đề tài bước đầu nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm ở huế - Pdf 15

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Tài nguyên Đất & Môi trường Nông nghiệp
o0o
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
ĐỀ TÀI:
“Bước đầu nghiên cứu xây dựng Bộ chỉ thị đánh
giá các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công,
huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Phương Anh
Nhóm sinh viên thực hiện:
1. Nguyễn Thị Thanh Hải (Nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Hải Hà
3. Lê Thị Hiệp
4. Ngô Đức Phong
5. Nguyễn Thị Ngọc Tú
1
Mục Lục
Mục Lục 2
PHẦN I: MỞ ĐẦU 4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 4
Việt Nam là nước có tiềm năng về thủy sản. Với điều kiện thiên nhiên thuận lợi, nước ta có
chiều dài đường bờ biển khá lớn 3200 km, cùng với các yếu tố nhiệt độ, môi trường, nguồn
thức ăn là điều kiện lý tưởng để đầu tư phát triển kinh tế thủy sản. Đặc biệt, tỉnh Thừa
Thiên Huế là tỉnh có đường bờ biển dài 126 km và hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai lớn
nhất Đông Nam Á với diện tích là 21.594 ha, là nơi có điều kiện khá lý tưởng cho sự sinh
trưởng các loài thủy sản có giá trị cao, đặc biệt là tôm 4
Các mô hình nuôi trồng thuỷ sản nói chung, nuôi tôm nói riêng đã phát triển rất nhanh
cùng với quá trình phát triển của ngành. Phương thức nuôi trồng đã chuyển từ nuôi tự
nhiên, quảng canh, nuôi phân tán với mật độ thấp sang nuôi bán thâm canh, thâm canh,
nuôi công nghiệp với mật độ cao, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn phục vụ cho tiêu

3.2.1. Các văn bản pháp luật 13
3.2.2. Tình hình phát triển nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế 14
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
4.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội [6], [13] 18
2
4.1.1. Vị trí địa lý [13] 18
4.1.2. Điều kiện tự nhiên [6], [13] 18
4.1.3. Điều kiện kinh tế xã hội [13] 20
4.2. Mô hình được lựa chọn để xây dựng bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm 22
4.3. Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công, huyện Quảng
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 25
4.3.1. Xác định các nhóm chỉ thị và các chỉ thị thứ cấp của từng nhóm chỉ thị [1] 25
4.3.2 Xây dựng các thang điểm đánh giá 28
4.3.3. Xác định điểm và trọng số cho từng chỉ thị trong mỗi nhóm chỉ thị 30
4.3.4. Xác định các cấp độ bền vững của các hình thức nuôi dựa vào chỉ số SCI 35
4.4. Đánh giá các hình thức nuôi tôm dựa theo các chỉ thị 35
4.4.1. Điều tra thu thập thông tin số liệu theo phiếu điều tra (Bước 1) 36
4.4.2. Cho điểm từng loại chỉ thị (Bước 2) 36
4.4.3. Tính điểm mỗi nhóm chỉ thị, tính SCI (Bước 3) 36
4.4.4. Đánh giá các hình thức nuôi (Bước 4) 36
4.5. Đánh giá các hình thức nuôi 36
4.5.1. Kết quả thu được 36
4.5.2. Đánh giá tính bền vững và xu thế môi trường đối với các hình thức nuôi 37
4.5.3 Đề xuất biện pháp bảo vệ và quản lý việc phát triển nghề nuôi tôm ở xã Quảng Công
42
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Kết luận 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
3

cứu đánh giá tính bền vững các hình thức NTTS nói chung và nuôi tôm nói riêng phù hợp
với đặc tính sinh thái của từng địa phương.
Đối với ngành Thủy sản, việc xây dựng Bộ chỉ thị đã được FAO thực hiện từ lâu với
mục đích là hướng đến các vùng nuôi bền vững. Nhưng việc xây dựng Bộ chỉ thị để đánh
giá các hình thức nuôi ở từng địa phương vẫn chưa nhận được sự quan tâm cần thiết.
Dựa vào tính cấp thiết đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên cứu xây
dựng Bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công, huyện Quảng
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
4
1.2 Mục tiêu.
1.2.1 Mục tiêu chung
Nhằm nâng cao nhận thức cho ngư dân và cộng đồng trong việc sử dụng các hình thức
nuôi tôm hợp lý nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ tốt hơn về vấn đề môi
trường trong hiện tại cũng như trong tương lai.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Bước đầu xây dựng bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm.
- Đánh giá các ảnh hưởng của các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công đến môi
trường.
- Lựa chọn mô hình và hình thức nuôi tôm phù hợp.
- Đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và quản lý để phát triển nghề nuôi tôm ở xã
Quảng Công.
5
PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN,
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công, huyện
Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế với các hình thức nuôi: Thâm canh, bán thâm canh,
quảng canh cải tiến.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3.4. Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã trao đổi thông tin, hỏi ý kiến các cán bộ
có trình độ chuyên môn về nuôi tôm, môi trường, cán bộ và người dân nuôi tôm ở xã
Quảng Công, Phòng Nông nghiệp huyện Quảng Điền. Nhằm để xác định các nhóm chỉ thị,
các tham số nào cần được xây dựng và xem xét tầm quan trọng của từng chỉ thị để cho
điểm chính xác hơn.
2.3.5. Phương pháp so sánh
Các chỉ thị sau khi được xây dựng xong, điều tra, cho điểm, tính điểm cần phải so sánh
giữa kết quả lý thuyết với thực tế nhằm điều chỉnh lại các tham số, quy trình xây dựng. Sau
đó, đánh giá hình thức nào là bền vững và ở địa phương nào nên áp dụng hình thức phù
hợp để cho kết quả tốt.
7
PHẦN III: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lý luận
3.1.1. Theo tổ chức FAO
Theo tổ chức FAO (Tổ chức Nông Lương Thế Giới), sự PTBV trong NTTS: “là sự
quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và sự định hướng về những thay đổi công nghệ
và thể chế theo hướng đảm bảo sự đáp ứng các nhu cầu cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.
Sự phát triển như vậy đòi hỏi phải bảo vệ đất, nước, các nguồn gen động vật và thực vật,
không làm suy thoái môi trường, phải phù hợp về mặt kỹ thuật, vững chắc về mặt kinh tế
và được chấp nhận về mặt xã hội ”.
Để thực hiện những vấn đề trên, FAO đã đưa ra mục tiêu PTBV trong NTTS:
Mục tiêu 1: Sử dụng đất và nước thích hợp trong NTTS bền vững.
Mục tiêu 2: Bảo tồn các chức năng của các hệ sinh thái quan trọng và những môi
trường nước nhạy cảm.
Mục tiêu 3: Quản lý tốt các nguồn tài nguyên đất và cải tạo đất nhằm giảm thiểu các
tác động có hại lên môi trường xung quanh.
Mục tiêu 4: Giảm thiểu các tác động có hại lên các nguồn tài nguyên nước địa phương.
Mục tiêu 5: Tránh việc để các loài nuôi ngoại lai và chuyển ghép gen xâm nhập vào
môi trường xung quanh.

* Nhóm chỉ thị về quy mô trang trại (QMTT) hoặc hộ nuôi
Để xem xét đầy đủ các vấn đề liên quan đến QMTT hoặc QMHN là rất khó khăn bởi
việc thu thập số liệu, các thông tin liên quan đến tài chính là khó thực hiện. Do vậy, Hội
nghị đã thống nhất đưa ra những thông tin để mang lại hiệu quả nuôi cho trang trại hoặc hộ
nuôi như: thời gian hoạt động, cơ sở hạ tầng,…
* Nhóm chỉ thị về môi trường
Đây là vấn đề nan giải bởi vì những tác động lên môi trường thường mang tính tiềm
tàng. Khi xây dựng chỉ thị, ta nên hạn chế số lượng các chỉ thị và tập trung vào những chỉ
thị cho thấy sự bền vững của quốc gia hoặc khu vực sinh thái. Tại Hội nghị đã xem xét và
đưa ra các chỉ thị về PTBV trong NTTS liên quan đến MT-ST là: diện tích ao nuôi, sử
dụng nguồn nước và chất lượng nước, sử dụng hóa chất, giống và thức ăn, dịch bệnh và xử
lý dịch bệnh,…
* Nhóm chỉ thị về kinh tế xã hội
Nhóm chuyên gia kỹ thuật của FAO đưa ra chú ý khi xác định các tham số đặc trưng về
nhóm chỉ thị KT-XH là phải đánh giá khả năng tồn tại về mặt kinh tế cũng như sự chấp
nhận của xã hội đối với việc NTTS ở hiện tại và tương lai.
Tóm lại, các nhóm chỉ thị trên chỉ nghiên cứu ở cấp độ quốc gia. Mỗi nhóm có thể phù
hợp ở một phạm vi nhất định. Các chuyên gia kỹ thuật của FAO khuyến khích nên phát
triển các chỉ thị ở cấp độ càng nhỏ thì sẽ dễ đánh giá hơn.
3.1.2. Các hình thức nuôi tôm hiện nay [8]
3.1.2.1. Nuôi quảng canh (Extensive culture)
Là hình thức nuôi phụ thuộc vào tự nhiên là chính, thông qua việc lấy nước qua cửa
cống và nhốt giữ trong một thời gian nhất định, ít đầu tư chăm sóc. Mật độ thả giống rất
thấp, từ 1-3 con/m
2
. Năng suất bình quân đạt 180 kg/ha/vụ. Ở vùng đầm phá TTH, nuôi
tôm cá CS được xem là nuôi QC. Hình thức này vốn đầu tư phù hợp với dân nghèo nhưng
mức độ rủi ro lớn do bị ảnh hưởng trực tiếp của mưa lụt, nhất là lụt tiểu mãn.
3.1.2.2. Nuôi quảng canh cải tiến (Improve extensive)
Là hình thức nuôi cao hơn của QC. Ở hình thức QCCT, tuy phụ thuộc nhiều vào tự

1 - 2 0,5 - 1,5 0,5 - 1,0
Mực nước tối thiểu
(m)
Phụ thuộc
thủy triều
1,0 - 1,2 0,12 - 1,4 1,5 - 2,0
Mật độ thả giống
(con/m
2
)
1 - 3 4 - 9 10 - 15 6 - 30
Quạt nước sụt khí Không Không Có Có
Thức ăn
Tự nhiên Có bổ sung
Thức ăn công
nghiệp, một phần
thức ăn tự nhiên
Thức ăn
công nghiệp
Cung cấp nước Lấy nước
triều qua cống
Lấy nước
triều qua cống
Theo yêu cầu kỹ
thuật
Theo yêu
cầu kỹ thuật
NS (tấn/ha/vụ) 0,05 - 0,3 0,31 - 0,9 1,00 - 2,00 2,00 - 5,00
( Nguồn: Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế, 12/2008)
3.1.3. Khái niệm về chỉ thị và việc sử dụng chỉ thị hiện nay [3]

đó mà thay đổi nhận thức của con người và sự tham gia nhiệt tình trong việc BVMT tốt
hơn. Đó là các chỉ thị liên quan đến sức khỏe người dân, việc gây suy thoái môi trường làm
cho họ mất đi kế sinh nhai,…
3.1.3.2. Các tiêu chí dùng để chọn lựa các chỉ thị [3]
Để nhằm mang lại hiệu quả cho việc chọn lựa các chỉ thị, Anderson (1991) và Lê Thạc
Cán (2005) đã đưa ra các tiêu chí như sau:
1.Tính phù hợp với chính sách: được kiểm nghiệm qua việc xem xét tham khảo các văn
bản chính sách, các kế hoạch, luật định
2. Khả năng giám sát tiến độ so với mục tiêu đề ra: được kiểm nghiệm thông qua các
thông tin trong các văn bản chính sách.
3. Mức độ bao phủ về mặt không gian và thời gian: nhất quán về không gian và xem
xét đến địa phương phù hợp đối với một vấn đề môi trường nhất định. Chỉ thị bao phủ một
khoảng thời gian đủ để có thể cho thấy xu hướng theo thời gian.
4. Mức độ phù hợp với cấp sử dụng chỉ thị (quốc gia/tỉnh) và mang tính đại diện cho
các địa phương nhằm hỗ trợ việc so sánh.
5. Phù hợp với việc so sánh: ví dụ như so sánh giữa các huyện trong một tỉnh. Khi so
sánh nếu một huyện vượt trội huyện khác về điểm số thì chứng tỏ có thể học được một số
điều từ huyện này.
11
6. Đơn giản và dễ hiểu nhờ: định nghĩa về các chỉ thị phải rõ ràng và thống nhất và
trình bày chỉ thị một cách hợp lý. Không nên có những nội dung mâu thuẫn giữa các chỉ thị
với nhau.
7. Phải có cơ sở về mặt khái niệm cũng như phương pháp luận: điều này phải được thể
hiện trong các mô tả về phương pháp luận và công thức sử dụng, các tham khảo khoa học
cho phương pháp luận và công thức đó. Tất cả những mô tả này cần được đưa vào phần tài
liệu hoá của chỉ thị.
8. Được tài liệu hoá đầy đủ và quản lý được chất lượng: điều này được đánh giá bằng
cách thực hiện kiểm tra công tác tài liệu hoá đối với chỉ thị và mức độ đều đặn các tài liệu
này được cập nhật. Hệ thống quản lý chỉ thị sẽ hỗ trợ các công việc này, hệ thống này sẽ
đem lại tính minh bạch và là cơ sở để có thể quản lý tốt hơn quy trình xây dựng và công bố

Chỉ số thương tổn môi trường (Environmental Vulnerability Index, EVI)
Chỉ số EVI đã được Uỷ ban Khoa học Địa lý ứng dụng Nam Thái Bình Dương
(SOPAC) và Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc(UNDP) triển khai. Chỉ số này được xây
12
dựng dựa trên các chỉ số thương tổn về xã hội, kinh tế để hiểu được các quá trình có thể tác
động tiêu cực tới sự PTBV của các quốc gia như thế nào.
Chỉ số EVI gồm 57 chỉ thị thuộc 3 nhóm chỉ số thứ cấp: chỉ số về tai biến, chỉ số về
phục hồi sau các tai biến từ tự nhiên hay nhân tạo, chỉ số về sự suy thoái hay tính nguyên
vẹn của môi trường.
Chỉ có 6 trong số 57 chỉ thị này có trọng số là 5, các chỉ thị còn lại có trọng số như
nhau là 1. Thang điểm của chỉ số EVI dao động từ 1 đến 7. Điểm càng cao thì tính dễ bị
thương tổn càng lớn.
Chỉ số phát triển bền vững (Sustainable Development Index, SDI): Trong Chương trình
nghị sự 21 của Hội nghị thượng đỉnh Rio năm 1992 về Môi trường và Phát triển khuyến
khích việc sử dụng các chỉ thị PTBV để mô tả hiện trạng kinh tế, môi trường và xã hội
nhằm đo lường mức độ phát triển toàn diện của một quốc gia.
Chỉ số SDI được xây dựng bao gồm 134 chỉ thị đã được chọn lọc và 22 quốc gia tình
nguyện áp dụng thử nghiệm Bộ chỉ thị này. Vào năm 2001, Bộ chỉ thị này đã được chuẩn
hoá như là một công cụ đo lường các sự tiến bộ trong PTBV nhằm hỗ trợ cho những người
ra quyết định, những nhà hoạch định chính sách phát triển KT-XH của một quốc gia được
bền vững lâu dài.
Chỉ số bền vững môi trường (Environmental Sustainability Index, ESI): chỉ ra những
việc làm, những khả năng của một quốc gia trong việc BVMT cho tương lai. Chỉ số này
được xây dựng bởi 21 chỉ thị bền vững môi trường với 76 tham số, tập trung vào 5 khía
cạnh sau:
- Hệ thống môi trường
- Giảm thiểu tác động môi trường
- Giảm thiểu tính thương tổn của con người đối với các áp lực môi trường
- Năng lực xã hội, thể chế trong việc đáp ứng các thách thức môi trường
- Quản lý trái đất

Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất
- Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành
Danh mục chất thải nguy hại
- Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành
Quy định về điều kiện và hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi
trường
- Nghị định 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải
rắn
- Nghị định 120/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý lưu vực sông
3.2.2. Tình hình phát triển nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế
3.2.2.1. Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế [9]
Thừa Thiên Huế là tỉnh có bờ biển dài 128 km và hệ đầm phá Tam Giang, Cầu Hai có
diện tích 21.594 ha, có rất nhiều bãi ngang hội đủ các điều kiện về thời tiết khí hậu, đất đai,
thổ nhưỡng… phù hợp với NTTS, là nơi có tiềm năng để phát triển nghề nuôi tôm. Nhờ
những thuận lợi sẵn có của hệ sinh thái đầm phá, nghề NTTS nước lợ chủ yếu là nuôi tôm
sú đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế.
Bảng 3.2: Tình hình nuôi tôm sú tỉnh Thừa Thiên Huế qua 3 năm 2007-2009
Chỉ tiêu ĐVT Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
So sánh
2008/2007
So sánh
2009/2008
+/- % +/- %
Diện tích Ha 3464 3024 3632,1 -440 87,3 608,1 120,1
Sản lượng Tấn 3363 3861 2950,5 498 114,8 -910,5 76,4

ngành, huyện Quảng Điền trong những năm qua vẫn đạt được những thành tích đáng kể,
góp phần thúc đẩy ngành thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, cùng với
ngành thuỷ sản của tỉnh phát triển nhanh trong xu thế hội nhập.
Vùng đầm phá Quảng Điền là một trong những vùng phát triển nghề thuỷ sản của Thừa
Thiên Huế. Tuy nhiên, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản mà chủ yếu là nuôi tôm sú chỉ thật sự
phát triển hơn 12 năm trở lại đây ( 1998 - 2010) cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đến nay
hầu hết các xã vùng đầm phá của huyện đã phát triển nghề nuôi tôm sú với nhiều hình thức
nuôi như chắn sáo mồng, nuôi ao trung triều, hạ triều, cao triều. Nuôi trồng thuỷ sản thật
sự trở thành nghề mới của vùng đầm phá Quảng Điền, có sức thu hút nhiều người tham
gia. Tình hình nuôi tôm trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng.
15
Bảng 3.3: Tình hình nuôi tôm sú của huyện Quảng Điền qua 3 năm 2007 – 2009
Chỉ tiêu ĐVT Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
So sánh
2008/2007
So sánh
2009/2008
+/- % +/- %
Diện tích Ha 589,2 606,6 600,0 17,4 102,9 -6,6 99,99
Sản lượng Tấn 450,0 413,0 398,8 -37 99,91 -14,2 99,97
Năng suất Tấn/ha 0,76 0,68 0,66 -0,08 99,89 -0,02 99,98
( Nguồn: Theo thồng kê của phòng nông nghiệp huyện Quảng Điên, 2007, 2008, 2009)
3.2.2.3. Đối với xã Quảng Công [10], [11], [12]
Với lợi thế là xã có diện tích tương đối rộng, lại có diện tích mặt nước đầm phá nên
Quảng Công rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản xã đã xác định đây là

km, cách thành phố Huế 12 km và có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Quảng Ngạn
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp Phá Tam Giang.
- Phía Nam giáp xã Hải Dương, huyện Hương Trà.
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 1261,43 ha.
4.1.2. Điều kiện tự nhiên [6], [13]
4.1.2.1. Địa hình
Xã có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp từ Tây sang Đông, phía Đông giáp với Biển
Đông Hải, vùng đầm phá làm cho một phần diện tích bị nhiễm mặn và đây cũng là điều
kiện để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
4.1.2.2. Thổ nhưỡng [13]
Xã Quảng Công có tổng số 1261,43 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó có các loại đất
chính như sau:
- Đất cát (haplic arenosols): Diện tích 313,5 ha chiếm 27,33% diện tích đất tự nhiên.
Loại đất này được phân bố chủ yếu ở địa phận tiếp giáp phá Tam Giang, loại đất này ít có
ý nghĩa đối với sản xuất nông nghiệp.
- Đất phù sa (fluvisol): Diện tích 30,4 ha chiếm 2,65% diện tích đất tự nhiên. Đất phù
sa có diện tích không lớn và phân bố dọc sông, loại đất này rất có ý nghĩa cho sản xuất
nông nghiệp và thực tế đã được người dân khai thác một cách triệt để vào sản xuất hoa
màu, lương thực cũng như các cây công nghiệp ngắn ngày hàng năm bởi những đặc điểm
khá ưu việt: tỷ lệ đạm, mùn trung bình đến khá, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình,
dễ thoát nước, địa hình bằng, tập trung.
- Đất biến đổi do trồng lúa (LP): Diện tích 561,5 ha chiếm 48,5% diện tích đất tự nhiên
(đất thịt nặng). Đây là đất được hình thành do sản phẩm phong hoá đá mẹ khác nhau, được
nhân dân địa phương cải tạo lâu đời nên hình thành các chân ruộng để sản xuất nông
nghiệp. Loại đất này được phân bố hầu hết ở các vùng trong xã.
- Đất khác: Bao gồm mặt nước đầm phá, kênh mương, sông hồ và đất chuyên dùng
Tổng diện tích 241,6 ha chiếm 21,1 %.
18

- Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10. Trong các trường hợp chịu ảnh hưởng
của bão, lốc và gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió có thể đạt trên 15m/s trong gió mùa Đông
Bắc và 30m/s trong khi lốc bão.
- Số giờ nắng trung bình hàng năm: 2075 giờ/năm và số ngày nắng trung bình năm là
196 ngày.
4.1.2.4. Môi trường nước [6]
a. Nước mặt
Quảng Công có hệ thống nước mặt không nhiều, đáng chú ý là sông Bồ, đây là nguồn
nước mặt chủ yếu phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong xã. Sông này có chiều
dài 12 km, đoạn chảy qua xã Quảng Công dài 6 km. Lưu vực của sông này có nhiều hói
nước dẫn vào khu vực sản xuất
b. Nước ngầm
Theo quan sát thực tế từ các giếng đào cho thấy, nguồn nước ngầm ở Quảng Công
tương đối lớn, độ sâu 4 - 6m có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và cung cấp cho một số cơ
sở công nghiệp nhỏ.
19
Về chất lượng nước cũng đáng quan tâm, đây là vùng ven biển phần lớn bị nhiễm phèn,
mặn hoặc nhiễm bẩn do hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân.
4.1.2.5. Tài nguyên sinh học [4]
Quảng Công có trên 7 km bờ ven đầm phá Tam Giang và rộng trên 165 ha, đánh giá tài
nguyên đầm phá của xã được xem xét trên hai khía cạnh:
- Tài nguyên thuỷ sản: Được đánh giá là xã có tài nguyên thuỷ sản đa dạng và sản
lượng đánh bắt theo số liệu thực tế đến năm 2005 thì tổng sản lượng đánh bắt trên 28
tấn/năm đạt 0,34% so với toàn huyện.
Tài nguyên sinh vật thuỷ sinh đầm phá: Vùng đầm phá của xã có hệ sinh vật thuỷ sinh
phong phú, là nguồn thức ăn đa dạng, tốt cho NTTS.
4.1.2.6. Đánh giá về vị trí và điều kiện tự nhiên
* Thuận lợi:
- Có lợi thế về vị trí và điều kiện tự nhiên: Nằm cách trung tâm huyện và thành phố
Huế không xa thuận lợi cho xã trong việc trao đổi và tiêu thụ các hàng hóa nông sản, thủy

xã, là sự nỗ lực đi lên từ giá trị nông nghiệp sản xuất thấp kém không đủ trang trải cho
cuộc sống, để cải thiện đời sống khó khăn cho bà con vươn lên khá giàu, góp phần làm
giàu cho bộ mặt của toàn xã.
4.1.3.2. Đặc điểm kinh tế
a. Về sản xuất nông nghiệp
* Về trồng trọt:
Xã Quảng Công là xã chuyên canh sản xuất nông nghiệp, kinh tế chủ yếu phụ thuộc
vào sản xuất NN đặc biệt là chuyên canh sản xuất lúa.
- Tổng diện tích gieo trồng cả năm 2009 là 925 ha. Trong đó:
+ Diện tích canh tác lúa cả năm là 829,4 ha.
+ Diện tích trồng màu là 95,6 ha (gồm: ngô, khoai lang, sắn, đậu, rau).
- Năng suất lúa bình quân đạt 56,7 tạ/hạ/năm.
- Tổng sản lượng lương thực cả năm 2009 đạt 4700 tấn/năm đạt 100,14% so với cùng
kỳ năm trước:
- Bình quân lương thực đầu người 492,7 kg/năm 2009 đạt 92,6% so với cùng kỳ năm
trước.
Nguyên nhân là do sâu bệnh, đặc biệt chuột phá hoại trên diện rộng, thời tiết vụ Đông
Xuân không thuận lợi.
* Về chăn nuôi:
Tổng đàn lợn trong năm 2009 có 4860 con tăng 1260 con so với cùng kỳ năm trước
đàn trâu có 288 con tăng 38 con so với cùng kỳ năm trước, đàn bò có 70 con tăng 29 con
so với cùng kỳ năm trước, đàn gia cầm có 31.590 con. Tuy nhiên, chăn nuôi gia súc, gia
cầm chưa phát triển thành hàng hoá, chủ yếu để cung cấp thực phẩm tại chỗ và tận dụng
phân bón cho trồng trọt nên quy mô cũng như chất lượng đàn gia súc còn thấp.
* Về thuỷ sản:
Tổng diện tích nuôi thả năm 2009 là 139 ha. Trong đó, nuôi nước lợ là 128 ha, nuôi
nước ngọt là 11 ha.
Tổng sản lượng nuôi trồng năm 2009 là 161 tấn. Trong đó: tôm 70 tấn, cua 16 tấn, cá
các loại 75 tấn. Ước thu gần 7 tỷ đồng. Vì thế, nhu cầu vốn cho NTTS là rất lớn.
b. Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề khác

- Tiến sang phân tích trạng thái được mô tả với áp lực đã gây nên trạng thái đó,
Pressure, gọi tắt là PS.
- Tiến thêm một bước xem xét các đáp ứng của con người để gây ảnh hưởng tới tình
trạng S, đó là các đáp ứng Respone, gọi tắt là PSR.
- Bổ sung xem xét các tác động của vấn đề tồn tại, Impacts, gọi là PSIR.
- Xem xét các đáp ứng R của con người trước tình trạng môi trường đã mô tả, dẫn tới
mô hình DPSIR.
Trong đó, D - Driving forces, có thể gọi là lực thúc đẩy nguyên nhân của áp lực, P –
Pressures là áp lực, S - State of Environment là trạng thái của môi trường, I –Impacts là tác
động, R – Response là đáp ứng.
Quá trình này có thể biểu thị một cách đơn giản như ở hình 3 sau đây:
S
P - S
P - S - R
P - S- I - R
D -P - S - I - R
Hình 4.1: Quá trình phát triển của mô hình DPSIR
22
Động lực
Áp lực
Áp lực
Tác động
Tình trạng
Đáp ứng
Mô hình được chọn được tạo ra bởi các nhân tố: động lực, áp lực, thực trạng môi
trường, tác động, đáp ứng; và giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Thông qua mô
hình, ta có cái nhìn tổng quan về mọi vấn đề liên quan đến NTTS, và biết được nguyên
nhân-hậu quả của những tác động. Các nhân tố đó và mối quan hệ giữa chúng thể hiện ở
Hình 4.2
Hình 4.2:. Mô hình lựa chọn xây dựng chỉ thị trong NTTS

nhiên
Con người
Nền kinh tế
Đáp ứng
 Các hành động giảm thiểu
 Các chính sách môi trường nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia về môi trường
 Các chính sách ngành thuỷ sản
 Nhận thức về môi trường
 Các biện pháp giảm nghèo cụ thể
Hình 4.3 : Mô hình DPSIR
Thực trạng
Thực trạng vật lý:
Lượng nước và dòng chảy
Lưu chuyển, lắng đọng trầm tích,
Thực trạng hoá học:
Chất ô nhiễm trong nước, đất
Chất hữu cơ, dưỡng chất trong
nước
Thực trạng sinh học:
Mất cân bằng sinh thái, tuyệt chủng
một số loài, thực trạng động thực
vật
24
4.3. Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công, huyện
Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
4.3.1. Xác định các nhóm chỉ thị và các chỉ thị thứ cấp của từng nhóm chỉ thị [1]
Trên CSKH và CSTT, việc xây dựng Bộ chỉ thị PTBV trong NTTS của FAO, dựa vào
mô hình DPSIR, chúng tôi đưa ra 4 nhóm chỉ thị:
4.3.1.1. Nhóm chỉ thị luật pháp thể chế (I.1)
Nhóm chỉ thị này bao gồm 5 chỉ thị thứ cấp được chọn, mô tả những vấn đề về LP-

sự xâm nhập các loài ngoại lai; nguồn thức ăn
đảm bảo chất lượng
5 Quy định về xử lý môi
trường, giống, dịch bệnh
Giảm rủi ro đến môi trường, nâng cao năng
suất
4.3.1.2. Nhóm chỉ thị quy mô hộ nuôi (I.2)
Nhóm chỉ thị này bao gồm 9 chỉ thị mô tả các tính chất, đặc điểm, quy trình của hộ
nuôi tôm. Các chỉ thị cho ta biết được hộ nuôi sẽ nuôi theo hình thức gì, các yêu cầu về
25

Trích đoạn Đánh giá các hình thức nuôi xuất biện pháp bảo vệ và quản lý việc phát triển nghề nuôi tô mở xã Quảng Công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status