Tác động của đòn bẩy hoạt động, đòn bẩy tài chính tới lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp - Pdf 24

Lời mở đầu
Trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thị trường như ngày nay, bất kỳ doanh nghiệp
nào đều mong muốn có được số lợi nhuận cao nhất từ số vốn mà họ đã bỏ ra. Muốn
được vậy thì tiềm lực tài chính là vô cùng quan trọng để các doanh nghiệp đưa ra các
chính sách hợp lý và thành công. Đòn bẩy như là công cụ để khuếch đại lực, biến một
lực nhỏ thành một lực lớn hơn tác động vào vật thể cần dịch chuyển. Trong vật lý
người ta dựa vào điểm tựa cố định để khuếch đại lực nhằm mục tiêu di chuyển một vật
thể nào đó. Thuật ngữ “đòn bẩy” trong tài chính ám chỉ việc sử dụng chi phí cố định để
gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đòn bẩy trong tài chính là con
dao hai lưỡi. Nếu hoạt động của doanh nghiệp tốt, đòn bẩy sẽ khuếch đại cái tốt lên gấp
bội lần và ngược lại. Chính vì vậy việc nghiên cứu tác động của đòn bẩy hoạt động,
đòn bẩy tài chính và đòn bẩy tổng hợp tới lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp sẽ giúp
doanh nghiệp hoạch định chính xác hay đưa ra các biện pháp phù hợp.
I/ Tác động của đòn bẩy hoạt động, đòn bẩy tài chính tới lợi nhuận và rủi ro
của doanh nghiệp
1. Đòn bẩy hoạt động
a. Phân tích ảnh hưởng của đòn bẩy hoạt động
Đòn bẩy hoạt động (operating leverage) là mức độ sử dụng chi phí cố định để tạo ra
sự khuyếch đại khả năng sinh lợi trong hoạt động của công ty. Ở đây chúng ta chỉ phân
tích trong ngắn hạn vì trong dài hạn tất cả các chi phí đều thay đổi.
Chi phí cố định là chi phí không thay đổi khi số lượng thay đổi. Chi phí cố định có
thể kể ra bao gồm các loại chi phí như khấu hao, bảo hiểm, một bộ phận chi phí điện
nước và một bộ phận quản lý...
Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi khi số lượng thay đổi chẳng hạn chi phí nguyên
vật liệu, lao động trực tiếp, một phần chi phí điện nước, hoa hồng bán hàng, một phần
chi phí quản lý hành chính...
Ảnh hưởng của đòn bẩy hoạt động đến lợi nhuận của công ty:
Trong kinh doanh, chúng ta đầu tư chi phí cố định với hi vọng số lượng tiêu thụ sẽ
tạo ra doanh thu đủ lớn để trang trải chi phí cố định và chi phí biến đổi. Giống như
chiếc đòn bẩy trong cơ học, sự hiện diện của chi phí hoạt động cố định gây ra sự thay
đổi trong số lượng tiêu thụ để khuyếch đại sự thay đổi lợi nhuận (hoặc lỗ). Để minh

Phân tích điểm hoà vốn là kỹ thuật phân tích mối quan hệ giữa chi phí cố địn, chi
phí biến đổi, lợi nhuận và số lượng tiêu thụ. Để minh hoạ kỹ thuật phân tích hoà vốn,
chúng ta lấy ví dụ sau đây:
Giả sử công ty gạch ốp lát Thắng Lợi sản xuất một loại gạch đặc biệt có đơn giá bán
trung bình là 255000 đồng/sản phẩm. Chi phí cố định cho sản xuất loại gạch này là 5 tỷ
đồng một năm. Chi phí biến đổi trên mỗi sản phẩm là 175000 đồng/sản phẩm. Chúng ta
sẽ phân tích quan hệ giữa tổng chi phí hoạt động và tổng doanh thu.
Về mặt toán học, để tìm điểm hoà vốn chúng ta thực hiện như sau:
Đặt EBIT = lợi nhuận trước thuế và lãi ( lợi nhuận hoạt động).
P = đơn giá bán
V = chi phí biến đổi của mỗi đơn vị sản phẩm
(P – V) = lãi gộp
Q = số lượng sản xuất và tiêu thụ
F = chi phí cố định
QBE = số lượng hoà vốn
Ở điểm hoà vốn thì doanh thu bằng chi phí và EBIT bằng 0. Do đó:
P.QBE = V.QBE +F
( P – V) QBE = F
QBE = F/ (P – V)
Áp dụng công thức, chúng ta sẽ có điểm hoà vốn QBE =5000000000/ (255000 –
175000) = 62500 sản phẩm. Nếu số lượng tiêu thụ vượt qua điểm hoà vốn thì sẽ có lợi
nhuận, ngược lại nếu số lượng tiêu thụ dưới mức hoà vốn thì công ty bị lỗ. Điểm hoà
vốn QBE như vừa xác định trên đây thể hiện sản lượng hoà vốn. Muốn biết doanh thu
hoà vốn, chúng ta lấy sản lượng hoà vốn nhân với đơn giá bán. Trong ví dụ trên sản
lượng hoà vốn QBE = 62500 sản phẩm và đơn giá bán P = 255000 đồng/sản phẩm. Do
đó doanh thu hoà vốn sẽ là 62500 × 255000 = 15,9375 tỷ đồng.
Đồ thị điểm hoà vốn:
5000

10937,5

=
(2)
Cần lưu ý rằng độ bẩy có thể khác nhau ở những mức sản lượng (hoặc doanh thu)
khác nhau. Do đó, khi nói đến độ bẩy phải chỉ rõ độ bẩy ở mức sản lượng Q, doanh thu
S nào đó. Chúng ta thực hiện thêm một số biến đổi công thức (1) để có thể dễ dàng tính
DOL theo cách khác:
Lợi nhuận hoạt động EBIT = PQ – VQ – F = Q(P-V) – F
Bởi vì đơn giá P, định phí F, và biến phí đơn vị V là cố định nên:
∆EBIT = ∆Q(P-V). Thay vào công thức (1) ta được:
FQVP
VPQ
DOL
FQVP
VPQ
Q
Q
x
FVPQ
VPQ
Q
Q
FVPQ
VPQ
DOL
Q
Q
−−

=
−−

EBIT
FEBIT
FVS
VS
DOL
S
+
=
−−

=
S: doanh thu, V: tổng chi phí khả biến
Giả định có hai công ty cùng doanh thu và lợi nhuận, nếu tăng cùng một lượng
doanh thu như nhau, thì những công ty có tỷ lệ số dư đảm phí lớn, lợi nhuận tăng lên
càng nhiều, vì vậy tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn và độ bẩy hoạt động sẽ lớn hơn. Điều
này cho thấy những công ty mà tỷ trọng chi phí bất biến lớn hơn khả biến thì tỷ lệ số dư
đảm phí lớn, từ đó đòn bẩy hoạt động sẽ lớn và lợi nhuận sẽ rất nhạy cảm với sự thay
đổi doanh thu, sản lượng bán.
Ta có ví dụ như đã xét từ đầu, vận dụng công thức DOL
Q
có:
DOL
72500
= 72500/ (72500-62500)= 7.25
DOL
75000
= 75000/ (75000-62500)= 6
Như vậy độ bẩy hoạt động ở mức sản lượng Q= 72500 bằng 7.25. Điều này có
nghĩa là từ mức sản lượng tiêu thụ 72500 đơn vị, cứ mỗi phần trăm thay đổi sản lượng
tiêu thụ thì lợi nhuận hoạt động sẽ thay đổi 7.25%. Nhưng khi sản lượng tăng từ 72500

nghiệp khiến cho lợi nhuận hoạt động giảm. Cần chú ý rằng độ bẩy hoạt động chỉ là
một bộ phận của rủi ro doanh nghiệp. Các yếu tố khác của rủi ro doanh nghiệp là sự
thay đổi hay sự bất ổn của doanh thu và chi phí sản xuất. Đây là hai yếu tố chính của
rủi ro doanh nghiệp, còn đòn bẩy hoạt động làm khuyếch đại sự ảnh hưởng của các yếu
tố này lên lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên bản thân đòn bẩy hoạt
động không phải là nguồn gốc của rủi ro, bởi lẽ độ bẩy cao cũng chẳng có ý nghĩa gì cả
nếu như doanh thu và cơ cấu chi phí cố định. Do đó, sẽ sai lầm nếu như đồng nghĩa độ
bẩy hoạt động với rủi ro doanh nghiệp, bởi vì cái gốc là sự thay đổi doanh thu và chi
phí sản xuất. Tuy nhiên, độ bẩy hoạt động có tác dụng khuyếch đại sự thay đổi của lợi
nhuận và do đó khuyếch đại rủi ro doanh nghiệp.
Từ giác độ này, có thể xem độ bẩy hoạt động như là một dạng rủi ro tiềm ẩn, nó chỉ
trở thành rủi ro hoạt động khi nào xuất hiện sự biến động DT và CP sản xuất.
f. Ý nghĩa của độ bẩy hoạt động đối với quản trị tài chính
Sau khi nghiên cứu về độ bẩy hoạt động, chúng ta đặt ra câu hỏi: Hiểu biết về độ
bẩy hoạt động của công ty có ích lợi thế nào đối với giám đốc tài chính? Là giám đốc
tài chính, bạn cần biết trước xem ở một mức định phí nào đó, sự thay đổi doanh thu sẽ
ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận hoạt động. Độ bẩy hoạt động chính là công cụ giúp
bạn trả lời câu hỏi này. Khi doanh thu tăng hay giảm X % thì EBIT có chiều hướng
tăng hay giảm X %×DOL. Nếu doanh nghiệp có độ bẩy hoạt động cao, chỉ có biến
động nhỏ trên doanh thu sẽ gây ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận.
Đôi khi biết trước độ bẩy hoạt động, công ty có thể dễ dàng hơn trong việc quyết
định chính sách doanh thu và chi phí của mình. Nhưng nhìn chung, công ty không thích
hoạt động dưới điều kiện độ bẩy hoạt động cao, bởi vì trong tình huống như vậy chỉ
cần một sự sụt giảm nhỏ của doanh thu cũng dễ dẫn đến sụt giảm lớn lợi nhuận.
Trái lại, một số doanh nghiệp dự đoán kinh tế sẽ phát triển tốt, thị phần và doanh số
ngày càng khả quan hơn, sẽ trang bị thêm cơ sở vật chất và máy móc hiện đại, độ bẩy
hoạt động lớn sẽ đẩy mạnh mức gia tăng lợi nhuận.
Sử dụng độ bẩy hoạt động hợp lý có tác dụng khuếch đại gia tăng EBIT. Tuy nhiên
sự khuếch đại này không phải tuyến tính mà theo quy luật giảm dần.
2. Đòn bẩy tài chính

có thể đạt được là 4.000 triệu đồng/năm. Nếu nền kinh tế suy thoái thì doanh thu thuần
đạt 2.000 triệu đồng/năm.
- Chi phí: chi phí cố định là 600 triệu đồng/năm. Tổng chi phí biến đổi là 60% doanh
thu thuần.
- Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%.
Để thực hiện kế hoạch trên, doanh nghiệp dự kiến số vốn cho hoạt động kinh doanh là
3.000 triệu đồng. Công ty xem xét hai phương án huy động vốn:
1. Tài trợ 100% bằng vốn cổ phần theo đó sẽ phát hành 100.000 cổ phiếu phổ
thông.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status