ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Tài nguyên Đất & Môi trường Nông nghiệp
-----------o0o----------
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
ĐỀ TÀI:
“Bước đầu nghiên cứu xây dựng Bộ chỉ thị đánh
giá các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công,
huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Phương Anh
Nhóm sinh viên thực hiện:
1. Nguyễn Thị Thanh Hải (Nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Hải Hà
3. Lê Thị Hiệp
4. Ngô Đức Phong
5. Nguyễn Thị Ngọc Tú
1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Nuôi trồng thủy sản là một ngành kinh tế truyền thống mũi nhọn, có thế mạnh của các
tỉnh có vùng ven biển và đầm phá ở nước ta. Sự phát triển mạnh ngành NTTS đã góp phần
tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân. Song song với những lợi ích của các hoạt
động NTTS mang đến, nó còn để lại những ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên và môi
trường vùng ven biển, vùng biển.
Việt Nam là nước có tiềm năng về thủy sản. Với điều kiện thiên nhiên thuận lợi, nước ta
có chiều dài đường bờ biển khá lớn 3200 km, cùng với các yếu tố nhiệt độ, môi trường,
nguồn thức ăn... là điều kiện lý tưởng để đầu tư phát triển kinh tế thủy sản. Đặc biệt, tỉnh
Thừa Thiên Huế là tỉnh có đường bờ biển dài 126 km và hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai
lớn nhất Đông Nam Á với diện tích là 21.594 ha, là nơi có điều kiện khá lý tưởng cho sự
sinh trưởng các loài thủy sản có giá trị cao, đặc biệt là tôm.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Bước đầu xây dựng bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm.
- Đánh giá các ảnh hưởng của các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công đến môi trường.
- Lựa chọn mô hình và hình thức nuôi tôm phù hợp.
- Đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và quản lý để phát triển nghề nuôi tôm ở xã
Quảng Công.
3
PHẦN II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công, huyện Quảng
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế với các hình thức nuôi: Thâm canh, bán thâm canh, quảng canh
cải tiến.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi thời gian: từ ngày 1/12/2009 đến ngày 1/12/2010.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành ngành nghiên cứu việc xây dựng Bộ chỉ thị đánh giá các hình thức
nuôi tôm của một số hộ dân ở thôn 1, 2, 4 ở xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được đề tài này và đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
2.3.1. Phương pháp điều tra
2.3.1.1. Thu thập số liệu:
Các số liệu thu thập được từ những tác giả đi trước, cũng như việc thu thập các tài liệu,
số liệu ở các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế, Phòng thống kê
của Cục thống kê thành phố Huế, Phòng Nông nghiệp huyện Quảng Điền,… của các đề tài,
3.1. Cơ sở lý luận
3.1.1. Theo tổ chức FAO
Theo tổ chức FAO (Tổ chức Nông Lương Thế Giới), sự PTBV trong NTTS: “là sự quản
lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và sự định hướng về những thay đổi công nghệ và thể
chế theo hướng đảm bảo sự đáp ứng các nhu cầu cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Sự phát
triển như vậy đòi hỏi phải bảo vệ đất, nước, các nguồn gen động vật và thực vật, không làm
suy thoái môi trường, phải phù hợp về mặt kỹ thuật, vững chắc về mặt kinh tế và được chấp
nhận về mặt xã hội ”.
Để thực hiện những vấn đề trên, FAO đã đưa ra mục tiêu PTBV trong NTTS:
Mục tiêu 1: Sử dụng đất và nước thích hợp trong NTTS bền vững.
Mục tiêu 2: Bảo tồn các chức năng của các hệ sinh thái quan trọng và những môi trường
nước nhạy cảm.
Mục tiêu 3: Quản lý tốt các nguồn tài nguyên đất và cải tạo đất nhằm giảm thiểu các tác
động có hại lên môi trường xung quanh.
Mục tiêu 4: Giảm thiểu các tác động có hại lên các nguồn tài nguyên nước địa phương.
Mục tiêu 5: Tránh việc để các loài nuôi ngoại lai và chuyển ghép gen xâm nhập vào môi
trường xung quanh.
Mục tiêu 6: Quản lý tốt việc sử dụng các loại hóa chất có hại cho sức khỏe con người và
các hệ sinh thái.
Mục tiêu 7: Gia tăng cao nhất hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên và giảm thiểu thấp
nhất lượng chất thải được tạo ra.
Mục tiêu 8: Giảm thiểu sự lệ thuộc vào các nguồn giống tự nhiên ở các trang trại.
Mục tiêu 9: Thực hiện tốt việc chăm sóc sức khỏe cho vật nuôi nhằm giảm thiểu nguy cơ
dịch bệnh trong các trang trại (TT) và ngoài tự nhiên.
Mục tiêu 10: Tối ưu hóa các lợi ích KT-XH cho cộng đồng và đất nước.
Mục tiêu 11: Cải tiến các hoạt động ở TT nuôi nhằm giảm thiểu các tác động lên những
đối tượng sản xuất xung quanh.
Mục tiêu 12: Đảm bảo quyền và phúc lợi của nhân công làm việc ở các trung tâm.
Trong Chương trình Nghị sự 21, tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) đã chỉ ra rằng, muốn
xây dựng các chỉ thị PTBV cần tập trung vào các vấn đề: Kinh tế, xã hội, môi trường và
Nhóm chuyên gia kỹ thuật của FAO đưa ra chú ý khi xác định các tham số đặc trưng về
nhóm chỉ thị KT-XH là phải đánh giá khả năng tồn tại về mặt kinh tế cũng như sự chấp nhận
của xã hội đối với việc NTTS ở hiện tại và tương lai.
Tóm lại, các nhóm chỉ thị trên chỉ nghiên cứu ở cấp độ quốc gia. Mỗi nhóm có thể phù
hợp ở một phạm vi nhất định. Các chuyên gia kỹ thuật của FAO khuyến khích nên phát triển
các chỉ thị ở cấp độ càng nhỏ thì sẽ dễ đánh giá hơn.
3.1.2. Các hình thức nuôi tôm hiện nay [8]
3.1.2.1. Nuôi quảng canh (Extensive culture)
Là hình thức nuôi phụ thuộc vào tự nhiên là chính, thông qua việc lấy nước qua cửa
cống và nhốt giữ trong một thời gian nhất định, ít đầu tư chăm sóc. Mật độ thả giống rất
thấp, từ 1-3 con/m
2
. Năng suất bình quân đạt 180 kg/ha/vụ. Ở vùng đầm phá TTH, nuôi tôm
cá CS được xem là nuôi QC. Hình thức này vốn đầu tư phù hợp với dân nghèo nhưng mức
độ rủi ro lớn do bị ảnh hưởng trực tiếp của mưa lụt, nhất là lụt tiểu mãn.
3.1.2.2. Nuôi quảng canh cải tiến (Improve extensive)
Là hình thức nuôi cao hơn của QC. Ở hình thức QCCT, tuy phụ thuộc nhiều vào tự
nhiên, lấy nước theo thủy triều nhưng được đầu tư chủ động giống, thức ăn ở mật độ nhất
định đồng thời có đầu tư biện pháp cải tạo đầm, diệt trừ các đối tượng dịch hại để tăng tỷ lệ
sống và năng suất. Quy mô DT dưới 2 ha. Mật độ giống thả từ 4-9 con/m
2
. NS đạt từ 300-
900 kg/ha/vụ. Mực nước sâu 1-1,2 m. Ở vùng đầm phá, nuôi ao hạ triều được xem là nuôi
QCCT. Hình thức này phù hợp với vùng có bãi triều rộng hoang hóa, nuôi có hiệu quả
7
nhưng dễ ô nhiễm môi trường vì không xử lý triệt để đáy, nhất là nếu nâng cao mật độ thả
giống
3.1.2.3. Nuôi bán thâm canh (Semi-intensive)
Là hình thức nuôi bằng giống nhân tạo và thức ăn công nghiệp là chủ yếu, đồng thời kết
hợp một phần sử dụng thức ăn tự nhiên có trong đầm phá. Hệ thống ao đầm đã được đầu tư
nghiệp, một phần
thức ăn tự nhiên
Thức ăn
công nghiệp
Cung cấp nước Lấy nước triều
qua cống
Lấy nước triều
qua cống
Theo yêu cầu kỹ
thuật
Theo yêu
cầu kỹ thuật
NS (tấn/ha/vụ) 0,05 - 0,3 0,31 - 0,9 1,00 - 2,00 2,00 - 5,00
( Nguồn: Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế, 12/2008)
3.1.3. Khái niệm về chỉ thị và việc sử dụng chỉ thị hiện nay [3]
3.1.3.1. Khái niệm chỉ thị
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCED) cho rằng chỉ thị là một sự đo lường phản
ánh tình trạng các hệ thống xã hội, kinh tế và môi trường theo thời gian.
Theo Uỷ Ban Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (UNCSD), chỉ thị là những đơn vị
thông tin mô tả tình trạng của các hệ thống, là thước đo tổng hợp các thông tin liên quan đến
một hiện tượng nhất định. Chỉ thị là dụng cụ, đơn vị đo lường được sử dụng để đánh giá,
quan trắc những kết quả đạt được trong suốt quá trình. Mục đích của nó cho thấy được hoạt
8
động của một hệ thống tự nhiên, kinh tế, xã hội đang diễn ra theo chiều hướng như thế nào,
tốt hay xấu. Vì vậy, chỉ thị là rất có ích trong việc đánh giá một vấn đề, nó chỉ phù hợp khi
xét trong mối tương quan với các mục đích cụ thể, ví dụ mục đích là chỉ thị môi trường. Nó
nhằm:
* Cung cấp thông tin cho sự đánh giá
Nó cung cấp thông tin đến các nhà hoach định chính sách và công chúng, đối với mỗi
nhóm đối tượng thì chỉ thị sẽ cung cấp sẽ khác nhau.
5. Phù hợp với việc so sánh: ví dụ như so sánh giữa các huyện trong một tỉnh. Khi so
sánh nếu một huyện vượt trội huyện khác về điểm số thì chứng tỏ có thể học được một số
điều từ huyện này.
6. Đơn giản và dễ hiểu nhờ: định nghĩa về các chỉ thị phải rõ ràng và thống nhất và trình
bày chỉ thị một cách hợp lý. Không nên có những nội dung mâu thuẫn giữa các chỉ thị với
nhau.
9
7. Phải có cơ sở về mặt khái niệm cũng như phương pháp luận: điều này phải được thể
hiện trong các mô tả về phương pháp luận và công thức sử dụng, các tham khảo khoa học
cho phương pháp luận và công thức đó. Tất cả những mô tả này cần được đưa vào phần tài
liệu hoá của chỉ thị.
8. Được tài liệu hoá đầy đủ và quản lý được chất lượng: điều này được đánh giá bằng
cách thực hiện kiểm tra công tác tài liệu hoá đối với chỉ thị và mức độ đều đặn các tài liệu
này được cập nhật. Hệ thống quản lý chỉ thị sẽ hỗ trợ các công việc này, hệ thống này sẽ
đem lại tính minh bạch và là cơ sở để có thể quản lý tốt hơn quy trình xây dựng và công bố
chỉ thị.
9. Tính sẵn có của dữ liệu: các dữ liệu thu thập phục vụ cho chỉ thị phải đảm bảo tính
khả thi cả về mặt chuyên môn cũng như tài chính. Các chỉ thị đó phải được xem xét ở các
mức độ quan trọng của chỉ thị đem lại phù hợp với chi phí thu thập dữ liệu để phục vụ cho
việc lựa chọn chỉ thị trong thời gian dài hoặc ngắn.
3.1.3.3. Một số chỉ thị thông dụng hiện đang được sử dụng [1,3]
Chỉ số phát triển con người: được đánh giá trên thang điểm từ 0 đến 1 là một tập hợp
của 3 chỉ thị: tuổi thọ bình quân, tổng sản phẩm quốc nội, tỷ lệ người biết chữ và thời gian
trung bình đến trường.
Chỉ số Daly-Cobb: là một chỉ thị toàn diện hơn về sự phát triển kinh tế bền vững. Chỉ số
này không chỉ phản ảnh mức tiêu thụ trung bình mà còn cho thấy sự công bằng trong phân
phối sản phẩm và sự suy thoái môi trường.
Chỉ số tiêu thụ lương thực đầu người: (Per Capital Grain Index) là một thước đo hữu
hiệu về kinh tế ở các nước có thu nhập thấp. Chỉ thị này phản ảnh sự thoả mãn của nhu cầu
cơ bản con người bởi con người không thể tồn tại nếu mức tiêu thụ lương thực hàng năm
đo lường mức độ phát triển toàn diện của một quốc gia.
Chỉ số SDI được xây dựng bao gồm 134 chỉ thị đã được chọn lọc và 22 quốc gia tình
nguyện áp dụng thử nghiệm Bộ chỉ thị này. Vào năm 2001, Bộ chỉ thị này đã được chuẩn
hoá như là một công cụ đo lường các sự tiến bộ trong PTBV nhằm hỗ trợ cho những người
ra quyết định, những nhà hoạch định chính sách phát triển KT-XH của một quốc gia được
bền vững lâu dài.
Chỉ số bền vững môi trường (Environmental Sustainability Index, ESI): chỉ ra những
việc làm, những khả năng của một quốc gia trong việc BVMT cho tương lai. Chỉ số này
được xây dựng bởi 21 chỉ thị bền vững môi trường với 76 tham số, tập trung vào 5 khía cạnh
sau:
- Hệ thống môi trường
- Giảm thiểu tác động môi trường
- Giảm thiểu tính thương tổn của con người đối với các áp lực môi trường
- Năng lực xã hội, thể chế trong việc đáp ứng các thách thức môi trường
- Quản lý trái đất
3.2. Cơ sở thực tiễn
3.2.1. Các văn bản pháp luật
Nơi nào có vùng ven đầm phá và biển lớn thì nơi đó có ngành NTTS được phát triển
mạnh. NTTS là ngành gắn liền với thiên nhiên, do vậy không tránh khỏi những nguy cơ
những tác động tiêu cực do nó gây ra về mặt môi trường: ô nhiễm môi trường, giảm sự đa
dạng sinh học, …
Quảng Điền là vùng nuôi trồng thuỷ sản trọng điểm nói chung và nuôi tôm nói riêng của
tỉnh Thừa Thiên Huế, vì lẽ đó hoạt động nuôi tôm tại huyện cũng nằm trong những diễn
biến, tình hình của toàn tỉnh. Trước những khó khăn đó, với sự nỗ lực của các cấp, các
ngành, huyện Quảng Điền trong những năm qua vẫn đạt được những thành tích đáng kể, góp
phần thúc đẩy ngành thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, cùng với ngành
thuỷ sản của tỉnh phát triển nhanh trong xu thế hội nhập.
Hiện nay, xã Quảng Công có 3 loại hình nuôi tôm: nuôi cao sản, nuôi ao đất hạ triều,
nuôi ao nổi cao triều. Dựa vào những ưu nhược điểm của mỗi loại hình mà có các phương
thức phù hợp với chúng. Nuôi ao hạ triều phù hợp với hình thức nuôi QCCT, nuôi ao cao
đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế.
Bảng 3.2: Tình hình nuôi tôm sú tỉnh Thừa Thiên Huế qua 3 năm 2007-2009
Chỉ tiêu ĐVT Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
So sánh
2008/2007
So sánh
2009/2008
+/- % +/- %
Diện tích Ha 3464 3024 3632,1 -440 87,3 608,1 120,1
Sản lượng Tấn 3363 3861 2950,5 498 114,8 -910,5 76,4
Năng suất Tấn/ha 0,97 1,28 0,81 0,31 1,32 -0,47 63,3
( Nguồn:Theo số liệu thống kê sở thủy sản Thừa Thiên Huế, 2009)
12
Về diện tích nuôi: Diện tích nuôi tôm trong năm 2009 đã có giảm sút đáng kể, từ 3.464
ha năm 2007 giảm xuống 3.024 ha năm 2008. Nguyên nhân của vấn đề này là: năm 2007 do
thời tiết thay đổi phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con tôm; bên cạnh
đó dịch bệnh tại các địa phương trên địa bàn tỉnh diễn ra phổ biến, tạo tâm lý hoang mang
trong người nuôi tôm. Từ đó, khiến cho diện tích nuôi năm 2008 giảm đáng kể so với năm
2007. Tuy nhiên, năm 2009 diện tích nuôi lại tăng lên khá nhanh, lên tới 3.632,1 ha, tăng
120,1% so với năm 2008.[9]
Về năng suất và sản lượng tôm nuôi: Mặc dù, năm 2008 diện tích nuôi tôm giảm sút
đáng kể, nhưng tình hình nuôi trồng diễn ra thuận lợi; thời tiết ổn định, thích hợp với con
tôm; dịch bệnh không xuất hiện tạo điều kiện thuận lợi trong việc nuôi trồng, chăm sóc và
thu hoạch tôm. Sản lượng tôm nuôi năm 2008 đạt 3.861 tấn, tăng 114,8% so với năm 2007.
Tuy nhiên, sự thay đổi thất thường của thời tiết khí hậu, sự dao động mạnh của độ mặn; bên
2008
Năm
2009
+/- % +/- %
Diện tích Ha 589,2 606,6 600,0 17,4 102,9 -6,6 99,99
Sản lượng Tấn 450,0 413,0 398,8 -37 99,91 -14,2 99,97
Năng suất Tấn/ha 0,76 0,68 0,66 -0,08 99,89 -0,02 99,98
( Nguồn: Theo thồng kê của phòng nông nghiệp huyện Quảng Điên, 2007, 2008, 2009)
3.2.2.3. Đối với xã Quảng Công [10], [11], [12]
Với lợi thế là xã có diện tích tương đối rộng, lại có diện tích mặt nước đầm phá nên
Quảng Công rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản xã đã xác định đây là
ngành kinh tế mũi nhọn, góp phàn vào sự tăng trưởng kinh tế của xã cũng như tăng thu nhập
và giải quyết việc làm cho nhiều hộ ngư dân.
Xã tồn tại hai loại hình nuôi chính là nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Tuy nhiên tôm sú
thường được nuôi ở nước lợ, chỉ có diện tích nuôi chắn sáo được ngư dân tận dụng để xen
canh, nuôi ghép nhiều loại như tôm cua, cá để tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tình hình nuôi tôm ở xã Quảng Công được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.4: Diện tích, sản lượng nuôi của xã Quảng Công năm 2009
Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch Thực hiện TH/KH (%)
1. Diện tích Ha 141,7 137,1 97,0
- Nước lợ Ha 133,0 126,0 95,0
- Nước ngọt Ha 8,7 11,1 128,0
2. Sản lượng Tấn 160,0 176,0 110,0
- Tôm sú Tấn 95,0 101,0 106,0
- Tôm ráo Tấn 2,5 2,5 100,0
- Cua, cá nước lợ Tấn 50,0 55,5 111,0
(Nguồn: báo cáo nuôi trồng thủy sản xã Quảng Công, 2009)
Tôm sú là đối tượng chính mà người dân lựa chọn. Năm 2009 ngư dân đã đưa vào nuôi
với diện tích là 126ha, đạt 94,7% so với kế hoạch
Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản của xã so với kế hoạch để ra tuy không đúng kế
có diện tích không lớn và phân bố dọc sông, loại đất này rất có ý nghĩa cho sản xuất nông
nghiệp và thực tế đã được người dân khai thác một cách triệt để vào sản xuất hoa màu,
lương thực cũng như các cây công nghiệp ngắn ngày hàng năm bởi những đặc điểm khá ưu
việt: tỷ lệ đạm, mùn trung bình đến khá, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, dễ thoát
nước, địa hình bằng, tập trung.
- Đất biến đổi do trồng lúa (LP): Diện tích 561,5 ha chiếm 48,5% diện tích đất tự nhiên
(đất thịt nặng). Đây là đất được hình thành do sản phẩm phong hoá đá mẹ khác nhau, được
nhân dân địa phương cải tạo lâu đời nên hình thành các chân ruộng để sản xuất nông nghiệp.
Loại đất này được phân bố hầu hết ở các vùng trong xã.
- Đất khác: Bao gồm mặt nước đầm phá, kênh mương, sông hồ và đất chuyên dùng...
Tổng diện tích 241,6 ha chiếm 21,1 %.
16
4.1.2.3. Khí hậu thời tiết [13]
a. Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 25
o
C. Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 5,6,7,8. Nhiệt
độ cao nhất cao năm: 40,1
o
C . Nhiệt độ thấp nhất vào các tháng 12 và tháng 1, tháng 2 năm
sau. Nhiệt độ thấp nhất: 10,2
o
C.
b. Lương mưa
Do vị trí ở vùng đồng bằng ven biển nên xã Quảng Công có lượng mưa thấp, số ngày
mưa ngắn hơn so với vùng núi của tỉnh, lượng mưa trung bình năm khoảng 2550mm.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 2 năm sau. Đỉnh mưa dịch chuyển
trong bốn tháng từ tháng 9 đến tháng 12, riêng tháng 11có lượng mưa nhiều nhất chiếm tới
30% lượng mưa cả năm.
c. Độ ẩm