Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Chương 1: TỔNG QUAN
1. Cơ sở hình thành đề tài
Ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cũng
phải đối mặt với nguy cơ từ môi trường kinh doanh, và những trở ngại trong nội tại của
doanh nghiệp trong việc hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho chủ sở hữu. Một trong
những trở ngại đó chính là rủi ro.
Rủi ro có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực, nhưng mặt tiêu cực thường được
quan tâm hơn. Trong doanh nghiệp thường có hai loại rủi ro: rủi ro kinh doanh và rủi ro
tài chính.
Rủi ro kinh doanh là rủi ro gắn liền với các hoạt động kinh doanh do không chắc
chắn về doanh số và chi phí hoạt động. Mối quan tâm của nhà quản trị là ảnh hưởng của
kết cấu chi phí (tỷ trọng giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi) đối với mức độ rủi ro
kinh doanh, về khả năng tạo đủ doanh thu để đạt đến mức đủ tiền thanh toán các định phí
trong sản xuất. Mặt khác, đầu tư vào chi phí cố định để gây ra sự thay đổi trong số lượng
tiêu thụ nhằm khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận (lỗ), khuếch đại rủi ro kinh doanh. Đó là
ảnh hưởng của đòn bẩy hoạt động.
Rủi ro tài chính là rủi ro biến động lợi nhuận trên vốn cổ phần kết hợp với rủi ro
mất khả năng chi trả phát sinh từ việc sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí cố định (nợ dài
hạn và cổ phiếu ưu đãi) trong cơ cấu nguồn vốn. Tác động của chúng được gọi là đòn bẩy
tài chính.
Đòn bẩy như là công cụ để khuếch đại lực, biến một lực nhỏ thành một lực lớn hơn
tác động vào vật thể cần dịch chuyển. Trong vật lý người ta dựa vào điểm tựa cố định để
khuếch đại lực nhằm mục tiêu di chuyển một vật thể nào đó. Thuật ngữ “đòn bẩy” trong
tài chính ám chỉ việc sử dụng chi phí cố định để gia tăng khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, đòn bẩy trong tài chính là con dao hai lưỡi. Nếu hoạt động của doanh
nghiệp tốt, đòn bẩy sẽ khuếch đại cái tốt lên gấp bội lần. Ngược lại, nếu hoạt động doanh
nghiệp xấu thì đòn bẩy cũng khuếch đại cái xấu lên bội lần.
Công ty được phân tích đang trong giai đoạn khởi đầu của chu kỳ kinh doanh, đây
là giai đoạn biểu hiện rõ ràng mức độ cao của rủi ro kinh doanh.Vì vậy rủi ro tài chính đi
kèm nên giữ càng thấp càng tốt nhằm tránh tác động tổng hợp cùng một lúc hai loại rủi ro
Tiểu luận được tiến hành trong học kỳ II năm 3 của đại học khoá V ở trường Đại
học Công Nghiệp Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là tiến hành phân tích tình hình
hoạt động kinh doanh và tài trợ của công ty năm 2012. Ở đây chỉ xem xét tác động của
hai loại đòn bẩy đến khả năng sinh lợi và rủi ro, ngoài ra còn đưa ra những giải pháp tài
trợ nhu cầu vốn trong năm 2013 để phát triển, cải thiện những thực trạng, tình hình tài
chính hiện tại của công ty.
6. Kết quả nghiên cứu:
Tăng thêm hiểu biết của chúng ta về tài chính công ty và phương phân tích tài
chính công ty.
Đưa ra được những giải pháp để khắc phục những khó khăn trên cơ sở phân tích
thực trạng về tài chính của công ty.
Nâng cao khả năng tư duy, khả năng làm việc theo nhóm. Nâng cao tinh thần
trách nhiệm đối với vấn đề tài chính, phân tích tài chính công ty.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tác động của hệ thống đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
1. Khái niệm đòn bẩy và một số khái niệm cơ bản liên quan
1.1 Khái niệm đòn bẩy
Đòn bẩy liên quan đến việc sử dụng các chi phí hoạt động cố định và các chi phí tài
chính cố định của một doanh nghiệp.
Đòn bẩy hoạt động là mức độ sử dụng chi phí hoạt động cố định, công ty đầu tư chi
phí cố định với hy vọng số lượng tiêu thụ sẽ tạo ra doanh thu đủ lớn để trang trải chi phí
cố định và chi phí biến đổi. Giống như chiếc đòn bẩy trong cơ học, sự hiện diện của chi
phí hoạt động cố định gây ra sự thay đổi trong số lượng tiêu thụ để khuếch đại sự thay
đổi lợi nhuận (lỗ). Ảnh hưởng của đòn bẩy thể hiện ở chỗ sự biến đổi nhỏ về doanh thu
(hoặc sản lượng) sẽ làm phát sinh sự biến đổi lớn về lợi nhuận (lỗ).
Đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí cố định.
Đòn bẩy tài chính được định nghĩa như là mức độ theo đó các chứng khoán có thu nhập
cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cấu trúc nguồn vốn của công ty.
Cấu trúc vốn được định nghĩa là tất cả các nguồn vốn trung và dài hạn có sẵn cho
hoạt động thay đổi. Vì tổng số không thay đổi nên khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí
bất biến tính trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi, và ngược lại. Thông thường trên các
báo cáo, chi phí bất biến được thể hiện dưới dạng tổng số. Chi phí bất biến gồm những
chi phí có liên quan đến những máy móc thiết bị, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, chi phí quản
lý, chi phí lương văn phòng, chi phí khấu hao, thuê tài chính dài hạn, chi phí bảo trì, bảo
hiểm, chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo, bồi dưỡng nghiên cứu…
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu
tố khả biến. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm
của chi phí bất biến, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của
yếu tố khả biến. Sự pha trộn giữa phần bất biến và khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất
định.
Ở đây chỉ phân tích trong ngắn hạn bởi vì trong dài hạn tất cả chi phí đều có thể
biến đổi. Qua thời gian, một doanh nghiệp có thể thay đổi quy mô các cơ sở vật chất và
số nhân viên điều hành để đáp ứng với các thay đổi trong doanh thu.
2. Đòn bẩy hoạt động (Operating Leverage)
2.1 Đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động
Dưới tác động của đòn bẩy hoạt động, một sự thay đổi trong số lượng hàng bán đưa
đến kết quả lợi nhuận (lỗ) gia tăng với tốc độ lớn hơn. Để đo lường mức độ tác động của
đòn bẩy hoạt động, người ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy hoạt động (degree of operating
leverage - DOL). Độ bẩy hoạt động được định nghĩa là phần trăm thay đổi của lợi nhuận
hoạt động so với phần trăm thay đổi của sản lượng (hoặc doanh thu).
(1)
QQ
EBITEBIT
DOL
/
/
∆
∆
Q
Q
−−
−
=
−−
−
=
∆−−
−∆
=
∆
−−
−∆
=
)(
)(
)(
)(
)(
)(
)(
)(
(2)
Công thức (2) dùng để tính độ bẩy hoạt động theo sản lượng Q, công thức này chỉ
thích hợp đối với những công ty mà sản phẩm có tính đơn chiếc. Đối với công ty sản xuất
sản phẩm đa dạng và không thể tính thành đơn vị, chúng ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy theo
doanh thu. Công thức tính độ bẩy theo doanh thu như sau:
EBIT
(giảm) ít hơn. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ là những công ty có
mức đầu tư thấp vì vậy tốc độ phát triển chậm, nhưng nếu gặp rủi ro sản phẩm không tiêu
thụ được thì sự thiệt hại cũng sẽ thấp hơn.
Có thể hiểu theo cách khác, độ bẩy kinh doanh cao có thể giúp doanh nghiệp tạo ra
nhiều lợi nhuận hơn từ mỗi doanh số tăng thêm (doanh số biên tế) nếu việc bán một sản
phẩm tăng thêm đó chỉ làm gia tăng chi phí khả biến đơn vị nhỏ. Vì hầu hết các chi phí đã
là chi phí cố định. Do vậy, lợi nhuận biên tế được tăng lên và thu nhập cũng tăng nhanh
hơn.
Trong khoảng thời gian kinh doanh thuận lợi, một đòn bẩy hoạt động cao có thể tạo
thêm lợi ích cho công ty. Nhưng các công ty có các chi phí “cột chặt" trong máy móc, nhà
xưởng, nhà đất và hệ thống kênh phân phối sẽ không thể dễ dàng cắt giảm chi phí khi
muốn điểu chỉnh theo sự thay đổi trong lượng cầu. Vì vậy, nếu nền kinh tế có sự sụt giảm
mạnh, thu nhập có thể “rơi tự do”.
Rủi ro kinh doanh tùy thuộc một phần vào phạm vi định phí của công ty, định phí
của công ty càng cao thì rủi ro kinh doanh càng lớn. Nếu mức cầu sụt giảm, một công ty
với các biến phí có thể điều chỉnh dễ dàng, trong khi công ty với các định phí lớn sẽ mất
tiền.
2.3 Vai trò của đòn bẩy hoạt động đối với rủi ro của doanh nghiệp
Rủi ro doanh nghiệp là rủi ro do những bất ổn phát sinh trong hoạt động của doanh
nghiệp khiến cho lợi nhuận hoạt động giảm. Cần chú ý rằng độ bẩy hoạt động chỉ là một
bộ phận của rủi ro doanh nghiệp. Yếu tố chính của rủi ro doanh nghiệp là sự thay đổi hay
sự bất ổn của doanh thu và chi phí sản xuất, còn đòn bẩy hoạt động làm khuếch đại sự
ảnh hưởng của các yếu tố này lên lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên bản
thân đòn bẩy hoạt động không phải là nguồn gốc của rủi ro, bởi lẽ độ bẩy cao cũng chẳng
có ý nghĩa gì cả nếu doanh thu và cơ cấu chi phí cố định, bởi vì cái gốc là sự thay đổi
doanh thu và chi phí sản xuất. Các nhà đầu tư khôn ngoan đều hiểu rằng dù một doanh
nghiệp có mở rộng phạm vi thay đổi doanh số nhiều hơn mức cho trước cũng không có
nghĩa là đầu tư nhiều hơn đã làm gia tăng chi phí cố định và sau đó là gia tăng đòn bẩy
hoạt động. Do đó sẽ sai lầm nếu như đồng nghĩa độ bẩy hoạt động với rủi ro doanh
nghiệp. Tuy nhiên, độ bẩy hoạt động có tác dụng khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận và do
có công ty nào không sử dụng đòn bẩy tài chính, vậy lý do gì khiến công ty sử dụng đòn
bẩy tài chính?
Trước hết, nợ vay có những lợi thế sau:
− Chi phí trả lãi vay được tính trừ vào lợi nhuận trước khi tính thuế, hạ thấp chi
phí thực của lãi vay.
− Phân tán rủi ro cho vốn chủ sở hữu.
− Không phải lo sợ vấn đề hiệu ứng pha loãng quyền sở hữu nếu phát hành bổ
sung cổ phiếu gọi vốn.
− Công ty có thể chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn tuỳ theo từng thời kỳ.
Tuy nhiên, sức ép vận hành đảm bảo lợi suất cao hơn lãi suất, đảm bảo điểm rơi lợi
nhuận tích lũy đủ thanh toán nợ gốc. Nếu công ty gặp khó khăn tài chính và lợi tức kinh
doanh không đủ bù đắp chi phí về lãi suất, các cổ đông của công ty sẽ phải bù vào chỗ sụt
giảm đó.
Cổ phiếu ưu đãi không phải trả vốn gốc nhưng không được khấu trừ thuế khi tính
thu nhập chịu thuế.
Khi hoạt động kinh doanh hiệu quả, công ty thường quyết định tài trợ vốn từ những
nguồn có chi phí cố định (nợ vay và cổ phiếu ưu đãi), bởi vì người nắm giữ nợ có được
lợi nhuận cố định nên các cổ đông không phải chia sẻ lợi nhuận của họ nếu công ty rất
thành công, có thể tận dụng lợi thế đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận cho cổ đông.
Tác động của hệ thống đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro
Độ bẩy tài chính (DFL)ở mức EBIT
Phần trăm thay đổi EPS
Phần trăm thay đổi EBIT
=
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Cổ phiếu ưu đãi không được khấu trừ thuế khi tính thu nhập chịu thuế làm cho chi
phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi cao hơn chi phí sử dụng nợ, vì thế công ty thích sử dụng
đòn bẩy tài chính bằng nợ hơn cổ phiếu ưu đãi.
3.1 Đo lường tác động của đòn bẩy tài chính
3.1.1 Độ bẩy tài chính (DFL)
phần dẫn đến thay đổi EPS kỳ vọng. Công thức tính EPS được xác định trong mối quan
hệ EBIT và các yếu tố trên là cơ sở phối hợp các phương án tài trợ để đem lại lợi nhuận
trên vốn cổ phần cao nhất.
3.1.2 Các tỷ số đòn bẩy tài chính (Financial leverage ratios)
Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính để đánh giá xem công
ty có vay quá nhiều hay không? Từ đó đưa ra quyết định cho vay vì công ty càng có nhiều
nợ vay thì rủi ro về mặt tài chính càng lớn.
Tác động của hệ thống đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro
Tỷ số nợ =
Tổng nợ
Tổng tài sản
Tỷ số nợ trên vốn cổ phần =
Tổng nợ
Vốn cổ phần
Tỷ số nợ dài hạntrên vốn cổ phần
Nợ dài hạn
Vốn cổ phần
=
Tổng tài sản trên vốn cổ phần
Tổng tài sản
Vốn cổ phần
=
Khả năngthanh toán lãi vay
Lợi nhuận trước thuế & lãi vay
Lãi vay
=
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Đối với công ty, tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp nhà quản trị tài chính lựa chọn cấu
trúc vốn hợp lý cho công ty mình. Các tỷ số đòn bẩy tài chính thông thường là:
− Tỷ số nợ trên tài sản (Debt ratio): tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài sản
=
n
i
ii
PRRE
1
))(()(
( ∑P
i
= 1 )
R
i
: lợi nhuận ứng với biến cố i
P
i
: xác suất xảy ra biến cố i
n: số biến cố có thể xảy ra
Như vậy, lợi nhuận kỳ vọng chẳng qua là trung bình gia quyền của các lợi nhuận có
thể xảy ra với trọng số chính là xác suất xảy ra.
Để đo lường độ phân tán hay sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ
vọng, người ta dùng độ lệch chuẩn (σ). Độ lệch chuẩn chính là căn bậc hai của phương
sai:
[ ]
∑
=
−=
n
i
ii
ro kinh doanh cao có khuynh hướng sử dụng tương đối ít nợ hơn những doanh nghiệp chỉ
có mức rủi ro kinh doanh hạn chế. Nhưng những doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay sẽ
có mức rủi ro tài chính cao hơn doanh nghiệp sử dụng ít nợ vay. Tuy nhiên, những
khuynh hướng vừa nêu trên là bình thường.
Các chỉ số để đo lường rủi ro tài chính là:
− Hệ số biến đổi của EBIT (CV
EBIT
= σ
EBIT
/ E(EBIT))
− Độ bẩy tài chính (DFL)
− Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên cổ phần (σ
EPS
)
− Hệ số biến đổi của EPS ( CV
EPS
= σ
EPS
/ E(EPS))
Cần lưu ý cách tính độ lệch chuẩn của EPS như sau:
EBITEPS
NS
t
NS
PD
NS
tI
EBIT
NS
t
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Sự khác nhau giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ
phần là do công ty có sử dụng nợ. Nếu công ty không có nợ thì hai tỷ số này sẽ bằng
nhau.
Tác động nợ vay lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần thể hiện qua việc so
sánh giữa tỷ suất doanh lợi chung và lãi suất vay nợ. Sự chênh lệch giữa tỷ lệ lợi nhuận
đạt được và chi phí sử dụng vốn vay giúp doanh nghiệp biết được khả năng chi trả lãi vay
để có thể đưa ra quyết định tài trợ từ nợ vay hợp lý, quyết định này tác động lên tỷ suất
lợi nhuận trên vốn cổ phần như thế nào? Đây là vấn đề rất được cổ đông quan tâm.
Gọi NV: nợ vay, i: lãi suất vay, VCSH: vốn chủ sở hữu, TS: tổng tài sản (bằng vốn
cổ phần và nợ vay).
Công ty đầu tư tổng tài sản bằng vốn cổ phần thì toàn bộ lợi nhuận hoạt động sẽ
thuộc về cổ đông. Nếu đầu tư tổng tài sản bằng cả vốn cổ phần lẫn vốn vay thì lợi nhuận
hoạt động sẽ trừ đi chi phí lãi vay trước khi cổ đông nhận được lợi nhuận của mình.
Khi tỷ suất sinh lợi chung lớn hơn lãi suất cho vay:
i
TS
EBIT
VCP
iNVEBIT
TS
VCPEBIT
iNVEBIT
iNV
TS
VCPTSEBIT
i
TS
EBIT
>>
<−⇒
<−
−
⇒
<
.
.
.
0.
)(
=> Kết luận: đòn cân nợ có tiềm năng làm tăng tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ phần
nhưng đồng thời cũng đem lại cho vốn cổ phần một nguy cơ rất lớn: nếu tỷ suất doanh lợi
chung cao hơn lãi suất vay nợ, thì tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ phần sẽ trở nên cao hơn.
Trái lại, nếu tỷ suất doanh lợi chung thấp hơn lãi suất vay nợ, tỷ suất doanh lợi trên vốn
cổ phần sẽ trở nên thấp hơn cả chi phí trả lãi vay.
Tác động của hệ thống đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro
EPS
EBIT
Nợ
CP ưu đãi
CP thường
Điểm bàng quan
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
3.2.2 Phân tích mối quan hệ EBIT (Earnings before interest and taxs) – EPS
(Earnings per share)
Phân tích mối quan hệ EBIT – EPS là phân tích sự ảnh hưởng của những phương
án tài trợ khác nhau đối với lợi nhuận trên cổ phần. Từ sự phân tích này, chúng ta sẽ tìm
ra một điểm bàng quan (indifferent point). Dù phối hợp các phương án tài trợ thế nào thì
công ty cũng kỳ vọng EPS cao, tuy nhiên tại EBIT bàng quan thì phương án tài trợ nào
cũng đều mang lại EPS như nhau.
NS
1
, NS
2
: số cổ phần thông thường ứng với phương án 1 và 2.
Xác định điểm bàng quan bằng phương pháp hình học
Sử dụng đồ thị biểu diễn quan hệ giữa EBIT và EPS để có thể tìm ra được điểm
bàng quan, tức là điểm giao nhau giữa các phương án tài trợ ở đó EBIT theo bất kỳ
phương án nào cũng mang lại EPS như nhau. Để làm điều này, chúng ta xây dựng đồ thị
xác định điểm bàng quan theo ba phương án như hình vẽ sau:
Tác động của hệ thống đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro
EBIT
Nợ vay ít
Nợ vay nhiều
Vốn cổ phần
0
∆EPSA
∆EPSB
∆EBIT
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Đối với mỗi phương án, lần lượt vẽ đường thẳng phản ánh quan hệ giữa EPS với tất
cả các điểm của EBIT. Tìm điểm thứ nhất bằng cách lần lượt cho EPS = 0 để tìm ra EBIT
tương ứng. Điểm thứ hai, cho EBIT bất kỳ để tìm ra EPS tương ứng. Mỗi phương án đều
xác định được hai điểm, nối hai điểm đó lại sẽ tạo thành đường thẳng phản ánh quan hệ
giữa EBIT và EPS của phương án đó.
Ý nghĩa điểm bàng quan
Từ phương pháp hình học cũng như phương pháp đại số, chúng ta tìm thấy điểm
bàng quan giữa hai phương án tài trợ bằng nợ và cổ phiếu thường là X. Điều này có nghĩa
là nếu EBIT thấp hơn điểm bàng quan X thì phương án tài trợ bằng cổ phiếu thường tạo
=
Phần trăm thay đổi EBIT
Phần trăm thay đổi EBIT
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
được bù trừ nhiều hơn do số lượng cổ phiếu đã phát hành sụt giảm khi nợ vay được thay
thế cho vốn cổ phần, đồng thời nó cũng làm tăng rủi ro.
4. Tổng hợp đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính
Khi đòn bẩy tài chính được sử dụng kết hợp với đòn bẩy hoạt động, sẽ tạo ra đòn
bẩy tổng hợp (Combined or total leverage). Như vậy, đòn bẩy tổng hợp là việc công ty sử
dụng kết hợp cả chi phí hoạt động và chi phí tài trợ cố định. Khi sử dụng kết hợp, đòn
bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính có tác động đến EPS khi số lượng tiêu thụ thay đổi
qua hai bước.Bước thứ nhất, số lượng tiêu thụ thay đổi làm thay đổi EBIT (tác động của
đòn bẩy hoạt động). Bước thứ hai, EBIT thay đổi làm thay đổi EPS (tác động của đòn
bẩy tài chính). Để đo lường mức độ biến động của EPS khi số lượng tiêu thụ thay đổi
người ta dùng chỉ tiêu độ bẩy tổng hợp (degree of total leverage – DTL).
Độ bẩy tổng hợp của công ty ở mức sản lượng (hoặc doanh thu) nào đó bằng phần
trăm thay đổi của EPS trên phần trăm thay đổi của sản lượng (hoặc doanh thu).
Về mặt tính toán, độ bẩy tổng hợp (DTL) chính là tích số của độ bẩy hoạt động với
độ bẩy tài chính:
DTL
Q đơn vị hoặc S đồng
= DOL × DFL
Thay vào công thức tính DOL, DFL ta có được:
[ ]
)1/( tPDIEBIT
VS
DTL
S
−−−
−
Cuối năm 1999, Công ty TNHH SX-TM Thiên Long đã đầu tư xây dựng nhà
xưởng mới tại Khu Công Nghiệp Tân Tạo (Quận Bình Tân) và chính thức đưa vào hoạt
động vào tháng 05 năm 2000. Tháng 12/2003, Công ty đầu tư mở rộng hoạt động, nâng
diện tích sử dụng từ 0,5 ha lên hơn 0,6 ha.
Năm 2001, Thiên Long đã được tổ chức DNV (Na Uy) cấp chứng chỉ chất lượng
ISO 9002. Năm 2003, Thiên Long được tái cấp chứng chỉ ISO theo phiên bản mới, ISO
9001:2000.
Tháng 03 năm 2005, Công ty TNHH SX-TM Thiên Long chính thức chuyển đổi
thành Công ty Cổ phần SX-TM Thiên Long với vốn điều lệ là 100 tỷ đồng, thừa hưởng
toàn bộ trách nhiệm và quyền lợi từ Công ty TNHH SX -TM Thiên Long. Việc chuyển
đổi thành công ty cổ phần của Thiên Long nhằm hướng đến huy động được nhiều
nguồn lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, nâng cao giá trị thương hiệu Công ty
trên thị trường và đóng góp hơn nữa vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà.
Tác động của hệ thống đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
Tháng 10 năm 2005, Công ty Cổ phần Thiên Long Miền Bắc được thành lập với
vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng, trong đó Công ty Cổ phần SX-TM Thiên Long góp
51%. Hoạt động chính của Công ty Thiên Long Miền Bắc là sản xuất tập vở, bút chì gỗ
và phấn không bụi.
Trong xu hướng hội nhập và cùng với sự phát triển của cả nước, phát huy các thế
mạnh sẵn có trong lĩnh vực văn phòng phẩm, tháng 12 năm 2006, Công ty tiếp tục
thành lập Công ty Cổ phần Thiên Long Long Thành với vốn điều lệ đăng ký là 40 tỷ
đồng, trong đó Công ty Cổ phần SX-TM Thiên Long góp 51%. Dự án Nhà máy Thiên
Long Long Thành tại Khu công nghiệp Long Thành, tỉnh Đồng Nai với diện tích
30.000m
2
chuyên sản xuất và cung cấp sản phẩm Files hồ sơ với nhiều chủng loại và
kích cỡ khác nhau nhằm phục vụ cho việc lưu trữ của hệ thống văn phòng.
Trong năm 2006, Công ty thực hiện phát hành thêm 2.000.000 cổ phiếu cho cổ
đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ lên thành 120 tỷ đồng.
Mạng lưới phân phối từ Bắc đến Nam đảm bảo sản phẩm của Công ty có mặt tại 63
tỉnh thành trong cả nước. Riêng xuất khẩu, sản phẩm của Công ty đã có mặt đầy đủ tại 6
châu lục trên thế giới. Đặc biệt, các nước ASEAN và Trung Quốc hiện là thị trường rất
tiềm năng đối với Công ty. Ngoài các văn phòng đại diện đã được thiết lập tại Đông
dương và Trung Quốc, trong thời gian tới, Công ty sẽ thành lập một số văn phòng đại
điện tại các nước trong khối ASEAN, khu vực Bắc Mỹ và châu Đại dương nhằm kiện
toàn và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Cùng với những sản phẩm bút bi chất lượng truyền thống đã làm nên tên tuổi Thiên
Long từ những ngày đầu thành lập, Thiên Long đã không ngừng nghiên cứu, cải tiến,
hiện đại hóa công nghệ sản xuất để cung cấp cho thị trường thêm các chủng loại sản
phẩm khác như bút Gel, dụng cụ văn phòng, học cụ và dụng cụ mỹ thuật nhằm phục vụ
định hướng chiến lược trở thành tập đoàn văn phòng phẩm tại Việt Nam.
Con người là nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình phát triển của mọi doanh
nghiệp. Hiểu được điều đó nên trong thời gian qua Công ty không ngừng đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ quản lý cấp cao hiện hữu đồng thời áp dụng các chính sách đãi ngộ hợp lý
nhằm thu hút nguồn lực cấp cao bên ngoài, kiện toàn đội ngũ quản lý cấp cao của Công
ty, tạo tiền đề để Công ty phát triển bền vững trong tương lai. Hiện tại, Ban Quản lý cấp
cao của Thiên Long được đào tạo bài bản trong và ngoài nước và có kinh nghiệm phù
hợp với vị trí công tác. Song song đó, Thiên Long cũng có được đội ngũ cán bộ cấp
trung đã qua đào tạo và đội ngũ công nhân viên lành nghề, tận tụy trong công việc.
Máy móc thiết bị và công nghệ cũng là một trong những yếu tố quan trọng quyết
định đến sự thành công trong kinh doanh hiện đại. Với phương châm cạnh tranh bằng
chất lượng sản phẩm, Thiên Long không ngừng đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ
nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội với các sản
Tác động của hệ thống đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro
Tài chính doanh nghiệp 2 GVHD:Th.s Nguyễn Thị Hải Yến
phẩm cùng loại trong và ngoài nước. Công ty hiện đang sở hữu máy ép nhựa, máy ráp
bút,... được nhập từ các nước có nền công nghệ cao như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc và
Đài Loan.
Quản lý tài chính trong thời gian qua là một trong các ưu điểm của Công ty. Trong
1.3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty
1.3.1 Cơ cấu tổ chức của công ty.
Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiên Long được tổ chức và hoạt động tuân thủ theo
Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 Quốc hội khoá 11 nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005. Các hoạt động của Công ty tuân thủ Luật
doanh nghiệp, các Luật khác có liên quan và Điều lệ Công ty được Đại hội đồng cổ đông
thông qua.
Tác động của hệ thống đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro