạn nhƣ trang thiết bị tập luyện đầy đủ, đội ngũ giảng viên có chuyên môn nhƣng
tôi nhận thấy rằng trình độ thể lực chuyên môn của sinh viên chuyên sâu cầu lông còn rất hạn
chế. Các chỉ tiêu đánh giá thể lực chuyên môn còn ít và chƣa thật rõ ràng và đặc thù cho môn
cầu lông. Vì vậy việc xây dựng các chỉ tiêu để đánh giá chính xác hơn trình độ thể lực chuyên
môn của sinh viên chuyên sâu cầu lông là rất cần thiết.
Tôi hy vọng với nghiên cứu của mình sẽ đƣợc các quý thầy cô giảng dạy môn cầu
lông trong khoa Giáo Dục Thể Chất sử dụng làm tài liệu tham khảo đánh giá trình độ thể lực
chuyên môn của sinh viên chuyên sâu cầu lông.
Đây cũng là lần đầu tiên làm đề tài nghiên cứu khoa học dẫu biết có khá nhiều khó
khăn và hạn chế nhƣng tôi vẫn mạnh dạn chọn đề tài:
"Nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của sinh
viên chuyên sâu cầu lông khoa Giáo Dục Thể Chất trường Đại học Sư Phạm Thành phố
Hồ Chí Minh "
Trang 11
8. Cảm giác phòng thủ kém sẽ làm giảm mất cơ hội chống lại những đấu thủ chơi
hăng hái.
9. Tinh thần thi đấu có thể huy động được những nguồn sức mạnh tiền ẩn.
10. Hoạch định chiến thuật một cách có tổ chức tốt sẽ làm tăng lòng tự tin.
11. Sự sung sức thể lực ở mức cao sẽ kích thích được tinh thần.
12. Có đủ kiên nhẫn để chơi một trận cầm chừng theo chiến thuật hay không?
Mỗi cú đánh gồm một số động tác phức tạp phải đƣợc lặp đi lặp lại không có sai sót,
thậm chí các điều kiện từ cú đánh này đến cú đánh sau đó là hoàn toàn khác nhau (cú đánh trả
lại chỉ có nghĩa làm cho quả cầu lông bay qua lƣới).
Hình 1 cũng minh họa tầm quan trọng của sự sung sức về thể lực. Phân tích lƣợng vận
động thƣờng bắt đầu bằng việc đánh giá toàn bộ các yêu cầu của môn cầu lông. Sự phù hợp
về thể lực quyết định trực tiếp tới mức yêu cầu để có thể sử dụng kỹ thuật, chiến thuật và các
khả năng tâm lý của ngƣời tập.
1.3 Huấn luyện thể lực
Huấn luyện thể lực là dùng các phƣơng tiện của thể dục thể thao tác động lên ngƣời
tập một lƣợng vận động nhằm biến đổi và hoàn thiện các chức năng, chức phận của cơ thể. [
2 - tr 63 ]
Thành tích thể thao của môn cầu lông nhƣ đã đề cập ở trên là sự tổng hợp kết quả của
nhiều yếu tố hợp thành, nên không thể coi nhẹ bất kỳ một yếu tố nào, mà phải phát triển đồng
bộ và toàn diện. Huấn luyện thể lực trong cầu lông là một quá trình sƣ phạm, mang tính giáo
dục cao, đƣợc thực hiện trong sự thống nhất với các mặt giáo dục, đạo đức, ý chí, thẩm mỹ,
năng lực tiếp thu kỹ thuật, chiến thuật. Việc xem xét huấn luyện thể lực không chỉ từ góc độ
nâng cao thành tích mà còn ở cả sự phát triển thể chất, củng cố sức khỏe, chuẩn bị cho con
ngƣời (ngƣời tập) có khả năng sấn sàng cao đối với lao động sản xuất và bảo vệ Tổ Quốc.
Trang 12
4. Không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh lực)
5. Giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục)
6. Tăng độ dài của cơ (chế độ nhƣợng bộ)
Phân loại:
Dựa vào chế độ làm việc của cơ vừa nêu trên, ta có thể phân sức mạnh thành các loại
sau:
+ Sức mạnh tĩnh: thể hiện ở những hoạt động tĩnh hoặc ở các hoạt động chậm.
+ Sức mạnh tốc độ: thể hiện ở những hoạt động nhanh, giữa lực cản và tốc độ có mối
tƣơng quan tỷ lệ nghịch.
+ Sức mạnh bộc phát: biểu hiện chỉ số sức mạnh lớn nhất trong một thời gian ngắn
nhất và đƣợc biểu thị bằng công thức:
Trong đó :
I là chỉ số sức mạnh tối đa.
Fmax. là chỉ số sức mạnh tối đa đạt đƣợc trong khi thực hiện động tác.
t max là thời gian đạt đƣợc sức mạnh tối đa đó.
Ngoài ra, để so sánh sức mạnh của những ngƣời có trọng lƣợng cơ thể khác nhau,
ngƣời ta sử dụng khái niệm: sức mạnh tuyệt đối và sức mạnh tƣơng đối. Sức mạnh tƣơng đối
là chỉ số sức mạnh trên một kilôgam trọng lƣợng cơ thể. Còn sức mạnh đạt đƣợc trị số lớn
nhất trong một động tác nào đó gọi là sức mạnh tuyệt đối.
Trang 14
Nhƣ vậy, những ngƣời có trình độ luyện tập nhƣ nhau, song trọng lƣợng cơ thể khác
nhau thì khi trọng lƣợng cơ thể càng lớn sẽ có sức mạnh tuyệt đối càng lớn, nhƣng sức mạnh
tƣơng đối sẽ giảm đi.
1.6 Sức bền
Sức bền là khả năng làm việc trong một thời gian tƣơng đối dài mà không bị giảm sút
cƣờng độ vận động và ý chí. Hay nói một cách khác, sức bền là khả năng chống lại mệt mỏi
1.9.1 Phương pháp phát triển sức nhanh: [ 2 - tr 67 ]
a) Phát triển phản ứng vận động:
Ngƣời ta chia phản ứng vận động thành phản ứng vận động đơn giản và phản ứng vận
động phức tạp.
- Phản ứng vận động đơn giản: Là sự đáp lại một tín hiệu đã biết trƣớc nhƣng xuất
hiện một cách bất ngờ bằng những động tác đã định trƣớc. Ví dụ: Phản ứng đối với tiếng
súng phát lệnh, còi, cờ hiệu, tiếng vỗ tay... Phƣơng pháp phổ biến nhất để phát triển phản ứng
vận động đơn giản là phản ứng lặp lại thật nhanh đối với các tín hiệu xuất hiện đột ngột hoặc
đối với sự biến đổi bất ngờ của hoàn cảnh xung quanh. Ví dụ: Lặp lại nhiều lần xuất phát
thấp trong chạy, thay đổi hƣớng vận động theo tín hiệu, hình thành cảm giác tốc độ. Chẳng
hạn, có thể hình thành cảm giác tốc độ theo một số giai đoạn sau đây:
+ Ngƣời thực tập cố gắng phản ứng lại tín hiệu với tốc độ lớn nhất và thực hiện các
động tác. Sau mỗi lần tập, huấn luyện viên báo thời gian.
Trang 16
+ Thực hiện nhƣ trên, nhƣng ngƣời tập tự đánh giá thời gian. Sau đó huấn luyện viên
báo thời gian thực tế và so sánh. Nhiều lần tập nhƣ vậy sẽ hình thành cảm giác tốc độ chính
xác.
+ Chạy với tốc độ định trƣớc.
Phản ứng vận động, đặc biệt là cảm giác tốc độ có ý nghĩa quan trọng đối với các môn
thể thao tốc độ. Ví dụ: Ngƣời có trình độ tập luyện phản ứng đạt tới 0,05 - 0,07 giày, ngƣời
chƣa tập luyện phản ứng chỉ đạt 2/10 - 3/10 giây.
Trong nhà trƣờng phổ thông, việc sử dụng rộng rãi các trò chơi vận động, các môn
bóng có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng các khả năng phản ứng vận động.
- Phản ứng vận động phức tạp: Là loại phản ứng đối với vật di động hoặc lựa chọn.
+ Phản ứng đối các vật di động thƣờng gặp trong các môn bóng và các môn đối kháng
cá nhân. Trong trƣờng hợp này đòi hỏi vận động viên phải nhận biết đối tƣợng nhanh, đánh
giá nhanh phƣơng hƣớng và tốc độ của vật di động, chọn kế hoạch hành động, thực hiện kế
hoạch đó với thời gian ngắn nhất. Phƣơng pháp phổ biến là:
không phải tập trung vào cách thực hiện mà vào tốc độ động tác.
+ Cự li phải đảm bảo sao cho đến cuối lúc thực hiện động tác, tốc độ không bị giảm
do mệt mỏi. Ví dụ: Vận động viên cao cấp cũng không quá 20 - 22 giây (200m).
+ Phát triển sức mạnh - tốc độ, mạnh - bộc phát.
- Phƣơng pháp:
Phƣơng pháp chủ yếu ở đây là lặp lại, lặp lại tăng tiến, biến đổi... Các phƣơng pháp
trên phải tuân theo một xu hƣớng cơ bản là cố gắng vƣợt tốc độ lớn nhất của bản
Trang 18
thân trong các buổi tập. Cần lựa chọn cự li sao cho tốc độ di chuyển không bị giảm đi vào
cuối lần tập. Ví dụ cự không vƣợt quá 200m, thƣờng sử dụng các bài tập chạy 30 - 50 - 60 m
tốc độ cao. Quãng nghỉ giữa các lần tập cần đủ để có thể hồi phục tƣơng đối hoàn toàn, nợ
ôxi đƣợc thanh toán. Nhƣng nếu căn cứ vào tốc độ hồi phục của hệ thực vật thì quãng nghỉ
tƣơng đối dài, chẳng hạn 8 - 12 phút sau mỗi bài tập tốc độ cao. Trong khi đó tốc độ hồi phục
hƣng phấn thần kinh rất nhanh. Để giải quyết mâu thẩn này, giữa các quãng nghỉ cần nghỉ
ngơi tích cực để duy trì hƣng phấn thần kinh. Phƣơng tiện nghỉ ngơi tích cực thƣờng là các
bài tập có cƣờng độ thấp nhƣng đòi hỏi nhiều nhóm cơ cùng tham gia hoạt động, nhờ đó các
xung động thần kinh hƣớng tâm nhận lƣợng vận động tốc độ duy trì đƣợc khả năng hƣng
phấn cao.
Mặt khác, mâu thuẫn trên có thể đƣợc giải quyết nhờ tốc độ hồi phục các chức năng
thực vật diễn ra không đồng đều: một phần ba thời gian đầu của thời kì hồi phục thì một số
chức năng đã hồi phục đƣợc 70%, một phần ba thời gian tiếp theo hồi phục đƣợc 25%, một
phần ba thời gian còn lại 5%. Nhƣ vậy trên thực tế, nếu quá trình hồi phục là 12 phút thì ở
phút thứ 8 đã hồi phục đƣợc 95%, nên có thể tiến hành đƣợc lần tiếp theo. Còn nếu quá trình
hồi phục là 9 phút thì ở phút thứ 6 đã có thể tiến hành lần tiếp theo. Vận động viên cấp cao,
nghỉ giữa quãng 1/2 thời gian đã có thể tập tiếp.
c) Phát triển tần số động tác:
- Tần số động tác tiêu biểu cho các hoạt động có chu kì. Thông thƣờng, tần số tay lớn
hơn chân, tần số động tác tứ chi lớn hơn mình.
Trang 20
10.Nguồn năng lƣợng yếm khí.
1l. Quá trình điều hòa thần kinh - cơ.
Về cơ chế điều hòa thần kinh - cơ có hai trƣờng hợp tùy thuộc vào cƣờng độ kích
thích (trọng lƣợng). Khi cƣờng độ kích thích nhỏ, các sợi cơ làm việc theo chế độ luân phiên,
tức là số lần lặp lại tăng lên thì số lƣợng các sợi cơ tham gia luân phiên hoạt động cũng tăng
lên. Nếu cƣờng độ kích thích lớn thì cùng một lúc huy động rất nhiều sợi cơ tham gia hoạt
động.
Dựa trên cơ sở khoa học vừa nêu trên mà chúng ta định hƣớng cho việc hình thành
các phƣơng pháp tập luyện sức mạnh sau đây:
a. Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ chung trong quá trình giáo dục sức mạnh là phát triển toàn diện các loại sức
mạnh nhằm phát huy cao độ và hợp lí sức mạnh trong các hình thức hoạt động khác nhau và
đặt cơ sở cho huấn luyện chuyên môn.
b. Phƣơng pháp để phát triển sức mạnh:
12. Sử dụng các bài tập với sức đối kháng lớn ở bên ngoài nhƣ tạ, sức đối kháng của
ngƣời cùng tập, vật đàn hồi, bao cát...
13. Bài tập khắc phục trọng lƣợng của bản thân: nhảy lò cò, chống đẩy, kéo xà đơn,
ke bụng...
c. Phƣơng pháp:
14. Cách xác định đối kháng: Trọng lƣợng hay lực đối kháng tối đa là trọng lƣợng mà
vận động viên có thể khắc phục đƣợc một lần trong trạng thái không quá hƣng phấn, nếu 2
đến 3 lần là gần tối đa, từ 4 - 7 lần là lớn, từ 8 - 12 lần là trung bình, từ 13-20 lần là nhỏ ...
15. Huấn luyện sức mạnh thƣờng sử dụng các bài tập tăng thêm trọng lƣợng. Các
nhân tố ảnh hƣởng đến lƣợng vận động sức mạnh bao gồm: trọng lƣợng (cƣờng độ), số lần
lặp lại, nhóm bài tập lặp lại và nghỉ giữa quãng.
40%, sau đó tăng dần lên 60 - 70% sức tối đa của bản thân. Lặp lại 8 - 12 lần. Nhóm bài tập
theo nguyên tắc không làm giảm số lần lặp lại. Nghỉ giữa quãng 3 phút - 5 phút. Đối với vận
động viên có trình độ trọng lƣợng đạt 80 - 90%, tập 1-2 lần/tuần.
- Tập sức mạnh tƣơng đối: Một mặt nâng cao sức mạnh tuyệt đối, mặt khác cần khống
chế trọng lƣợng cơ thể. Tập với trọng lƣợng lớn số lần lặp lại trung bình.
- Tập sức mạnh tốc độ: Sử dụng trong lƣợng nhỏ, yêu cầu tốc độ nhanh, liên tục.
- Mạnh - bền: Trọng lƣợng nhỏ, lặp lại nhiều lần đến giới hạn.
1.9.3 Phương pháp phát triển sức bền:
Các nhân tố cấu thành phƣơng pháp huấn luyện sức bền bao gồm số lƣợng và cƣờng
độ bài tập , số lần lặp lại, thời gian nghỉ và tính chất nghỉ , đặc điểm cá nhân về sinh học và
tâm lý.
a. Phát triển sức bền chung:
- Nguyên tắc chung là nâng cao khả năng ƣa khí của cơ thể, tức là nâng cao mức hấp
thụ ôxi tối đa, di trì khả năng đó trong thời gian dài, làm cho các quá trình hô hấp, tuần hoàn
nhanh chóng bƣớc vào hoạt động với hiệu suất cao nhất.
- Phƣơng tiện: Những bài tập có hiệu quả nhất là những bài tập có nhiều nhóm cơ
tham gia. Tốt nhất là tập trong các điều kiện tự nhiên, ở những nơi giàu ôxi (rừng, cánh đồng,
bãi biển)... Các bài tập phải đƣợc thực hiện với tốc độ gần mức giới hạn. Nhịp tim khoảng
150 lần/phút, thời gian tập 30 phút trở lên.
- Phƣơng pháp tập luyện đồng đều, liên tục, lặp lại và biến đổi là những phƣơng pháp
chủ yếu để nâng cao khả năng ƣa khí của cơ thể.
Trang 23
Các ví dụ sau đây nhằm giới thiệu một vài phƣơng pháp cụ thể:
+ Phƣơng pháp tập luyện đồng đều:
Tốc độ duy trì đều nhằm làm cho tim, phổi hoạt động nhịp nhàng. Tốc độ ở mức gần
giới hạn (nhƣng cũng không đƣợc quá nhỏ), 75 - 85% cƣờng độ tối đa. Cự li đối với vận động
viên cấp cao chạy l000m/ 5 - 7 phút. Cần duy trì cự li trong thời gian tối thiểu 10 - 12 phút.
Chỉ có vận động viên cấp Quốc tế mới có thể đạt đƣợc 1 - 1.5 giờ. Số lần lặp lại tùy theo trình