Giải pháp quản trị rủi ro cạnh tranh trong ngành cà phê. - Pdf 32

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO. Chúng ta đã gia nhập sân chơi
kinh tế lớn nhất thế giới. Điều này là kết quả nổ lực không ngừng của toàn dân tộc sau hơn 30
năm thống nhất đất nước. Đây chính là lúc để Việt Nam chính thức giới thiệu và khẳng định
tên tuổi trên bản đồ kinh tế thế giới. Tuy vậy, không có con đường đi đến vinh quang mà không
có chông gai. Chấp nhận tham gia sân chơi lớn ta phải chấp nhận đối đầu với những đối thủ
lớn, những thử thách lớn. Do đó, cơ hội và rủi ro sẽ luôn đồng hành chúng ta trên con đường
vinh quang này. Một doanh nghiệp biết nắm bắt cơ hội sẽ phát triển vượt bậc. Một doanh
nghiệp biết giải quyết rủi ro sẽ tồn tại vững chắc. Vậy nắm bắt cơ hội và quản lý rủi ro là
phương tiện để phát triển bền vững!
Hiện nay, ngành cà-phê nước ta đang đứng vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu (sau
Bra-xin). Đó không phải là do may mắn mà cũng là sự cố gắng của Đảng Nhà nước và doanh
nghiệp.kinh doanh cà-phê của Việt Nam. Tuy nhiên với việc gia nhập WTO đã không những
mở ra cơ hội mà nó còn đem lại những rủi ro khắc nghiệt hơn cho ngành cà phê Việt Nam, đặc
biệt là những rủi ro trong cạnh tranh. Chúng ta cần phải cố gắng thực để tìm ra những giải pháp
cho những rủi ro này
Mục tiêu nghiên cứu
Với mong muốn được nghiên cứu ứng dụng kiến thức. Chúng tôi đã chọn đề tài “Giải
pháp cho rủi ro cạnh tranh trong ngành cà phê”. Với mục tiêu xác định được những rủi ro
trong cạnh tranh mà ngành cà phê đang và sẽ gặp sau đó đưa ra những kiến nghị để quản trị
những rủi ro này.
Phương pháp nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ nghiên cứu xây dựng trên cơ sở dữ liệu thứ cấp.
Dựa vào những thông tin đáng tin cậy để đưa ra nhận xét và kết luận.
Phạm vi nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu chỉ tập trung vào phân tích những rủi ro bên trong đặc trưng của
ngành cà phê và những rủi ro trực tiếp trong môi trường vi mô.
Kết cấu đề tài
Đề tài gồm 5 phần :
Phần 1: Tổng quan về tình hình cà phê Việt Nam
Phần 2: Những rủi ro trong ngành cà phê Việt Nam

tạo hoặc tái canh bằng các giống cà phê mới, đồng thời thực hiện canh tác đúng quy trình thâm
canh, tăng năng suất và chất lượng cà phê xuất khẩu; tiến hành thu hoạch cà phê đúng độ chín.
Những ngành công nghiệp bổ trợ và liên quan:Sau 1975, khi đi vào phát triển sản xuất cà
phê, chúng ta mới có một ít xưởng chế biến cũ kỹ, chắp vá. Cùng với việc mở rộng diện tích
trồng cà phê, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng các xưởng chế biến mới. Những năm gần
đây, nhiều công ty, nông trưòng đã xây dựng các xưởng chế biến mới khá hoàn chỉnh với thiết
bị nhập từ CHLB Đức, Brazil. Một loạt hơn chục dây chuyền chế biến cà phê của hãng
Pinhalense-Brazil được đưa vào Việt Nam. Tiếp đó lại xuất hiện nhiều xưởng lắp ráp thiết bị do
cơ sở công nghiệp Việt Nam chế tạo mô phỏng có cải tiến công nghệ của Brazil.
Hiện nay, Trung Nguyên nói riêng và các nhà sản xuất chế biến cà phê Việt Nam nói chung
luôn hết sức chú trọng khâu nghiên cứu, chọn lọc công nghệ chế biến cà phê hiện đại từ các
quốc gia hàng đầu về công nghệ như Đức, Đan Mạch, Ý và kết hợp với các nhà tư vấn hàng
đầu quốc tế để chọn ra những công nghệ tối ưu nhất, giúp Việt Nam không chỉ dừng lại ở chế
biến cà phê thô để xuất khẩu mà còn các mặt hàng phong phú khác như: Cà phê sâm, cà phê
hòa tan, cà phê lon uống liền, cà phê hạt rang .v.v.
Ngoài ra, ngành công nghiệp bánh kẹo hay công nghiệp nước giải khát cũng tạo ra những
sản phẩm manh hương vị cà phê.
Tất cả những điều nêu trên đã giúp cho ngành công nghiệp chế biến cà phê trong nước ngày
càng phát triển hơn và hỗ trợ cho ngành nông nghiệp cà phê Việt Nam.
Các yếu tố khác:Theo số liệu của Hiệp hội cà phê Việt Nam, cà phê mang thương hiệu Việt
Nam hiện nay được tiêu dùng ở trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với sản lượng
xuất khẩu bình quân đạt 850.000 tấn/năm
Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng cà phê trên thế giới ngày một tăng cao, ngành cà phê Việt
Nam đang có lợi thế hướng đến việc chi phối thị trường cà phê thế giới trong những năm tới.
Đó chính là chúng ta có sản lượng cà phê robusta (cà phê vối) lớn nhất với giá thành sản xuất
thấp, tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại của các nước xuất khẩu khác.
Dự báo tiêu thụ cà phê thế giới sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới với tốc độ khoảng
2%/năm và đến năm 2015 thế giới cần tới 140 triệu bao. Đồng thời, việc gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) đã mang lại cho ngành cà phê Việt Nam một thị trường khổng lồ
với hơn 5 tỷ người tiêu thụ và kim ngạch nhập khẩu hàng năm trị giá đến hàng chục tỷ đôla.

trong vùng quy hoạch, chủ yếu là được trồng trên những nơi không thích hợp như tầng đất
nông, độ dốc lớn, nơi thiếu nguồn nước tưới v.v… và không ít trong số đó là đất rừng. Do vậy
dù diện tích trồng mới có tăng lên, nhưng do được trồng ở những vùng không thích hợp sẽ khó
có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao do năng suất thấp và chi phí sản xuất tăng cao. Số diện tích
trồng mới này không những không đủ bù đắp phần sản lượng thiếu hụt của những diện tích cà
phê già cỗi phải thanh lý mà còn đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của những diện tích cà phê
còn lại do môi trường bị hủy hoại, trong đó đặc biệt là nguồn nước tưới.
Cùng với việc mở rộng diện tích không theo quy hoạch, ngành cà phê Việt nam trong những
năm qua, đặc biệt là giai đoạn từ 1990 trở đây do có nhiều năm giá cà phê lên cao người trồng
cà phê đã loại bỏ cây che bóng, đồng thời tăng cường bón phân hóa học, lượng nước tưới v.v…
nhằm mục đích đạt được năng suất tối đa. Những biện pháp thâm canh cao độ này không
những đã làm cho cây cà phê nhanh chóng bị kiệt sức, sớm già cỗi mà còn làm cho môi trường
đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, làm phát sinh nhiều loại sâu, bệnh hại, trong đó đặc biệt là nấm
bệnh và tuyến trùng hại rễ. Thực tế trong những năm qua đã có hàng chục ngàn ha cà phê bị
bệnh không có khả năng phục hồi phải thanh lý và nhiều diện tích cà phê già cỗi sau khi thanh
lý cũng không có khả năng trồng lại được cà phê.
Thiếu hụt lao động, chi phí sản xuất ngày một tăng cao. Quá trình canh tác, chăm sóc và
thu hoạch cây cà phê đòi hỏi rất nhiều công lao động. Để thực hiện các khâu chăm sóc làm cỏ,
bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại v.v… và thu hoạch trong một năm, trung bình 1 ha
cà phê cần từ 300 – 400 công lao động, trong đó riêng công thu hái chiếm tới trên 50%. Trước
đây vào thời kỳ thu hoạch cà phê thường có hàng ngàn lao động từ các tỉnh ven biển miền
Trung và đồng bằng sông Cửu long đến vùng Tây nguyên để tham gia thu hái cà phê, nhưng bắt
đầu từ một hai năm trở lại đây số lao động ở các vùng này đến Tây nguyên vào mùa thu hoạch
cà phê đã giảm đi rõ rệt. Do mang tính chất thời vụ rất khắt khe, trong khoảng thời gian thu hái
rất ngắn chỉ khoảng 2 tháng đòi hỏi số công lao động rất lớn chiếm trên 50% số công trong năm
đã làm cho tình trạng thiếu hụt lao động càng trở nên trầm trọng, từ đó đẩy giá ngày công lên
cao. Trước sức ép về thiếu hụt lao động và chi phí ngày công tăng cao, để giảm chi phí công thu
hái người nông dân có xu hướng giảm số lần thu hái xuống còn một đến 2 lần dẫn đến chất
lượng cà phê bị giảm sút do thu hái quả xanh và thiếu hụt điều kiện phơi xấy.
Quá trình công nghiệp hóa không những không thu hút được lực lượng lao động đến từ

thể thực hiện được.
1.2. Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Theo như số liệu thống kê và biểu đồ trên ta thấy diện tích trồng cà phê của Việt Nam tăng
đều từ năm 1990 đến năm 2001. Khi đạt đến mức 535.000ha vào năm 2001 thì diện tích cà phê
gần như không tăng mà có xu hướng giảm nhẹ. Từ năm 2002 cho đến nay diện tích trồng cà
phê ở Việt Nam chỉ giao động ở quanh mức 500.000ha là do Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đã đưa ra Chỉ thị về phát triển cà phê. Theo đó, bộ quy định diện tích đất trồng cà
phê chỉ ở 500.000ha, hướng đến tăng năng suất trồng trên mỗi ha. Đặc biệt vào năm 2008, diện
tích đất trồng cà phê tăng lên tới 520.000ha là do giá cà phê tăng đột biến nên người dân đã đua
nhau phá rừng trồng cây cà phê.
Theo như số liệu thống kê, từ năm 1990 đến năm 1995, sản lượng xuất khẩu cà phê tăng
đều do diện tích trồng cà phê tăng. Đặc biệt, tình trạng thiếu hụt cà phê lớn trong những năm
1994-1995 đã làm cho giá cà phê tăng đột biến 2393,56 USD/tấn.
Từ năm 1996 đến 2002 sản lượng xuất khẩu vẫn tăng nhưng giá trị xuất khẩu tăng giảm
không ổn định. Giai đoạn 1999-2002, do cung vượt quá cầu nên giá cà phê xuất khẩu giảm
chưa từng thấy nên mặc dù sản lượng xuất khẩu cao hơn so với những năm trước nhưng giá trị
xuất khẩu sụt giảm.
Niên vụ 2002-2003, sản lượng cà phê xuất khẩu giảm do thời tiết khô hạn kéo dài tại các
tỉnh Tây Nguyên và một số nước xuất khẩu lớn vào năm 2002. Đến đầu năm 2003 nguồn cà
phê của các nước xuất khẩu bị hạn chế trong khi nhu cầu mua vào của các nhà đầu tư, các nhà
máy rang xay trên thế giới tăng đã thúc đẩy giá tăng nhanh hơn.
Những năm tiếp theo (2004 đến 2006) sản lượng xuất khẩu cà phê ở tăng so với năm trước,
sản lượng trung bình khoảng 838.000 tấn. Kể từ niên vụ 2004-2005, các doanh nghiệp xuất
khẩu cà phê bắt đầu áp dụng phương thức hợp đồng kỳ hạn với thị trường cà phê thế giới. Điều
này đã đánh dấu một bước phát triển mới trong xuất khẩu cà phê. Người trồng cà phê và doanh
nghiệp trong nước không còn bị thiếu thông tin hay phải bán với giá quá thấp so với thị trường
thế giới nữa.
Niên vụ 2007- 2008, cả nước xuất khẩu được 1.077.375 tấn cà phê nhân, đạt giá trị kim
ngạch trên 2,087 tỷ USD. Sản lượng cà phê xuất khẩu niên vụ 2007/2008 giảm 6,5% (đạt 1,077
triệu tấn) nhưng do giá xuất khẩu tăng cao (bình quân cả niên vụ đạt 1.937 USD/T, tăng 474


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status